3/11/26

Vị thế, uy tín Việt Nam gia tăng trên trường quốc tế bác bỏ luận điệu xuyên tạc về đường lối đối ngoại của Đảng

 


Tác giả: Tiến sĩ NGUYỄN VĂN THI, Khoa Công tác Đảng, công tác Chính trị, Học viện Chính trị


Trong bối cảnh thế giới tiếp tục biến động phức tạp, bất ổn, khó lường, Việt Nam tiếp tục kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; chủ động, tích cực hội nhập; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; kết hợp chặt chẽ giữa hợp tác và đấu tranh; lấy lợi ích quốc gia-dân tộc và hòa bình, ổn định làm thước đo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Đồng thời kiên quyết đấu tranh với các thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc về đường lối đối ngoại của Đảng.


1. Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, không một quốc gia nào có thể phát triển bền vững nếu tự cô lập mình ra khỏi thế giới; nhưng cũng không thể bảo vệ lợi ích lâu dài nếu làm mất tính độc lập, tự chủ trong hoạch định chính sách chiến lược phát triển của quốc gia.


Nhận thức sâu sắc điều đó, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng tạo, thích ứng với thời cuộc. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”.


Mục tiêu đường lối đối ngoại của Đảng là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; chủ động đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển trên tinh thần là bạn, đối tác tin cậy, thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Phương châm đối ngoại là tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tranh thủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài cho phát triển đất nước.


2. Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị luôn tìm cách xuyên tạc bản chất, mục tiêu và phương thức thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Các đối tượng chống phá cho rằng, Việt Nam “không thực sự độc lập về đối ngoại”, “Việt Nam tham gia sâu vào các cơ chế quốc tế đồng nghĩa với phụ thuộc, đánh mất chủ quyền”; “chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam là “không có chính kiến”; thậm chí họ cho rằng Việt Nam kiên trì giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình là thể hiện sự “yếu thế”, “nhân nhượng”.


Những luận điệu xuyên tạc đó đều không có cơ sở khoa học, trái với những gì diễn ra trong thực tế ở Việt Nam nên cần phải vạch trần, đấu tranh bác bỏ.


Trước hết, cần khẳng định rằng độc lập, tự chủ là khả năng tự quyết định những vấn đề thuộc về lợi ích quốc gia-dân tộc, không để quốc gia khác áp đặt, chi phối; đồng thời chủ động xác định phương thức quan hệ với các nước phù hợp với lợi ích của mình. Độc lập, tự chủ không có nghĩa là đóng cửa hay tự cô lập. Nhất là trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, một quốc gia càng có năng lực hội nhập, càng có nhiều quan hệ đối tác và càng tham gia hiệu quả vào các cơ chế đa phương thì càng có thêm điều kiện để bảo vệ, thúc đẩy lợi ích của đất nước mình.


Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rất rõ mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế: Độc lập, tự chủ là cơ sở để hội nhập chủ động, còn hội nhập hiệu quả góp phần củng cố năng lực độc lập, tự chủ của đất nước. Việc xử lý mối quan hệ này phải đặt lợi ích quốc gia-dân tộc lên hàng đầu, đồng thời phù hợp với luật pháp quốc tế và các nguyên tắc ứng xử chung của Liên hợp quốc. Việc đa phương hóa, đa dạng hóa giúp Việt Nam mở rộng không gian hợp tác, giảm thiểu nguy cơ phụ thuộc, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và tăng khả năng thích ứng trước những biến động quốc tế. Điều đó thể hiện rõ trong việc Việt Nam chú trọng phát triển quan hệ với các đối tác khác nhau, tham gia các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu như: ASEAN, Liên hợp quốc, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)...


