1/7/26

Sáng 1/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp do Bộ Chính trị tổ chức.

 


Thông tin Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước:


"Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương,


Thưa toàn thể các đồng chí dự hội nghị.


Sau một buổi sáng làm việc khẩn trương, nghiêm túc, dân chủ và trách nhiệm, Hội nghị đã hoàn thành toàn bộ nội dung chương trình đề ra. Các ý kiến phát biểu rất phong phú, sâu sắc, thẳng thắn, cần nghiên cứu, tiếp thu, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp trong giai đoạn tới.


Chúng ta thống nhất cao và khẳng định: Chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển đất nước. Đây là cuộc cải cách có phạm vi rất rộng, rất khó, rất quyết liệt, tác động đến hầu hết các cơ quan, các cán bộ, công chức, người lao động trong hệ thống chính trị, từ Trung ương đến cơ sở. Sau một năm, chúng ta đã đi qua giai đoạn sắp xếp tổ chức ban đầu. Nhiệm vụ tiếp theo là chuyển trọng tâm sang nâng cao chất lượng vận hành, năng lực phục vụ và năng lực kiến tạo phát triển của bộ máy mới.


Những kết quả nổi bật đã được thể hiện trong báo cáo khá đầy đủ và chi tiết. Tôi nêu khái quát 5 kết quả lớn như sau:


Thứ nhất, bộ máy của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn hơn, đồng bộ hơn. Nhiều đầu mối, tầng nấc trung gian được cắt giảm, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan từng bước được rà soát, điều chỉnh và làm rõ hơn. Việc tổ chức lại các cơ quan Đảng, cơ quan hành pháp, cơ quan dân cử, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị sự nghiệp công lập đã được triển khai với quyết tâm chính trị cao, cơ bản bảo đảm tiến độ, yêu cầu đề ra.


Thứ hai, việc hoàn thiện thể chế pháp luật, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, cải cách thủ tục hành chính và môi trường kinh doanh, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu đã được đẩy mạnh. Nhiều cơ chế mới, quy trình mới, phương thức giao việc, đánh giá kết quả và giám sát mới đang được hình thành.


Thứ ba, việc vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp bước đầu ổn định. Các hoạt động quản lý nhà nước, cung ứng dịch vụ công, giải quyết thủ tục hành chính, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, hoạt động của các cơ quan tư pháp, và trật tự, an toàn xã hội cơ bản được duy trì liên tục, không để xảy ra khoảng trống trong quản lý. Cấp tỉnh, cấp xã từng bước thích ứng với chức năng, nhiệm vụ và phương thức vận hành mới.


Thứ tư, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có nhiều đổi mới. Cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị đã chủ động ban hành quy chế làm việc, quy trình phối hợp, giao ban, phân công trách nhiệm, hỗ trợ cơ sở, giải quyết những vấn đề phát sinh. Công tác sắp xếp, bố trí, đánh giá cán bộ có nhiều đổi mới, chú trọng năng lực, trình độ gắn với vị trí việc làm; quản trị gắn với dữ liệu, tiến độ và kết quả công việc.


Thứ năm, công tác tuyên truyền, quán triệt, giáo dục chính trị, tư tưởng và vận động tạo đồng thuận xã hội được triển khai khá bài bản. Đội ngũ công chức, viên chức, người lao động ảnh hưởng do sắp xếp bộ máy, nhìn chung, tư tưởng ổn định, cán bộ chấp hành sự phân công của tổ chức, Nhân dân đồng thuận và ủng hộ chủ trương lớn của Đảng.


Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao nỗ lực của các cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các bộ, ngành, địa phương, lực lượng vũ trang và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong cả nước. Trong điều kiện công việc rất lớn, thời gian rất gấp, yêu cầu rất cao, các đồng chí đã thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự tận tâm, ý thức tổ chức kỷ luật và quyết tâm vượt khó rất đáng trân trọng.


Tuy nhiên, chúng ta không được chủ quan, thỏa mãn. Kết quả đạt được mới là bước đầu. Cuộc cải cách này còn nhiều việc phải tiếp tục thực hiện với quyết tâm cao hơn, cách làm khoa học hơn và tinh thần đổi mới mạnh mẽ hơn.


Hội nghị đã thống nhất nhận diện một số hạn chế, vướng mắc lớn cần tập trung khắc phục. Ở đây tôi chỉ tóm tắt 07 vấn đề lớn:


Thứ nhất, thể chế liên quan đến tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, cơ chế vận hành mới ở một số lĩnh vực chưa thật sự đồng bộ. Có nơi nhiệm vụ đã được giao nhưng hướng dẫn chưa kịp thời, có nơi thẩm quyền đã được phân cấp nhưng nguồn lực, nhân lực, công cụ quản lý chưa đi cùng.


Thứ hai, thể chế pháp luật hiện hành còn chưa đồng bộ, thống nhất, nhiều quy định còn chưa rõ ràng, nhất là pháp luật liên quan đến hoạt động của chính quyền địa phương trong một số lĩnh vực như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; pháp luật về đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài nguyên rừng, pháp luật về tài chính, ngân sách,… Chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp giữa một số cơ quan trong hệ thống chính trị chưa thật sự rõ ràng, đồng bộ; nhiều trường hợp thẩm quyền chưa tương xứng với nguồn lực được giao và điều kiện thực thi; một số mô hình tổ chức và vận hành sau sắp xếp còn đang trong quá trình hoàn thiện.


Thứ ba, năng lực thực thi ở cơ sở, nhất là cấp xã, chưa theo kịp yêu cầu mới. Khối lượng công việc chuyển xuống cơ sở rất lớn, trong khi cán bộ chuyên sâu về đất đai, quy hoạch, xây dựng, tài chính, đầu tư, công nghệ thông tin, thanh tra, quản lý đô thị, các lĩnh vực phức tạp khác còn thiếu. Nhiều cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều việc, chịu áp lực lớn và đối mặt với rủi ro công vụ. (theo đánh giá chỉ có 53% cán bộ cấp tỉnh, 30% cán bộ cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ).


Thứ tư, định mức biên chế, tổ chức bộ máy và cơ chế phân bổ nguồn lực ở một số nơi còn mang tính bình quân, chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt rất lớn về quy mô dân số, diện tích, tính chất đô thị, điều kiện miền núi, biên giới, hải đảo, mức độ phát triển và khối lượng công việc thực tế.


Thứ năm, hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, hạ tầng số còn hạn chế; việc chuyển đổi số còn chậm và chưa thật sự đồng bộ. Dữ liệu chuyên ngành còn phân tán; một số hệ thống phần mềm chưa liên thông, chưa ổn định (trung tâm dữ liệu quốc gia mới kết nối 5/12 cơ sở dữ liệu chiến lược và 60/104 cơ sở dữ liệu chuyên ngành hay cả nước có 106 triệu thửa đất nhưng chỉ có 23,5 triệu thửa đạt tiêu chí "đúng, đủ, sạch, sống", dữ liệu đất đai chưa được chuẩn hóa thì quản lý dựa trên dữ liệu sẽ rất khó khăn); cán bộ cơ sở phải sử dụng nhiều hệ thống, nhiều phần mềm khác nhau, làm giảm hiệu quả vận hành, tăng áp lực xử lý công việc.


Thứ sáu, việc xử lý tài sản công dôi dư, bố trí trụ sở làm việc, chỉnh lý và số hóa hồ sơ, tài liệu lưu trữ còn chậm ở nhiều nơi. Đây vừa là vấn đề trước mắt cần giải quyết, vừa là nguồn lực rất lớn cần được khai thác hiệu quả cho phát triển.


Thứ bảy, sau khi không còn cấp huyện, yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát giữa cấp tỉnh với cấp cơ sở đặt ra nhiều vấn đề mới. Nếu không đổi mới mạnh mẽ phương thức chỉ đạo, dễ dẫn đến hai nguy cơ: Hoặc cấp trên không nắm chắc cơ sở, hoặc cấp dưới lại phải xin ý kiến quá nhiều, làm giảm tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm.


Từ những kết quả, hạn chế và yêu cầu thực tiễn đặt ra, tôi đề nghị giai đoạn tới, trọng tâm là nâng cao chất lượng vận hành của mô hình mới, cần tập trung thực hiện tốt 10 nhiệm vụ trọng tâm.


Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế về pháp luật và tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Phải tiếp tục rà soát, hoàn thiện đồng bộ pháp luật tất cả các lĩnh vực, và văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm thống nhất, rõ ràng, minh bạch, thuận lợi cho tổ chức thực hiện ở cả 3 cấp chính quyền (không để tình trạng luật này thông mà luật kia lại nghẽn). Việc sửa luật phải xuất phát từ điểm nghẽn thực tế. Các cơ quan Trung ương, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương phải tiếp tục rà soát toàn diện các quy định, quy chế, quy trình liên quan đến tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và quan hệ phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị. Không để chồng chéo, trùng lắp, khoảng trống hoặc tình trạng nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng không rõ cơ quan nào chịu trách nhiệm cuối cùng.


Thứ hai, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội. Cấp ủy phải lãnh đạo bằng định hướng chiến lược, bằng thể chế, bằng công tác cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả. Phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, nhưng không làm thay, không buông lỏng, không can thiệp hành chính không cần thiết vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động tổ chức Đảng ở cơ sở, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng thực sự là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết, quy tụ, phát huy sức mạnh cán bộ, đảng viên và Nhân dân.


Thứ ba, hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp. Cấp tỉnh tập trung vai trò chiến lược, quy hoạch, điều phối, phân bổ nguồn lực, tổ chức không gian phát triển, kiểm tra, giám sát và liên kết vùng. Cấp xã phải được tổ chức như tuyến đầu của quản trị công: Tiếp nhận, xử lý và phản hồi kịp thời nhu cầu của người dân, doanh nghiệp; đồng thời phát hiện sớm các vấn đề về an sinh, trật tự, đất đai, xây dựng, môi trường, dịch vụ công và các rủi ro phát sinh tại địa bàn. Tiếp tục rà soát tổ chức bộ máy, biên chế, cơ chế phân bổ nguồn lực phù hợp quy mô dân số, diện tích, mức độ đô thị hóa, đặc điểm vùng miền và khối lượng công việc, không áp dụng cào bằng. Nghiên cứu mô hình đơn vị hành chính đô thị hạt nhân trong tỉnh, thành phố, có thẩm quyền và công cụ phù hợp để điều phối hạ tầng, dịch vụ công, không gian kinh tế trọng điểm, liên kết vùng và hình thành các cực tăng trưởng mới.


Thứ tư, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với bảo đảm nguồn lực và kiểm soát quyền lực. Đây là yêu cầu rất quan trọng. Phân cấp, phân quyền phải thực chất, phải bảo đảm cấp được giao nhiệm vụ có đủ thẩm quyền, nhân lực, kinh phí, công cụ quản lý để thực hiện. Khắc phục tình trạng giao việc xuống dưới nhưng không giao đủ điều kiện cần thiết. Phân cấp không phải là chuyển gánh nặng xuống cấp dưới mà là chuyển thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu, công cụ thực thi và trách nhiệm một cách rõ ràng, minh bạch, có kiểm soát. Đồng thời, phải tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.


Thứ năm, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của mô hình mới. Đây là nhiệm vụ then chốt của then chốt. Coi năng lực thực thi của cấp xã là thước đo kiểm định thành công của mô hình mới. Khẩn trương hoàn thiện vị trí việc làm, đánh giá năng lực, sở trường, kinh nghiệm của cán bộ để bố trí đúng người, đúng việc. Tăng cường cán bộ có năng lực, chuyên môn sâu về cơ sở, nhất là lĩnh vực đất đai, xây dựng, quy hoạch, đầu tư, tài chính, công nghệ thông tin, thanh tra, tư pháp, giáo dục, y tế, quản lý đô thị, v.v… Xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã, luân chuyển, tổ công tác hỗ trợ chuyên môn, hướng dẫn trực tiếp tại cơ sở. Đồng thời, có chính sách tiền lương, phụ cấp, điều kiện làm việc và cơ chế khuyến khích phù hợp để cán bộ yên tâm công tác, nhất là địa bàn khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo.


Thứ sáu, nâng cao chất lượng hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, hạ tầng số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn hệ thống chính trị. Phải coi dữ liệu là tài sản, là nguồn lực, là nền tảng của quản trị hiện đại. Khẩn trương chuẩn hóa, tích hợp, chia sẻ, khai thác dữ liệu, khắc phục tình trạng phần mềm cục bộ, dữ liệu phân tán, cán bộ phải thao tác trên quá nhiều hệ thống. Chuyển đổi số trong mô hình mới là thiết kế lại phương thức điều hành, từ dữ liệu gốc và hồ sơ công việc đến quy trình liên thông, bảng điều hành theo thời gian thực và cơ chế giám sát trách nhiệm. Chuyển đổi số phải nâng cao hiệu suất công việc, giải quyết thủ tục nhanh hơn, chính xác hơn, chi phí thấp hơn, thiết thực hơn với người dân, doanh nghiệp. Phải giảm tối đa việc yêu cầu người dân, doanh nghiệp kê khai lặp lại những thông tin Nhà nước đã có.


Thứ bảy, phát huy mạnh mẽ hơn vai trò của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Sau sắp xếp, MTTQ và các đoàn thể phải thực sự đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập trung về cơ sở, cần có cơ chế tiếp nhận, tổng hợp và phản hồi thường xuyên ý kiến của người dân, doanh nghiệp về chất lượng phục vụ của bộ máy mới, coi đây là một kênh giám sát xã hội quan trọng đối với hiệu quả vận hành của chính quyền cơ sở, tăng cường đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.


Thứ tám, xử lý hiệu quả tài sản công, trụ sở và hồ sơ, tài liệu sau sắp xếp. Phải coi đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Khẩn trương hoàn thiện phương án xử lý từng cơ sở nhà, đất, tài sản công dôi dư. Tài sản còn sử dụng được phải được tận dụng hiệu quả. Tài sản không còn phù hợp cần chuyển đổi công năng, điều chuyển hoặc xử lý minh bạch, đúng quy định; ưu tiên phục vụ giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, an sinh xã hội và các nhu cầu thiết thực của cộng đồng. Đối với hồ sơ, tài liệu, phải có kế hoạch bảo quản, số hóa và khai thác phù hợp; tuyệt đối không để thất lạc, hư hỏng, lãng phí hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của tổ chức, người dân và doanh nghiệp.


Thứ chín, đổi mới mạnh mẽ công tác kiểm tra, giám sát và phương thức chỉ đạo, điều hành. Phải tăng cường nắm tình hình từ cơ sở, kết hợp kiểm tra trực tiếp với giám sát dựa trên dữ liệu, phát hiện sớm, xử lý sớm các vấn đề, không để những khó khăn nhỏ tích tụ thành những vấn đề lớn. Cần xây dựng bộ chỉ số theo dõi vận hành mô hình mới, bao gồm thời gian xử lý thủ tục hành chính, tỉ lệ hồ sơ đúng hạn, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp, tỉ lệ công việc cấp xã phải xin ý kiến cấp trên, số lượng vụ việc phát sinh được phát hiện sớm và xử lý sớm. Có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung khi đã làm đúng thẩm quyền, đúng quy trình, công khai, minh bạch, có căn cứ chuyên môn và không vụ lợi. Đồng thời xử lý nghiêm hành vi lợi dụng đổi mới để vi phạm pháp luật, trục lợi hoặc né tránh trách nhiệm.


Thứ mười, đối với các lĩnh vực liên ngành còn giao thoa, cần khẩn trương rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ theo nguyên tắc: Một việc phải có một cơ quan chủ trì, một đầu mối chịu trách nhiệm chính; một nguồn dữ liệu dùng chung; một quy trình phối hợp liên thông; đồng thời có cơ chế kiểm tra, giám sát và quy trách nhiệm rõ ràng. Trước mắt, phải tập trung hoàn thiện phương án phân định trách nhiệm, xử lý dứt điểm các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc chưa đồng bộ, bảo đảm kế thừa, ổn định, liên tục, không để khoảng trống trong quản lý nhà nước, nhất là ở các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và đời sống Nhân dân.


Chúng ta tiếp tục đổi mới, hoàn thiện công tác đánh giá cán bộ, phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng người có năng lực nổi trội; trên cơ sở kết quả đánh giá, thực hiện nguyên tắc cán bộ có vào, có ra, có lên, có xuống; xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu quản trị mới, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường cán bộ cho địa bàn khó khăn, lĩnh vực trọng yếu, quyết tâm thực hiện các mục tiêu đã đề ra.


