24/4/26

Nhìn thẳng-Nói thật: Lệch chuẩn khen thưởng làm méo mó giá trị

 Nhìn thẳng-Nói thật: Lệch chuẩn khen thưởng làm méo mó giá trị

Tác giả: CHÍNH NGÔN
Tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, một trong những vấn đề được nhiều đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng là phải làm sao để việc khen thưởng bảo đảm đúng người, đúng thời điểm, đúng tầm mức, nhất là quan tâm đến những người lao động trực tiếp ở cơ sở.
Cuối năm 2025, khi đề cập đến công tác thi đua-khen thưởng, lãnh đạo Chính phủ cũng yêu cầu phải tập trung khắc phục cho được những biểu hiện bất cập đang có dấu hiệu gia tăng trong khen thưởng. Vì những bất cập này không cổ vũ được các phong trào thi đua yêu nước, lại còn khuyến khích các toan tính chạy đua và làm cho các phần thưởng trở nên kém vẻ vang và ít được khâm phục.
Bốn biểu hiện đáng quan ngại được lãnh đạo Chính phủ chỉ ra, đó là: Khen thưởng cho lãnh đạo nhiều hơn cho người lao động ở cơ sở; khen thưởng được dự kiến và chờ đợi nhiều hơn khen thưởng cho những chiến công quả cảm và thành tích đột xuất làm xúc động lòng người; khen thưởng đúng quy trình, tiêu chuẩn, nhưng không tiêu biểu; khen thưởng để hướng đến tạo dựng hình ảnh và thăng tiến nhiều hơn để động viên hoàn thành nhiệm vụ.
Cổ nhân đúc kết: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Câu nói đó không chỉ mang ý nghĩa phía sau thành công của một chiến tướng là muôn vạn sinh linh ngã xuống, mà còn hàm ý vinh quang, chiến thắng của một cá nhân thường được xây dựng, vun đắp từ sự cống hiến, hy sinh của rất nhiều người khác.
Phía sau thương hiệu tỏa sáng của một doanh nghiệp, doanh nhân thành danh là biết bao công sức, mồ hôi của hàng nghìn công nhân. Phía sau biểu tượng công trình xây dựng tầm cỡ là hàng triệu giọt mồ hôi, nước mắt của biết bao người lao động vất vả ngày đêm. Phía sau ánh hào quang của một nhà vô địch trên bục vinh quang là sự nỗ lực âm thầm hỗ trợ của các huấn luyện viên, săn sóc viên, nhân viên y tế và người phục vụ.
Nói thế để thấy, thành công không bao giờ là dễ dàng và không chỉ thuộc về một cá nhân mà còn phụ thuộc vào sự đóng góp, cống hiến, hy sinh của rất nhiều người. Do đó, nếu khen thưởng vẫn thiên về cán bộ lãnh đạo nhiều hơn người lao động ở cơ sở, khen thưởng đúng quy trình nhưng không tiêu biểu về thành tích, khen thưởng để “đánh bóng” hình ảnh và thăng tiến cá nhân, sẽ gây ra biết bao hệ lụy.
Khi người tâm huyết, giỏi giang, tài năng dù nỗ lực làm việc và đóng góp thực chất nhưng không được ghi nhận sẽ làm biến dạng giá trị chuẩn mực về đạo đức, năng lực và khát vọng cống hiến. Những người tốt, người góp công nổi trội nếu không được ghi nhận đúng lúc, khen thưởng kịp thời sẽ sinh ra chán nản, thui chột động lực phấn đấu; còn những kẻ “mồm miệng đỡ chân tay” dù chưa xứng đáng mà lại được vinh danh sẽ là mảnh đất màu mỡ cho bệnh nịnh nọt có cơ hội phát sinh và làm “ô nhiễm” môi trường văn hóa thi đua của tổ chức, cơ quan, đơn vị.
Nguy hại hơn, những lệch chuẩn trong khen thưởng sẽ làm giảm động lực vươn lên của cả tập thể, cổ xúy cho sự cạnh tranh thiếu lành mạnh và gây mất niềm tin vào sự công bằng, tử tế và những giá trị thực chất.
Từ những hệ lụy trên, việc phòng, chống các biểu hiện lệch chuẩn trong khen thưởng hiện nay là rất cần thiết, nhằm trả lại những giá trị tích cực, tốt đẹp của các phong trào thi đua. Việc khắc phục triệt để những bất cập, tiêu cực trong công tác khen thưởng còn là cách phòng ngừa hữu hiệu các biểu hiện chạy đua, chạy theo thành tích, chạy phần thưởng để các danh hiệu, huân chương không trở nên kém giá trị, kém vẻ vang và ít được khâm phục-như lãnh đạo Chính phủ từng cảnh báo.