Những thông tin, ý kiến xuyên tạc chính sách hòa bình của Việt Nam thể hiện sự “yếu thế”, “nhân nhượng” là cách nhìn võ đoán, phiến diện. Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia đòi hỏi sự tổng hợp của nhiều công cụ: Ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, truyền thông,... Trong đó, sử dụng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế là cách thức quan trọng nhằm kiểm soát bất đồng, hạn chế nguy cơ xung đột và tạo điều kiện để giải quyết vấn đề phức tạp một cách hiệu quả, bền vững, có lý có tình. Một quốc gia có bản lĩnh không lựa chọn đối đầu mà luôn biết xác định đúng lợi ích chính đáng và biết cách sử dụng phù hợp các công cụ để bảo vệ lợi ích đó.


Một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam cũng không nhất thiết phải lựa chọn giữa “theo bên này” hoặc “theo bên kia”. Với Việt Nam, lựa chọn đúng đắn nhất chính là tăng cường quan hệ với nhiều đối tác và chủ động tạo dựng thế cân bằng chiến lược phù hợp với lợi ích quốc gia-dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nguyên tắc xử lý hài hòa lợi ích quốc gia với các lợi ích chung, phù hợp với luật pháp quốc tế; quan tâm giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Điều này đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 72 năm Ngày Bác Hồ về thăm Đền Hùng (19-9-1954 / 19-9-2026) và khánh thành Tượng đài “Bác Hồ với ngày hội non sông” tổ chức tại tỉnh Phú Thọ ngày 19-9-2026: “Đã trải qua nhiều hy sinh để giành độc lập, dân tộc Việt Nam hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình. Chúng ta kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Giữ vững hòa bình để xây dựng đất nước và đóng góp có trách nhiệm cho cộng đồng quốc tế là lợi ích, nguyện vọng của nhân dân ta”.


3. Đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy, nhờ có đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với xu thế thời đại, biết cách khơi dậy sức mạnh dân tộc với phát huy sức mạnh thời đại, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.


Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Công tác đối ngoại đã góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giải quyết được nhiều vấn đề về biên giới trên bộ và trên biển với các nước có liên quan, góp phần củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực”. Từ một đất nước không có sự thừa nhận quốc tế, đến tháng 9-2026, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, trong đó có tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc; có khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 45 đối tác, là thành viên của 70 tổ chức quốc tế quan trọng và 17 hiệp định thương mại tự do. Thành quả đó có sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của bạn bè quốc tế, nhân dân thế giới đã dành cho Việt Nam.


Vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế cũng được bạn bè quốc tế ghi nhận. Chia sẻ tại Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức vào tối 28-8-2026, tại Hà Nội, ngài Raúl Juan Pollak Giampietro, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Đông Uruguay tại Việt Nam khẳng định: Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với những giá trị chung về hòa bình, hợp tác, chủ nghĩa đa phương và phát triển bền vững, đồng thời có những đóng góp quan trọng đối với an ninh quốc tế, nổi bật là việc tích cực tham gia đàm phán Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội).


Ngày 4-9 vừa qua, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 80 đã thông qua Nghị quyết phát động và tuyên bố giai đoạn 2027-2036 là “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững”. Đây là sáng kiến đầu tiên có quy mô lớn nhất do Việt Nam khởi xướng tại Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO). Sáng kiến của Việt Nam được thông qua không chỉ minh chứng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng, Nhà nước Việt Nam là đúng đắn, mà thành công này cho thấy Việt Nam có những đóng góp thiết thực vì lợi ích chung của nhân loại, qua đó tiếp tục khẳng định, nâng tầm vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.


Từ bài học kinh nghiệm thực tiễn trong thực hiện đường lối đối ngoại sau 40 năm đổi mới, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định: “Tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. Quan điểm này thể hiện tư duy, tầm nhìn mới của Đảng về vị thế, vai trò của đối ngoại trong thời đại toàn cầu hóa, qua đó khẳng định sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không chỉ bằng sức mạnh nội lực quốc phòng, an ninh trong nước mà còn bằng uy tín quốc tế, bằng các quan hệ đối tác chiến lược, bằng uy tín, vị thế, sức mạnh mềm của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.