Các đồng chí thân mến,


Cuộc cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là công việc rất lớn, rất khó và phải được tiến hành kiên trì, bài bản, khoa học. Không thể nóng vội, chủ quan, song cũng không thể dừng lại hoặc chần chừ trước những bất cập được thực tiễn chỉ ra.


Tôi đề nghị các cơ quan có liên quan khẩn trương tiếp thu đầy đủ ý kiến của Hội nghị, hoàn thiện báo cáo, dự thảo kết luận và chương trình hành động. Mỗi nhiệm vụ phải rõ nội dung, rõ cơ quan chủ trì, rõ cơ quan phối hợp, rõ thời hạn, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm. Đồng thời, phải rõ chỉ số đánh giá kết quả, rõ cơ chế theo dõi tiến độ và rõ chế độ báo cáo định kỳ để kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh. Những việc thuộc thẩm quyền của Trung ương phải được nghiên cứu, quyết định kịp thời. Những việc thuộc trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương phải được triển khai ngay, không để ách tắc, không để kéo dài, không để cơ sở phải chờ đợi. Những công việc đã được phân cấp cho cấp xã phải được hướng dẫn kịp thời, cụ thể, không để cơ sở phải chờ đợi, lúng túng trong tổ chức thực hiện.


Tinh thần nhất quán là: Tổ chức mới phải tạo ra năng lực mới, cơ chế phân cấp- phân quyền mới phải song hành với trách nhiệm mới, dữ liệu mới phải tạo ra phương thức quản trị mới, và bộ máy mới phải đem lại chất lượng phục vụ mới cho người dân và doanh nghiệp. Tôi tin tưởng rằng mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền 3 cấp sẽ tiếp tục được hoàn thiện, vận hành hiệu quả, góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, liêm chính, kiến tạo và phục vụ nhân dân.


Chúc các đồng chí sức khỏe, tiếp tục phát huy tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, đổi mới, quyết tâm đưa chủ trương cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn nữa.


Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!".

30/6/26

Khi đối ngoại trở thành động lực phát triển




Trong dòng chảy phát triển của đất nước, đối ngoại chưa bao giờ giữ vị trí quan trọng như hiện nay. Từ tư duy bảo vệ không gian phát triển, đường lối đối ngoại của Đại hội XIV của Đảng đã phát triển lên một tầm cao mới khi xác định đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” bên cạnh quốc phòng, an ninh, trực tiếp góp phần kiến tạo năng lực phát triển quốc gia. Những hoạt động đối ngoại sôi động gần đây đã phản ánh rõ tinh thần đó.
Khi tiếp Quyền Bộ trưởng Bộ Hải quân Hoa Kỳ Hùng Cao, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam luôn coi Hoa Kỳ là đối tác có tầm quan trọng chiến lược hàng đầu, đồng thời mong muốn hai bên tiếp tục triển khai hiệu quả khuôn khổ Đối tác Chiến lược toàn diện, đưa quan hệ hai nước phát triển ngày càng thực chất, sâu rộng và hiệu quả, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Hoa Kỳ mở rộng các dự án tẩy độc dioxin, rà phá bom mìn, hỗ trợ người khuyết tật, tăng cường chuyển giao công nghệ, cung cấp thông tin, kỷ vật giúp tìm kiếm và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ Việt Nam.
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước Việt Nam nhấn mạnh, đây không chỉ là những hoạt động hợp tác mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà còn là minh chứng cho những nỗ lực hàn gắn, hòa giải và xây dựng lòng tin giữa hai nước.
Quyền Bộ trưởng Hùng Cao cũng khẳng định Hoa Kỳ mong muốn tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trên các bình diện song phương, khu vực và toàn cầu, đồng thời bày tỏ mong muốn tiếp tục mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực an ninh hàng hải, nâng cao năng lực, hỗ trợ nhân đạo, ứng phó thiên tai và các thách thức chung của khu vực. Ông Hùng Cao cho rằng những thành tựu đạt được trong hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh là minh chứng rõ nét cho tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai giữa hai nước trong nhiều thập kỷ qua, giúp hàn gắn và chữa lành vết thương do chiến tranh để lại.
Chương trình Đối tác Thái Bình Dương - Bạn bè Thái Bình Dương 2026 được tổ chức mới đây tại Quảng Trị, vùng đất từng chịu nhiều đau thương bởi chiến tranh. Chương trình có sự tham gia của hàng trăm quân nhân, chuyên gia Hoa Kỳ cùng các cơ quan, đơn vị của Việt Nam. Hợp tác trong y tế, cứu trợ nhân đạo, phòng chống thiên tai, xử lý bom mìn hay giao lưu cộng đồng trong khuôn khổ Chương trình cho thấy đối ngoại ngày nay đã đi vào cuộc sống, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và góp phần kết nối con người, tăng cường hiểu biết và củng cố tình hữu nghị giữa các quốc gia.
Thực tiễn cũng cho thấy, đối ngoại quốc phòng ngày càng mở rộng theo hướng thiết thực và trách nhiệm. Việc Việt Nam và Canada đồng tổ chức khóa huấn luyện Sĩ quan tham mưu Liên hợp quốc sau khi khóa huấn luyện được Liên hợp quốc công nhận đạt chuẩn, ghi dấu mốc quan trọng trong quá trình chuyên nghiệp hóa và chuẩn hóa công tác đào tạo về gìn giữ hòa bình tại Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam. Rồi việc Việt Nam đăng cai Hội thảo quốc tế về Chương trình Hợp tác Ba bên trong Gìn giữ hòa bình với Liên hợp quốc, Australia và Nhật Bản đã cho thấy Việt Nam không chỉ tham gia mà đang đóng góp ngày càng chủ động vào các nỗ lực gìn giữ hòa bình quốc tế.
Đây chính là biểu hiện sinh động của một nền đối ngoại đang chuyển từ tham gia sang định hình và cùng kiến tạo.
Nếu như trước đây, đối ngoại chủ yếu được nhìn nhận là một trong những công cụ phục vụ giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước thì ngày nay, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, những biến động sâu sắc của kinh tế thế giới và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, đối ngoại đã được đặt vào vị trí mới trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia.
Đại hội XIV của Đảng xác định rõ đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, cùng với quốc phòng, an ninh góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi nhất cho phát triển đất nước. Điểm mới này không chỉ thể hiện sự phát triển trong tư duy lý luận mà còn phản ánh yêu cầu thực tiễn của một đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Quan trọng hơn, đối ngoại không dừng ở việc mở rộng quan hệ hay tranh thủ nguồn lực bên ngoài, mà hướng tới mục tiêu cao hơn là trực tiếp kiến tạo những điều kiện, những cơ hội và những động lực mới cho phát triển quốc gia. Nghĩa là, mỗi hoạt động đối ngoại phải hướng đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực hội nhập, năng lực đổi mới sáng tạo và vị thế của đất nước trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Và tinh thần đó đang được hiện thực hóa bằng những hoạt động đối ngoại toàn diện, đồng bộ trên tất cả các trụ cột.
Từ các cuộc điện đàm, tiếp xúc cấp cao với lãnh đạo, quan chức cấp cao của Hoa Kỳ, Canada, New Zealand và Ấn Độ đến các hoạt động tại Liên hợp quốc; từ việc Việt Nam tiếp tục ủng hộ các nỗ lực tìm kiếm một giải pháp lâu dài, bền vững cho tiến trình hòa bình Trung Đông trên cơ sở giải pháp Hai Nhà nước đối với vấn đề Palestine, cho đến việc tăng cường hợp tác với UNICEF về bảo vệ trẻ em, giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, tất cả đều hướng đến mục tiêu chung là mở rộng không gian phát triển, nâng cao vị thế và tạo thêm nguồn lực cho đất nước.
Ở đó, lợi ích quốc gia - dân tộc luôn là nguyên tắc cao nhất, đồng thời Việt Nam cũng thể hiện rõ trách nhiệm của một thành viên tích cực, có trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; giữa lợi ích của đất nước với những giá trị chung của nhân loại; giữa kiên định nguyên tắc với linh hoạt trong phương thức triển khai.
Đối ngoại ngày nay cũng không là nhiệm vụ riêng, công việc riêng của ngành ngoại giao. Việc tăng cường cơ chế phối hợp giữa đối ngoại, quốc phòng và an ninh đã tạo nên sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Sự phối hợp chặt chẽ giữa ba trụ cột giúp xử lý hiệu quả các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống, nâng cao khả năng dự báo, tham mưu chiến lược và ứng phó với những diễn biến nhanh chóng của tình hình khu vực, thế giới.
Song song với đó, đối ngoại địa phương cũng ngày càng trở thành một mắt xích quan trọng trong tổng thể nền ngoại giao toàn diện, hiện đại. Nhiều địa phương đã chủ động mở rộng hợp tác quốc tế, xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch, kết nối doanh nghiệp và thu hút nguồn lực phát triển. Điều đó cho thấy đối ngoại đã thực sự lan tỏa đến từng cấp, từng ngành, từng địa phương, trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội ngay từ cơ sở.
Đây chính là sự cụ thể hóa quan điểm xuyên suốt của Đảng về phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và hiệu quả. Và đó cũng là lý do cho thấy vì sao Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu phải chuyển ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn mới "từ trạng thái Ngoại giao bảo vệ không gian phát triển sang Ngoại giao kiến tạo năng lực phát triển quốc gia; từ hội nhập thị trường sang kiến tạo thị trường; từ tham gia luật chơi sang góp phần định hình luật chơi".
Hạnh Quỳnh (TTXVN)

Gần 2,1 triệu đại biểu dự Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài





🌟 Sáng 30/6, tại Nhà Quốc hội, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và chỉ đạo Hội nghị.
Dự Hội nghị có: Đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội; đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.🇻🇳
Tham dự Hội nghị tại điểm cầu trung ương và điểm cầu tại các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Ban Bí thư, các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các đồng chí Ủy viên Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trung ương; các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể trung ương; các đồng chí lãnh đạo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; lãnh đạo Hiệp hội Doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam; đại diện lãnh đạo một số tập đoàn, doanh nghiệp FDI và tập đoàn doanh nghiệp của nhà nước, tư nhân.

29/6/26

Từ 1/7/2026, tung tin giả, sai sự thật trên mạng có thể bị phạt đến 50 triệu đồng


Nghị định số 174/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, bổ sung nhiều chế tài mới nghiêm khắc hơn nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn chuyển đổi số hiện nay.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định 174 là tăng cường xử lý đối với các hành vi vi phạm quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội, nhất là hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật.
Cụ thể, hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức; danh dự, nhân phẩm của cá nhân trên mạng xã hội có thể bị xử phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
Mức phạt này cũng áp dụng với một số hành vi khác như: đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy; chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn; quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm; cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia; cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm...
Đặc biệt, Nghị định quy định mức phạt từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:
Cung cấp, chia sẻ thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
Cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế-xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khát vọng của Đảng trong xây dựng gia đình hạnh phúc và quốc gia thịnh vượng




Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra những mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn 2045 có liên quan trực tiếp đến nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân. Để mỗi quốc gia, dân tộc được hưng thịnh, hùng cường, phụ thuộc nhiều vào sự ấm no, hạnh phúc của mỗi gia đình.
Ngày gia đình Việt Nam năm nay (28/6) không chỉ tôn vinh những giá trị tốt đẹp của gia đình, gìn giữ và phát huy những ý nghĩa văn hóa, tinh thần đậm nét truyền thống Việt Nam.
Những luận điệu xuyên tạc về bức tranh u ám, nghèo đói, lạc hậu
Hành trình 96 năm thành lập Đảng, 81 năm thành lập nước là chặng đường lịch sử đầy tự hào, đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Từ một nước lạc hậu, đói nghèo, bị chiến tranh tàn phá, đất nước ta không ngừng nỗ lực vươn lên, ngày càng phát triển, khẳng định vị thế và uy tín trên trường quốc tế. Tuy nhiên với âm mưu chống phá, các thế lực thù địch tiếp tục luận điệu xuyên tạc, vẽ lên một bức tranh u ám rằng Việt Nam là một quốc gia nghèo đói, lạc hậu, đang bị lệ thuộc nước này nhằm chống nước kia hoặc dựa vào nước này để tránh sức ép từ nước khác.
Việc đưa ra những luận điệu cho rằng Việt Nam là một quốc gia “suy kiệt toàn diện” là một sự bôi nhọ hòng phủ định sạch trơn thành quả của đất nước, nhất là thành quả của sự nghiệp 40 năm đổi mới đất nước.
Nhằm thực hiện dã tâm chống phá Đảng, Nhà nước ta, suốt nhiều năm qua, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, hạ thấp vai trò, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong những năm qua, các luận điệu xuyên tạc đã vẽ lên một bức tranh u ám nhằm thêu dệt Việt Nam đã “nghèo đói”, “lạc hậu”, “tuổi trẻ thất học, con người suy nhược, bi quan, chán nản”...
Từ việc bôi nhọ hiện thực đất nước, chúng hướng lái rằng, muốn thoát nghèo Việt Nam phải từ bỏ chủ nghĩa xã hội, phải “tìm lại đường đi”; cho rằng những thành tựu kinh tế-xã hội trong 40 năm đổi mới của Việt Nam chỉ là “bề nổi, không bền vững”, vu cáo Việt Nam che giấu các vấn đề như bất bình đẳng nhân quyền, bình đẳng giới, sự phát triển phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài.
Với thủ đoạn đào sâu, “bới lông, tìm vết” các thế lực thù địch đã tìm cách thổi phồng vào những bất cập, khiếm khuyết còn tồn tại trong xã hội để quy chụp, xuyên tạc bản chất vấn đề hòng phủ nhận những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được trong công cuộc xây dựng và phát triển.
Nhiều bài viết quy kết rằng, hơn nửa thế kỷ sau giải phóng miền Nam là hơn nửa thế kỷ tụt hậu, đời sống nhân dân “không thể gượng dậy”! Đồng thời xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam với Trung Quốc hoặc Việt Nam với Hoa Kỳ rồi so sánh, quy kết rằng nguyên nhân dẫn đến tình trạng tụt hậu là “quán tính lệ thuộc đàn anh trong khối độc tài - toàn trị”. Xuyên tạc rằng sự lệ thuộc này đã khiến Việt Nam mất độc lập, tự chủ, phải luôn luôn dè chừng những phản ứng của Bắc Kinh, hoặc coi nhẹ mối quan hệ đối với Hoa Kỳ và các nước phương Tây…
Thông qua các tổ chức xã hội dân sự ở trong nước là chân rết của các tổ chức khủng bố, phản động lưu vong ở nước ngoài với danh nghĩa phản biện xã hội, kiến nghị, thư ngỏ, tâm thư… Chúng rêu rao rằng, muốn đất nước trở nên giàu có, người dân ấm no cần phải xây dựng thể chế đa nguyên, đa đảng; thúc đẩy tự do, dân chủ; thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc, phát triển độc lập và hội nhập quốc tế bằng những luận điệu như : “Đất nước phải bước vào kỷ nguyên mới! Nền tảng của kỷ nguyên này là xây dựng một thể chế tự do, dân chủ tôn trọng nhân quyền, chấp nhận đa nguyên”…
Ngoài ra, lợi dụng một số vướng mắc, bất cập trong việc di dời, tái định cư các hộ dân trong quy hoạch xây dựng dự án, cải tạo cảnh quan đô thị và thực hiện chế độ, chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng, nhất là vùng có đông đồng bào theo đạo, các thế lực thù địch đã tung ra luận điệu nguy hiểm như “người dân bị nhà nước cướp đất”, “nhà thờ bị tàn phá”, “người dân bị tước đoạt quê hương”…
Đồng thời các đối tượng lôi kéo, kêu gọi, tập hợp những người bất mãn, bức xúc nhằm tụ tập phản đối, gây mất an ninh, trật tự tại địa bàn. Đáng chú ý, nhiều thông tin xấu độc được phát tán trên không gian mạng dưới dạng bài viết, video, hình ảnh cắt ghép, bình luận mang tính áp đặt, quy chụp, gây chia rẽ người dân với chính quyền, kích động chống phá từ bên trong.
Chủ trương của Đảng, Nhà nước trong kiến tạo nền tảng của quốc gia hạnh phúc
Trong tâm thức của mỗi người, gia đình chính là trường học đầu tiên và suốt đời nuôi dưỡng, giáo dục con người, là nơi gìn giữ, bồi đắp và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc. Tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, sự thương yêu, đùm bọc, sự thủy chung, lòng hiếu nghĩa, sự cần cù lao động, sáng tạo… là những giá trị văn hóa được kết tinh và truyền tải qua lời ru của bà, của mẹ, lời dạy của ông, cha theo suốt cuộc đời của mỗi người, là hành trang giúp chúng ta vượt qua những khó khăn, thử thách để hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ, trở thành những công dân tốt của xã hội.
Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn nêu cao khát vọng phát triển đất nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua những chặng đường rất vẻ vang và lớn mạnh cùng đất nước. Lấy độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu, động lực phấn đấu, Đảng đã đưa đất nước tiến lên, giành được thành quả rất to lớn.
Hiến pháp năm 2013 khẳng định, Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân. Ngày 30/12/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2238/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030.
Theo đó, mục tiêu chung của chiến lược là xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, là hạt nhân, tế bào lành mạnh của xã hội, tổ ấm của mỗi người; là nơi nuôi dưỡng, bồi đắp nhân cách, lối sống tôn trọng đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc; phát huy, nhân rộng các giá trị tốt đẹp góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước.
Để góp phần hiện thực hóa các mục tiêu trên, phát huy vai trò của gia đình, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần có các giải pháp đồng bộ. Cùng với Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết chiến lược của Trung ương đều nhấn mạnh một tư tưởng xuyên suốt, đó là nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển.
Cụ thể, Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đưa ra các mục tiêu thiết thực, đó là người dân được tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng, hướng tới chăm sóc sức khỏe toàn diện. Từ năm 2026, người dân bắt đầu được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần, được lập sổ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe theo vòng đời, từng bước giảm gánh nặng chi phí y tế. Đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình...
Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo nhấn mạnh, mục tiêu quan trọng đến năm 2030 là mở rộng tiếp cận công bằng, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á. Đáng chú ý, chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) đạt trên 0,8, trong đó chỉ số bất bình đẳng giáo dục giảm xuống dưới 10%...
Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hóa giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội...
Bên cạnh đó, các nghị quyết chiến lược như Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20-8-2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045... là chỉnh thể thống nhất nhằm nâng cao toàn diện chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong kỷ nguyên mới.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết quả thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn vừa qua, tỉ lệ hộ nghèo đã giảm đều qua các năm. Đến hết năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều còn 1,93%, đạt chỉ tiêu giảm 1-1,5%/năm được giao. Ngày 26/6/2025, Quốc hội đã thông qua nghị quyết về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2026 (The World Happiness Report), Việt Nam xếp hạng 45 toàn cầu với điểm số 6,428/10, cho thấy bước tiến tích cực trong bảng xếp hạng. Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ hai, chỉ sau Singapore, cho thấy sự phát triển tích cực về chất lượng sống và phúc lợi xã hội. Việt Nam đã vượt qua Thái Lan, Indonesia và Malaysia, khẳng định vị thế là một trong những quốc gia có mức độ hạnh phúc cao nhất Đông Nam Á.
Năm 2026, Ngày Quốc tế Hạnh phúc được tổ chức tại Việt Nam với chủ đề "Hạnh phúc cho mọi gia đình", khẳng định gia đình là nền tảng, hạt nhân cốt lõi của xã hội phồn vinh, bền vững góp phần nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp và toàn xã hội về vai trò, vị trí của công tác gia đình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là dịp để các địa phương giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm trong công tác gia đình, hướng tới sự phát triển bền vững của gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Đánh giá về sự thăng hạng chỉ số hạnh phúc của Việt Nam, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam Jonathan Wallace Baker nhận định: "Việt Nam đã được ghi nhận vì những tiến bộ đáng kinh ngạc trong việc nâng cao mức độ hạnh phúc của người dân. Tôi cho rằng, điều này xuất phát từ việc Việt Nam không chỉ chú trọng vào sự phát triển của đất nước nói chung mà còn tập trung vào sự phát triển bền vững và toàn diện của con người. Các nhà lãnh đạo Việt Nam không nhìn nhận đất nước chỉ như một quốc gia đơn thuần, họ nhìn nhận thông qua chính những người dân và luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hỗ trợ người dân".
Với những thành tựu nêu trên tiếp tục khẳng định rằng, dù thời cuộc thế giới và khu vực có nhiều biến động, nhiều đổi thay nhưng vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong dòng chảy lịch sử của dân tộc đã, đang và tiếp tục là lực lượng chính trị duy nhất có đủ vị thế, trí tuệ, năng lực, uy tín để lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện toàn diện công cuộc đổi mới, bảo vệ độc lập, chủ quyền và xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mọi sự xuyên tạc về vai trò, vị trí, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng và phát triển đất nước, con người Việt Nam đều không có giá trị và bị thực tiễn bác bỏ.
Hoàng Ly - Bình Nguyên
Báo CAND