Trong bối cảnh thế giới tiếp tục biến động phức tạp, bất ổn, khó lường, Việt Nam tiếp tục kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; chủ động, tích cực hội nhập; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; kết hợp chặt chẽ giữa hợp tác và đấu tranh; lấy lợi ích quốc gia-dân tộc và hòa bình, ổn định để làm thước đo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Đó cũng là cơ sở để Việt Nam chủ động thích ứng với thời đại, không ngừng củng cố, nâng cao vị thế quốc tế và kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, tạo cơ sở để xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Báo QĐND 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81, ngày 22-9-2026. Ảnh: qdnd.vn

#HSV 

#HSVChongDienBienHoaBinh

2/11/26

Không để khoảng cách số làm hạn chế quyền dân chủ của người dân

 


Ủng hộ việc ứng dụng nền tảng số trong thực hiện dân chủ cơ sở, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ quy trình số liên thông, phân định rạch ròi giữa công khai thông tin, lấy ý kiến và biểu quyết trực tuyến; bảo đảm các giải pháp hỗ trợ người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số để không ai bị bỏ lại phía sau trong kỷ nguyên số.


Sáng 30/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi).


Bảo đảm khả năng kiểm chứng và xử lý sự cố đối với kết quả điện tử

Góp ý kiến vào dự thảo Luật, đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn Vĩnh Long) nhấn mạnh thực hiện dân chủ ở cơ sở trên nền tảng số là vấn đề mới, có ý nghĩa lâu dài, vì vậy việc bổ sung phương thức số là cần thiết.


Tuy nhiên, để bảo đảm rõ ràng và thống nhất khi thực hiện, đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 4, Điều 7 nguyên tắc: "Việc thực hiện dân chủ trên nền tảng số không được làm mất hoặc hạn chế quyền của người dân được lựa chọn các hình thức tham gia dân chủ khác theo quy định của pháp luật".


Dự thảo Luật đã mở khá rộng các hình thức số như: tại điểm b, điểm i khoản 1 Điều 11, thông tin có thể được công khai qua cổng thông tin điện tử, nền tảng số, mạng viễn thông và mạng xã hội. Theo điểm e, điểm g khoản 1 Điều 18, nhân dân có thể tham gia ý kiến qua cổng thông tin điện tử, ứng dụng số, mạng viễn thông và mạng xã hội. Trong khi đó, điểm c khoản 1 Điều 14 cho phép biểu quyết trực tuyến.


Dẫn chiếu cụ thể các quy định trên, đại biểu Thạch Phước Bình đề nghị cần phân biệt rõ: công khai là để người dân biết, lấy ý kiến là để cơ quan có trách nhiệm tổng hợp, tiếp thu và giải trình, còn biểu quyết là hành vi thể hiện ý chí có thể trực tiếp làm hình thành quyết định của cộng đồng dân cư. Ba hoạt động này không thể có cùng giá trị pháp lý.


"Đề nghị Điều 14 và Điều 18 phải làm rõ đâu là lấy ý kiến; đâu là biểu quyết; giá trị pháp lý của từng hình thức; và điều kiện để một kết quả điện tử được coi là hợp lệ. Một lượt 'đồng ý' trên mạng xã hội không thể mặc nhiên được coi là một phiếu biểu quyết có giá trị pháp lý", đại biểu Thạch Phước Bình nhấn mạnh.


Đại biểu đoàn Vĩnh Long cũng đề nghị biểu quyết trực tuyến phải bảo đảm "đúng người, đúng quyền, đúng một lần". Đồng thời, dự thảo Luật cần bổ sung yêu cầu về khả năng kiểm chứng, kiểm toán và xử lý sự cố đối với kết quả điện tử.


Dân chủ ở cơ sở phải được đo bằng sự hài lòng của người dân

Liên quan nội dung chuyển đổi số gắn liền với việc phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân ở cơ sở, đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh) đề cập cụ thể khái niệm các thành tố trong phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".


Về nguyên tắc "dân biết", đại biểu nhấn mạnh người dân phải được biết đầy đủ, kịp thời, rõ ràng và dễ tiếp cận thông tin. Việc công khai không nên dừng lại ở việc đăng tải văn bản lên các nền tảng số. Điều cốt lõi là người dân phải nắm và hiểu được những nội dung liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.