28/6/26

5⃣ phương diện của “Chuẩn mực con người Việt Nam” trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng




Theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, có thể xác định 5 phương diện của “Chuẩn mực con người Việt Nam”, gồm: 


✔️Chuẩn mực về tư tưởng - lý tưởng - bản lĩnh chính trị: Con người ấy phải có lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, có đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, yêu thương con người và sống có trách nhiệm với cộng đồng.

✔️Chuẩn mực về đạo đức - nhân cách - lối sống: Xây dựng con người Việt Nam toàn diện lấy đạo đức làm cốt lõi, trong đó lòng yêu nước là chuẩn mực để cống hiến và phát triển đất nước. Đồng thời, tinh thần đoàn kết, ý chí tự cường gắn liền với khát vọng tự do, hạnh phúc là sức mạnh giúp dân tộc giữ vững bản sắc trong bối cảnh toàn cầu hóa. Cuối cùng, đạo “Hiếu” cùng lối sống cần cù, trọng tình nghĩa và ham học hỏi tạo nên nền tảng vững chắc để con người Việt Nam không ngừng vươn lên.

✔️ Chuẩn mực về tri thức, năng lực và tinh thần sáng tạo: Người Việt Nam hiện đại cần được trang bị năng lực tư duy logic, phản biện và sáng tạo; kỹ năng số, ngoại ngữ và hội nhập văn hóa; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tính chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp trong lao động. 

✔️ Chuẩn mực về tinh thần công dân và trách nhiệm xã hội: Công dân Việt Nam thời đại mới phải gắn liền với năng lực hành động và trách nhiệm xã hội, được thể hiện qua sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật, sống kỷ luật và có tinh thần công dân; tham gia hoạt động cộng đồng, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự xã hội; đóng góp trí tuệ, vật chất, tinh thần cho sự phát triển chung.

✔️ Chuẩn mực về thể lực và khả năng làm chủ cơ thể: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0, thể lực và chiều cao không chỉ là biểu hiện của sức khỏe cá nhân, mà còn là yếu tố cấu thành năng lực lao động, trí tuệ và sáng tạo của con người Việt Nam hiện đại.


Các chuẩn mực nói trên không tồn tại riêng rẽ mà liên kết hữu cơ trong một hệ giá trị thống nhất. Khi 5 phương diện này được vun bồi đồng bộ, con người Việt Nam sẽ hình thành nhân cách toàn diện: Vừa có lý tưởng cao đẹp, vừa sáng về trí tuệ, vừa cao về đạo đức, vừa mạnh về hành động.

#994B

27/6/26

Nhận diện luận điệu xuyên tạc việc triển khai Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026


Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện và kế thừa các quy định còn phù hợp của luật năm 2016, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ 1/1/2027, thay thế Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14. Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện và kế thừa các quy định còn phù hợp của luật năm 2016, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
1. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 là văn bản quy phạm pháp luật đại diện cho tiếng nói, lợi ích của các tổ chức tôn giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam hướng đến sự hội nhập, đồng hành với dân tộc, phát huy sức mạnh, nguồn lực tôn giáo vào sự phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, đối tượng phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo đã đẩy mạnh các hoạt động xuyên tạc, chống phá với nhiều hình thức, thủ đoạn khác nhau nhằm phủ nhận, hướng lái bản chất của luật. Cụ thể:
Một là, xuyên tạc các nội dung đổi mới của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Các luận điệu xuyên tạc cho rằng, quá trình soạn thảo luật là “thiếu dân chủ”, “không mang lại lợi ích cho tổ chức tôn giáo”. Thậm chí, xuyên tạc việc Quốc hội thông qua luật là hành vi “vi hiến”, đi ngược lại lợi ích chính đáng của toàn thể cộng đồng chức sắc, chức việc và tín đồ trong nước. Trên trang fanpage facebook “BPSOS - Đề án Dân quyền Việt Nam” của tổ chức BPSOS do Nguyễn Đình Thắng cầm đầu từ tháng 1/2026 đến tháng 6/2026 đã đăng tải hơn 15 bài viết xuyên tạc.
Trong đó bài viết “Mối đe doạ đối với chức việc tôn giáo kể từ năm 2027” (đăng ngày 2/6/2026) đã xuyên tạc, mô tả việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 là “thể hiện sự lấn tới rất nguy hiểm của chính quyền Việt Nam đối với hoạt động của một tổ chức tôn giáo. Nó là một quy định xâm phạm tới hai quyền của mọi người bao gồm quyền tự do lập hội và quyền tự do tôn giáo”.
Liên quan đến các quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 về quản lý các hoạt động tôn giáo, các đối tượng đã xuyên tạc, biến vấn đề quản lý trở thành một điều “bắt buộc” dẫn đến “đàn áp tự do hoạt động tôn giáo”. Thậm chí tổ chức BPSOS mô tả rằng: “Việc chính quyền tự cho mình quyền đình chỉ hoạt động của chức việc trong một tổ chức tôn giáo thể sự lạm dụng quyền lực. Việc chính quyền tự cho mình quyền yêu cầu các tổ chức tôn giáo phải đình chỉ hoạt động của các chức việc thể hiện sự lộng quyền nguy hiểm hơn nữa”.
Nhiều đối tượng ở trong nước đã chia sẻ các bài viết, góc nhìn bình luận, đánh giá tiêu cực về quá trình soạn thảo, thông qua luật, so sánh việc thực thi luật với các mô hình các nước phương Tây, từ đó ca ngợi chế độ dân chủ tư sản là quan tâm đến “tự do tôn giáo”, quy kết chế độ chính trị tại Việt Nam “thiếu tính dân chủ”.
Hai là, các đối tượng sử dụng đa dạng các loại hình tuyên truyền xuyên tạc trên không gian mạng để nhanh chóng tiếp cận đến với người dân, cộng đồng chức sắc, tín đồ tôn giáo. Các đối tượng đã sử dụng nhiều kênh Youtube để tuyên truyền xuyên tạc nội dung của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo như kênh “Ba Ngoại”, “Nguyen Dung”, sử dụng AI để thay đổi giọng nói, tạo hình ảnh cắt ghép từ các vụ việc liên quan đến an ninh trật tự trong tôn giáo để quy kết chính quyền sử dụng luật như “công cụ đàn áp tôn giáo”.
Ở bên ngoài, các đối tượng tung lên các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc quá trình soạn thảo, thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo như fanpage facebook “BPSOS - Đề án Dân quyền Việt Nam”, kênh fanpage của đài BBC phiên bản tiếng Việt, liên tục đăng tải các thông tin, bài viết tiêu cực với các chiêu thức như “góc nhìn đánh giá” của người dân, chức sắc, tín đồ tôn giáo, quan chức phương Tây có quan điểm chống phá chính quyền Việt Nam.
Ba là, các luận điệu xuyên tạc từ nhắm vào mục tiêu đả phá luật khi chưa triển khai thực hiện đến gây sự hoài nghi, kích động tâm lý bất mãn trong cộng đồng tôn giáo ở trong và ngoài nước. Tổ chức BPSOS đã lợi dụng việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 để công kích chính quyền, kích động tâm lý nghi ngại trong bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo. Một số chức sắc, tín đồ cực đoan đã lợi dụng vấn đề này để tuyên truyền gây tâm lý hoang mang đối với dư luận nội bộ các tổ chức tôn giáo.
Thậm chí, tổ chức BPSOS còn lợi dụng để gây sức ép, đòi hỏi đưa ra để thảo luận tại các phiên họp của Liên hợp quốc, kêu gọi: “Tình trạng trì hoãn không chịu ban hành luật về hội, kết hợp với các quy định tấn công vào những tổ chức hội về tôn giáo là thực trạng hiện nay tại Việt Nam. Thực trạng này cần phải được báo cáo cho quốc tế trong đó có Liên hiệp quốc biết để tạo thành một công tác đấu tranh trong ngoài với chính quyền độc đoán Việt Nam”.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bị Mỹ xếp vào “Danh sách các nước cần theo dõi về tự do tôn giáo - SWL”, việc lợi dụng xuyên tạc Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 đã có tác động tiêu cực đến góc nhìn đánh giá của Mỹ và các phương Tây đối với tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam.
2. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027. Trong thời gian tới, để phục vụ yêu cầu triển khai thực hiện luật có hiệu quả và bác bỏ quan điểm xuyên tạc, sai trái về luật, cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Thứ nhất, tập trung nhận diện các âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Để nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng tuyên truyền, xuyên tạc về Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026, cần thấy rằng luật mới có nhiều điểm tiến bộ, tích cực và mang tính kế thừa của luật năm 2016 trước đây. Tuy nhiên, các đối tượng đã khai thác tối đa những điểm mới, “khoảng trống”, kẽ hở trong luật mới để xuyên tạc về quyền tự do tôn giáo, quy chụp việc thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo với những biện pháp mang tính “cấm đoán”, tự cho mình quyền phán xét luật mới bằng cách hướng lái, phân tích các điều khoản trong luật theo xu hướng tiêu cực, không khách quan.
Thực tế cho thấy, các đối tượng xuyên tạc về luật đều không xuất phát từ góc nhìn bảo vệ lợi ích của tổ chức tôn giáo. Các thế lực thù địch bên ngoài tìm cách xuyên tạc luật mới nhằm hạ uy tín, từ đó vô hiệu hóa hoạt động quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Do đó, cần nhận diện mục đích thực sự của các đối tượng.
Thứ hai, tập trung đẩy mạnh tuyên truyền về bản chất tốt đẹp, tính chính danh, định hướng, lan tỏa thông tin tích cực về luật cho cộng đồng xã hội, nhất là đối với chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 là sự tiếp nối, mở rộng quyền tự do tôn giáo trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Quá trình tổ chức thực hiện luật phải dựa trên nguyên tắc đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của chức sắc, tín đồ tôn giáo. Nội dung tuyên truyền tập trung vào làm rõ tính ưu việt, hiệu quả thực chất của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026, góp phần hoàn thiện và chuẩn hóa khung pháp lý đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam tham gia hoặc thành viên. Qua đó, tiếp tục bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật.
Mặt khác, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho việc phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng tính chủ động của chính quyền địa phương, rút ngắn thời gian giải quyết công việc, đáp ứng kịp thời nhu cầu chính đáng của tổ chức, cá nhân trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Các quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, bổ sung các biện pháp quản lý nhà nước và đẩy mạnh chuyển đổi số sẽ giúp nâng cao tính công khai, minh bạch, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức tiếp cận thông tin, thực hiện thủ tục hành chính và tổ chức các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp; đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước nâng cao năng lực theo dõi, giám sát, thống kê, dự báo và xử lý các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 đã lược bỏ, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và dịch vụ công trực tuyến, góp phần giảm chi phí tuân thủ, tiết kiệm thời gian, công sức cho tổ chức, cá nhân; thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực số và nâng cao chất lượng phục vụ của cơ quan nhà nước.
Bên cạnh đó, môi trường pháp lý minh bạch, ổn định hơn sẽ góp phần củng cố niềm tin xã hội, tạo điều kiện để các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp, các nguồn lực của các tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được phát huy trong đời sống xã hội, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Đồng thời, các chính sách được xây dựng trên nguyên tắc không phân biệt giới tính, bảo đảm nam và nữ có cơ hội, điều kiện tham gia và thụ hưởng quyền lợi bình đẳng trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ ba, thông qua vai trò, uy tín của chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo lên tiếng phê phán những quan điểm xuyên tạc, sai trái về quá trình biên soạn, thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026.
Những tiếng nói của chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo là minh chứng củng cố vững chắc vai trò của luật. Đồng thời, đảm bảo tính khách quan, minh chứng sống động phản bác những luận điệu xuyên tạc của các đối tượng.
Cần khẳng định rằng chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo lên tiếng phản bác các luận điệu xuyên tạc chính là bảo vệ lợi ích của tổ chức tôn giáo, chống lại những tác động tiêu cực xâm nhập, len lỏi vào tổ chức tôn giáo gây mất đoàn kết. Trong đó, căn cứ vào tình hình cụ thể của từng tôn giáo để hướng dẫn, định hướng nội dung phản biện cho chức sắc, chức việc và tín đồ một cách phù hợp, nhấn mạnh đến những hiệu quả, tính tích cực của luật để cộng đồng xã hội hiểu rõ hơn, từ đó không tin, nghe theo luận điệu xuyên tạc của các đối tượng.
Những tiếng nói của chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo có thể được thực hiện thông qua trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin, truyền thông chính thống… Thông qua hoạt động của chính họ khi giảng lễ, tham gia các sự kiện lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo. Các chức sắc, chức việc sẽ tuyên truyền, phân tích làm rõ các nội dung liên quan để làm cho quần chúng tín đồ hiểu rõ, tự giác chấp hành những quy định pháp luật. Mặt khác, để lan tỏa thông tin tuyên truyền trên không gian mạng, những tiếng nói, hình ảnh của chức sắc, chức việc trong tôn giáo có thể được xuất hiện rộng rãi ở các nền tảng ứng dụng, cơ quan truyền thông đại chúng, tạo sự lan tỏa rộng rãi cộng đồng tôn giáo ở trong và ngoài nước.
Thứ tư, ngăn chặn, xử lý, răn đe những hành vi xuyên tạc, chống phá trên không gian mạng.
Trên cơ sở vận dụng quy định pháp luật về An ninh mạng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản pháp luật khác để có biện pháp ngăn chặn hoạt động xuyên tạc, không để lây lan thông tin xấu độc. Sử dụng các công cụ biện pháp theo quy định pháp luật để xác định chính xác các đối tượng đang lợi dụng, đấu tranh, xử phạt hành chính, trường hợp đủ căn cứ cơ sở có thể khởi tố hình sự. Trong xử lý, cơ quan chức năng tổ chức tuyên truyền, chỉ rõ sai phạm, đính chính thông tin sai trái, để đối tượng cam kết không thực hiện các hoạt động xuyên tạc, chống phá.
Nguyễn Xuân Thịnh - Khoa NV3 - Học viện An ninh nhân dân
Báo CAND