Đại biểu kiến nghị bổ sung tại Điều 12 trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc công khai thông tin trên nền tảng số theo tiêu chí dễ tìm, dễ hiểu, dễ kiểm chứng; đồng thời duy trì các hình thức công khai truyền thống phù hợp cho những người dân chưa có điều kiện sử dụng công nghệ.


Về nguyên tắc "dân bàn", đại biểu cho rằng việc dự thảo mở rộng các hình thức họp lấy ý kiến nhân dân qua nền tảng số là rất đáng ghi nhận, nhưng điều quan trọng không chỉ là tạo điều kiện đóng góp ý kiến mà còn phải bảo đảm mọi ý kiến đóng góp đều được ghi nhận, xem xét và phản hồi công khai.


Từ đó, đại biểu đề nghị cần quy định rõ tại Điều 19 về thời hạn hoàn thành việc tổng hợp, tiếp thu, giải trình trong trường hợp pháp luật chuyên ngành chưa có quy định. Việc công khai này cần thực hiện chi tiết theo từng nhóm vấn đề, nêu rõ nội dung nào được tiếp thu, nội dung nào không được tiếp thu kèm theo lý do cụ thể để nhân dân thuận tiện tra cứu và giám sát.


Về nguyên tắc "dân làm", theo đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc, chuyển đổi số cần giúp người dân không chỉ tham gia vào công việc chung mà còn trực tiếp theo dõi được tiến độ, chất lượng và kết quả thực hiện. Đề nghị cần cụ thể hóa cơ chế theo dõi kiến nghị trên các hệ thống số hiện hữu: từ việc cấp mã tra cứu, xác nhận tiếp nhận, cập nhật cơ quan thụ lý, thời hạn giải quyết theo quy định, cho đến tiến độ và kết quả thực hiện cuối cùng.


Bên cạnh đó, khi chuyển tiếp kiến nghị hoặc xảy ra tình trạng chậm trễ xử lý, hệ thống phải thông báo rõ đơn vị tiếp nhận, nguyên nhân và đơn vị chịu trách nhiệm theo dõi. Hệ thống cũng cần phân biệt rõ ràng giữa trạng thái "đã chuyển", "đã trả lời" với kết quả giải quyết thực tế và việc thực thi kết quả đó. Song song đó, phải chú trọng công tác bảo vệ dữ liệu cá nhân.


Về nguyên tắc "dân thụ hưởng", nữ đại biểu khẳng định đây chính là thước đo cuối cùng đánh giá hiệu quả của công cuộc chuyển đổi số trong thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đại biểu đề xuất cụ thể hóa tại khoản 6 Điều 7 các tiêu chí định lượng về tỷ lệ kiến nghị được xử lý đúng hạn, mức độ hài lòng của nhân dân và gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả thực hiện. Ngoài ra, cần có giải pháp bảo đảm cho người cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng chưa có điều kiện tiếp cận công nghệ vẫn thực hiện đầy đủ quyền dân chủ thông qua các hình thức phù hợp.


Chuyển đổi số phải đi cùng phát huy dân chủ thực chất

Qua nghiên cứu, đại biểu Chamaléa Thị Thủy (Đoàn Khánh Hòa) đánh giá dự thảo đã có bước tiến lớn khi bổ sung nguyên tắc: "Người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi... được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện dân chủ ở cơ sở", đồng thời mở rộng hình thức thực hiện dân chủ trên nền tảng số tại khoản 5 Điều 3 và khoản 4 Điều 7.


Tuy nhiên, theo đại biểu, việc mở rộng dân chủ số nếu không gắn liền với giải pháp hạ tầng và điều kiện tiếp cận thực tế sẽ dễ tạo ra khoảng cách về quyền giữa các vùng miền.