Vì sao con người dễ bị dẫn dắt trên không gian mạng



Tác giả: GIA HƯNG


Nếu tin giả là những lời nói dối được tạo ra có chủ đích, còn “một nửa sự thật” là những thông tin bị cắt xén, bóp méo khỏi bối cảnh ban đầu, thì vẫn còn một câu hỏi quan trọng cần được giải đáp: Vì sao con người lại dễ dàng tin vào những thông tin ấy? Câu trả lời không chỉ nằm ở những người tạo ra thông tin sai lệch, mà còn nằm trong chính cách bộ não con người tiếp nhận và xử lý thông tin.


Không phải ai tin thông tin sai lệch cũng thiếu hiểu biết


Nhiều người vẫn cho rằng chỉ những người thiếu kiến thức hoặc nhẹ dạ cả tin mới bị ảnh hưởng bởi thông tin sai lệch. Tuy nhiên, các nghiên cứu về tâm lý học nhận thức cho thấy điều ngược lại. Con người không phải những cỗ máy xử lý thông tin hoàn toàn khách quan. Khi tiếp nhận một thông tin mới, mỗi cá nhân thường đánh giá nó dựa trên cảm xúc, kinh nghiệm, niềm tin và những nhận thức đã hình thành từ trước. Điều đó khiến ngay cả những người có trình độ cũng có thể đưa ra những nhận định sai lầm. Trong môi trường số hiện nay, thông tin sai lệch cũng ngày càng được xây dựng tinh vi hơn. Chúng không còn là những câu chuyện vô lý dễ bị phát hiện mà thường được pha trộn giữa dữ kiện có thật, suy diễn chủ quan và các thủ pháp dẫn dắt cảm xúc. Chính vì vậy, vấn đề không nằm ở việc ai thông minh hơn ai, mà nằm ở việc, liệu người tiếp nhận thông tin có đủ tỉnh táo để nhận ra những cơ chế tác động đang diễn ra phía sau những nội dung mình đọc, xem và chia sẻ hay không.


Con người thường tin điều mình muốn tin


Một trong những đặc điểm phổ biến nhất của con người là xu hướng tìm kiếm và tin tưởng những thông tin phù hợp với quan điểm, suy nghĩ sẵn có của bản thân. Trong tâm lý học, hiện tượng này được gọi là “thiên kiến xác nhận” (confirmation bias).


Khi một thông tin xuất hiện và trùng khớp với suy nghĩ, niềm tin hoặc định kiến đã có từ trước, bộ não thường có xu hướng chấp nhận nó dễ dàng hơn. Ngược lại, những thông tin trái với quan điểm cá nhân thường bị nghi ngờ hoặc bác bỏ ngay từ đầu.


Chẳng hạn, một người vốn có cái nhìn tiêu cực về một lĩnh vực nào đó sẽ dễ tin vào những thông tin phản ánh mặt tiêu cực của lĩnh vực ấy. Một người đã có thiện cảm với một cá nhân hoặc tổ chức nào đó cũng dễ bỏ qua những thông tin bất lợi liên quan đến đối tượng mình yêu thích. Điều này lý giải vì sao cùng một sự kiện nhưng những người khác nhau có thể tiếp nhận và diễn giải theo những cách hoàn toàn khác nhau. Nhiều khi, điều con người tìm kiếm không hẳn là sự thật mà là sự xác nhận cho những gì mình đã tin.


Khi cảm xúc nhanh hơn lý trí


Nếu lý trí cần thời gian để suy nghĩ thì cảm xúc lại phản ứng gần như tức thì, đó là lý do những thông tin gây sốc, phẫn nộ, lo lắng hoặc thương cảm thường lan truyền nhanh hơn nhiều so với các thông tin trung tính. Chỉ cần đọc một tiêu đề mang tính kích động, người dùng có thể lập tức bày tỏ cảm xúc hoặc chia sẻ cho người khác mà chưa kịp kiểm chứng. Trên thực tế, không ít tin đồn liên quan đến dịch bệnh, thực phẩm, thiên tai, bắt cóc trẻ em hoặc các vụ việc gây tranh cãi đã lan truyền với tốc độ rất nhanh vì tác động mạnh vào tâm lý sợ hãi và lo lắng của cộng đồng.


Trong những thời điểm cảm xúc bị kích thích mạnh, khả năng đánh giá thông tin một cách khách quan thường suy giảm đáng kể. Người ta chia sẻ vì lo lắng, vì tức giận hoặc vì muốn cảnh báo người khác, chứ không phải vì đã xác minh được tính chính xác của thông tin. Đây chính là lý do những người phát tán thông tin sai lệch thường cố gắng tác động vào cảm xúc trước khi tác động vào lý trí. Những tác động của tâm lý đám đông và thói quen chia sẻ nhanh trong môi trường số đang trở thành mối quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế.


Theo báo cáo Bihind the Screens do UNESCO công bố năm 2024, 62% nhà sáng tạo nội dung số được khảo sát cho biết họ không thực hiện việc kiểm chứng thông tin một cách có hệ thống trước khi chia sẻ tới công chúng; 42% thừa nhận sử dụng số lượt thích, lượt xem hoặc mức độ phổ biến của nội dung như một tiêu chí để đánh giá độ tin cậy của thông tin. Những con số này cho thấy trong môi trường mạng xã hội, sức hút và khả năng lan truyền của thông tin đôi khi đang được đặt cao hơn tính xác thực của thông tin. Không ít người chia sẻ một nội dung vì thấy nó đang được quan tâm hoặc được nhiều người hưởng ứng, thay vì dành thời gian kiểm chứng độ chính xác của thông tin đó.