Dẫn chiếu từ thực tế, đại biểu nêu rõ hiện nay tại các thôn, các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hoặc các vùng hải đảo, hạ tầng viễn thông, sóng 4G/5G chưa thật sự đồng đều; tỷ lệ người dân sở hữu thiết bị thông minh và kỹ năng thao tác trên môi trường số còn hạn chế nhất định; một bộ phận bà con dân tộc thiểu số chưa thạo tiếng phổ thông. Nếu chính quyền cơ sở chỉ đăng tải thông tin hoặc tổ chức lấy ý kiến qua cổng thông tin điện tử, ứng dụng số thì nguy cơ một bộ phận đồng bào khó thực hiện một cách thực chất quyền dân chủ ở cơ sở.


Từ phân tích trên, đại biểu kiến nghị dự thảo luật cần thể hiện rõ nguyên tắc: "Việc ứng dụng nền tảng số phải thực hiện song song với việc duy trì ổn định, hiệu quả các phương thức dân chủ trực tiếp truyền thống (như họp thôn, tổ dân phố)" để không làm thu hẹp quyền của người dân khi chưa đủ điều kiện tiếp cận công nghệ.


Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư hạ tầng số vùng khó khăn; xây dựng các cổng thông tin, ứng dụng số cơ sở có giao diện đơn giản, thân thiện, có tích hợp hỗ trợ âm thanh và song ngữ (tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số phổ biến ở địa phương).


Thống nhất với việc mở rộng các hình thức lấy ý kiến, nhất là ứng dụng công nghệ số, đại biểu Nguyễn Thị Kim Thoa (Đoàn Vĩnh Long) cũng cho rằng việc lựa chọn hình thức cần tính đến đặc điểm, điều kiện và khả năng tham gia của người dân, không chỉ căn cứ vào điều kiện tổ chức của địa phương.


“Người dân có điều kiện lao động, trách nhiệm gia đình và mức độ chịu tác động khác nhau. Đặc biệt, đối với các chính sách về môi trường, an sinh và dịch vụ công thiết yếu, việc tiếp nhận đầy đủ góc nhìn của phụ nữ, nam giới và người trực tiếp chịu tác động sẽ giúp chính sách sát thực tiễn hơn”, đại biểu Nguyễn Thị Kim Thoa lý giải.


Theo đó, đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 2 Điều 18 căn cứ lựa chọn hình thức lấy ý kiến phù hợp với điều kiện và khả năng tiếp cận của người tham gia, bảo đảm cơ hội tham gia bình đẳng, thực chất, không phát sinh thêm thủ tục. Đồng thời, khi ứng dụng công nghệ số, cần chú trọng phòng ngừa các hành vi tác động làm sai lệch kết quả, bảo đảm ý kiến được ghi nhận trung thực, khách quan và có thể kiểm chứng.


Phát biểu giải trình về việc thực hiện dân chủ trên nền tảng số, Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Tiến Hải cho biết dự thảo Luật bổ sung các quy định về nguyên tắc thực hiện, quyền và nghĩa vụ của công dân khi tham gia ý kiến, bàn và quyết định bằng hình thức trực tuyến; quy định biện pháp bảo đảm và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức trong việc xây dựng, thiết lập nền tảng số.


Trong đó, dự thảo chú trọng các biện pháp để người dân dễ tiếp cận, tham gia phản ánh, kiến nghị và giám sát trên môi trường số; bảo đảm tính xác thực, lưu trữ và bảo mật thông tin, dữ liệu cũng như kết quả thực hiện dân chủ.


Bộ trưởng cũng nêu rõ, việc thực hiện dân chủ trên nền tảng số được triển khai song song với các phương thức truyền thống, bảo đảm quyền tiếp cận và tham gia của người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống tại khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn. Cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp tục rà soát kỹ lưỡng, quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin, không tạo ra khoảng trống pháp lý hay rào cản làm tăng chi phí và hạn chế quyền của người dân.


#HSV

#HSVCHINHSACH

#TruyenThongChinhSach

#QuocHoi

#KyHopThu2QuocHoiKhoaXVI

#ChuyenDoiSo