Mối nguy từ thông tin sai lệch cũng đang được nhìn nhận ở quy mô toàn cầu. Báo cáo Rủi ro Toàn cầu năm 2025 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tiếp tục xếp thông tin sai lệch và thông tin xuyên tạc vào nhóm những rủi ro ngắn hạn nghiêm trọng nhất đối với thế giới. Theo đánh giá của báo cáo, loại rủi ro này có thể làm xói mòn niềm tin xã hội, gia tăng chia rẽ và gây khó khăn cho quá trình ra quyết định của cộng đồng cũng như các quốc gia.


Nói cách khác, trong nhiều trường hợp, sự lan truyền của thông tin sai lệch không chỉ xuất phát từ công nghệ hay thuật toán, mà còn đến từ chính cách con người tiếp nhận và chia sẻ thông tin trên môi trường số.


Hiệu ứng đám đông trên không gian mạng


Tâm lý đám đông là một trong những đặc điểm phổ biến của con người. Khi thấy nhiều người cùng tin vào một thông tin, con người thường có xu hướng giảm bớt sự hoài nghi và dễ chấp nhận thông tin đó hơn.


Trên mạng xã hội, xu hướng này càng trở nên rõ rệt.


Khi nhìn thấy một bài viết có hàng chục nghìn lượt thích, hàng nghìn bình luận hoặc được chia sẻ rộng rãi, nhiều người mặc nhiên cho rằng nội dung đó đáng tin cậy. Số lượng tương tác vô tình được xem như một thước đo của sự thật.


Tuy nhiên, mức độ lan truyền không đồng nghĩa với độ chính xác. Thực tế tại Việt Nam cũng đã ghi nhận nhiều trường hợp thông tin chưa được kiểm chứng gây tác động đáng kể đến đời sống kinh tế - xã hội. Có thời điểm, các tin đồn liên quan đến hoạt động của một số ngân hàng đã khiến nhiều khách hàng lo lắng, đổ xô đi xác minh thông tin hoặc thực hiện các giao dịch bất thường. Mặc dù cơ quan chức năng và các tổ chức liên quan nhanh chóng lên tiếng bác bỏ, nhưng những phản ứng ban đầu của đám đông cho thấy chỉ một thông tin thiếu kiểm chứng cũng có thể tác động mạnh đến tâm lý xã hội.


Trong lĩnh vực lừa đảo trực tuyến, các đối tượng xấu cũng thường tận dụng hiệu ứng đám đông để tạo cảm giác tin cậy hoặc cấp bách. Nhiều vụ lừa đảo thành công không phải vì thủ đoạn quá tinh vi, mà vì nạn nhân nhìn thấy quá nhiều người khác đã tương tác hoặc tin vào thông tin đó.


Khi tâm lý con người trở thành mục tiêu khai thác


Những đặc điểm tâm lý như thiên kiến xác nhận, hiệu ứng đám đông hay xu hướng phản ứng theo cảm xúc không chỉ là hiện tượng tự nhiên trong đời sống xã hội. Trên không gian mạng, chúng còn trở thành mục tiêu khai thác của nhiều chủ thể khác nhau.


Một số cá nhân hoặc tổ chức khai thác các cơ chế này để thu hút lượt xem, lượt tương tác và doanh thu quảng cáo. Những tiêu đề giật gân, những thông tin gây sốc hoặc những nội dung được thiết kế nhằm kích thích tranh cãi thường dễ thu hút sự chú ý hơn các thông tin khách quan và cân bằng.


Trong lĩnh vực tội phạm mạng, các đối tượng lừa đảo cũng tận dụng tâm lý đám đông, sự tò mò hoặc nỗi lo sợ của người dùng để phát tán các thông tin giả mạo cơ quan nhà nước, ngân hàng hoặc doanh nghiệp nhằm chiếm đoạt tài sản.


Đáng chú ý hơn, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị cũng thường lợi dụng những đặc điểm tâm lý này để tác động đến nhận thức xã hội. Thay vì đưa ra những thông tin hoàn toàn bịa đặt dễ bị phát hiện, các đối tượng thường khai thác những vấn đề có thật, những hạn chế hoặc khó khăn đang tồn tại trong đời sống xã hội rồi cắt xén, thổi phồng hoặc diễn giải theo hướng tiêu cực.


Mục tiêu của họ không đơn thuần là làm cho công chúng tin vào một thông tin cụ thể. Điều họ hướng tới là tạo ra tâm lý hoài nghi, làm suy giảm niềm tin xã hội và từng bước dẫn dắt nhận thức theo những hướng có lợi cho mục đích của mình.


Khi đó, cuộc cạnh tranh trên không gian mạng không còn đơn thuần là cuộc cạnh tranh giữa các nguồn thông tin. Sâu xa hơn, đó là cuộc cạnh tranh nhằm giành lấy sự chú ý, niềm tin và nhận thức của con người.


Xây dựng “miễn dịch nhận thức” trong thời đại số


 Nếu tin giả được ví như một loại “virus” trên không gian mạng thì mỗi người dùng internet cũng cần xây dựng cho mình một hệ miễn dịch trước những thông tin độc hại ấy. Cũng giống như cơ thể cần vaccine để nhận diện và chống lại mầm bệnh, con người cần trang bị khả năng phản biện, kiểm chứng và đánh giá thông tin để không bị dẫn dắt bởi tin giả, tin đồn hoặc những “nửa sự thật”. Nhiều chuyên gia gọi đó là “miễn dịch nhận thức” - khả năng tự bảo vệ mình trước những tác động tiêu cực của môi trường thông tin số.


Trong bối cảnh thông tin bùng nổ hiện nay, khả năng tự bảo vệ mình trước các thông tin sai lệch đã trở thành một kỹ năng công dân quan trọng. Điều đó bắt đầu từ những thói quen rất đơn giản: Đọc toàn bộ nội dung thay vì chỉ đọc tiêu đề; kiểm tra nguồn tin trước khi chia sẻ; so sánh thông tin từ nhiều nguồn khác nhau; cảnh giác với những nội dung đánh mạnh vào cảm xúc; và luôn sẵn sàng xem xét những góc nhìn khác với quan điểm của bản thân.


Quan trọng hơn, mỗi người cần học cách chậm lại trước khi đưa ra kết luận.


Trong một thế giới mà thông tin được truyền đi chỉ trong vài giây, sự thận trọng đôi khi trở thành hàng rào bảo vệ hiệu quả nhất trước những nỗ lực dẫn dắt và thao túng.


Bên cạnh đó, báo chí chính thống tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp, định hướng thông tin chính xác, kiểm chứng các tin đồn và giúp công chúng tiếp cận sự việc trong bối cảnh đầy đủ. Các cơ quan quản lý, nền tảng công nghệ và mỗi người dân đều có trách nhiệm góp phần xây dựng một môi trường thông tin lành mạnh, minh bạch và đáng tin cậy hơn.


Không chỉ là cuộc chiến chống tin giả


Tin giả và những “nửa sự thật” chắc chắn vẫn là những thách thức lớn của thời đại số. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hơn là khả năng con người bị dẫn dắt mà không nhận ra mình đang bị dẫn dắt. Bởi vậy, cuộc chiến bảo vệ sự thật không chỉ là cuộc chiến chống lại những người tạo ra thông tin sai lệch. Đó còn là cuộc chiến chống lại sự vội vàng, cảm tính và những định kiến tồn tại trong chính mỗi chúng ta.


Trong thời đại số, không ai có thể tránh hoàn toàn việc tiếp xúc với tin giả hay thông tin sai lệch, cũng như không ai có thể sống trong một môi trường hoàn toàn không có mầm bệnh. Điều quan trọng là mỗi người cần xây dựng cho mình một “hệ miễn dịch nhận thức” đủ mạnh để nhận diện, sàng lọc và đề kháng trước những thông tin độc hại. Khi biết kiểm chứng trước khi tin, suy nghĩ trước khi chia sẻ và giữ được sự tỉnh táo giữa dòng chảy thông tin khổng lồ, mỗi công dân số sẽ trở thành một “lá chắn” quan trọng góp phần bảo vệ sự thật trên không gian mạng.


Đó cũng chính là “liều vaccine” hiệu quả nhất để bảo vệ bản thân và bảo vệ sự thật trong kỷ nguyên số.


Báo QĐND


Ảnh minh họa:qdnd.vn 


#HSV