VIỆT NAM TẠI HỘI ĐỒNG NHÂN QUYỀN LHQ: KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ VÀ TRÁCH NHIỆM QUỐC TẾ.


Việc Việt Nam tham gia và đảm nhiệm vai trò tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc không chỉ là dấu mốc về đối ngoại đa phương, mà còn là minh chứng sinh động cho sự trưởng thành về năng lực thể chế, uy tín chính trị và trách nhiệm quốc tế của đất nước trong giai đoạn hội nhập sâu rộng. Từ một quốc gia từng phải đối mặt với nhiều thách thức sau chiến tranh, Việt Nam đã từng bước khẳng định vị thế của mình như một đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong các cơ chế toàn cầu, đặc biệt trong lĩnh vực quyền con người vốn luôn nhạy cảm và phức tạp.
Trước hết, cần nhìn nhận rằng việc được bầu làm thành viên của Hội đồng Nhân quyền không phải là sự ghi nhận mang tính hình thức, mà phản ánh sự đánh giá của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực và thành tựu thực chất. Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và mở rộng quyền con người trên tất cả các lĩnh vực. Quyền tiếp cận giáo dục, y tế, an sinh xã hội, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội ngày càng được bảo đảm tốt hơn. Những kết quả này không chỉ thể hiện trong các chỉ số phát triển, mà còn được ghi nhận thông qua các cơ chế rà soát định kỳ và đối thoại quốc tế.
Tham gia Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam không tiếp cận vấn đề quyền con người theo cách tiếp cận phiến diện, mà theo hướng toàn diện và cân bằng giữa các quyền. Quan điểm nhất quán là quyền con người phải gắn với điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ phát triển của mỗi quốc gia và phải được bảo đảm trong mối quan hệ hài hòa với ổn định chính trị, trật tự xã hội và phát triển bền vững. Chính cách tiếp cận này giúp Việt Nam có tiếng nói riêng, đóng góp vào việc thúc đẩy đối thoại, hợp tác thay vì đối đầu và áp đặt trong các diễn đàn quốc tế.
Một điểm nổi bật trong quá trình tham gia Hội đồng Nhân quyền là tinh thần chủ động và xây dựng. Việt Nam đã tích cực tham gia các sáng kiến, đóng góp vào các nghị quyết liên quan đến quyền của các nhóm dễ bị tổn thương, quyền phát triển, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh con người. Những đóng góp này cho thấy Việt Nam không chỉ là bên thụ hưởng các chuẩn mực quốc tế, mà còn là chủ thể tham gia định hình các chuẩn mực đó, trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn của mình.
Bên cạnh đó, Việt Nam duy trì đối thoại cởi mở với các cơ chế nhân quyền của Liên Hợp Quốc, nghiêm túc thực hiện các khuyến nghị phù hợp và tiếp tục hoàn thiện chính sách trong nước. Việc tham gia các công ước quốc tế, báo cáo định kỳ và hợp tác với các cơ quan chuyên môn thể hiện thái độ cầu thị, tôn trọng luật pháp quốc tế và cam kết cải thiện liên tục. Đây là yếu tố quan trọng giúp củng cố niềm tin của cộng đồng quốc tế, đồng thời tạo động lực thúc đẩy cải cách trong nước.
Tuy nhiên, trong quá trình đó cũng xuất hiện những thông tin sai lệch, xuyên tạc nhằm phủ nhận vai trò và đóng góp của Việt Nam. Một số tổ chức, cá nhân cố tình tách rời các vấn đề cụ thể khỏi bối cảnh pháp lý và thực tiễn, từ đó đưa ra những đánh giá thiếu khách quan. Trước những luận điệu này, cách phản hồi hiệu quả nhất không chỉ là phản bác bằng lý lẽ, mà còn bằng chính kết quả thực tế và sự minh bạch trong chính sách. Khi quyền con người được cải thiện trên thực tế, khi đời sống người dân ngày càng nâng cao, những nhận định phiến diện sẽ tự bộc lộ sự thiếu thuyết phục.
Việc tham gia Hội đồng Nhân quyền cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với Việt Nam trong việc tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản trị và bảo đảm quyền con người ngày càng tốt hơn. Đây không phải là áp lực mang tính áp đặt, mà là động lực tích cực để phát triển. Một quốc gia có trách nhiệm quốc tế không chỉ thể hiện ở phát biểu tại diễn đàn, mà còn ở việc thực thi cam kết trong nước, biến các chuẩn mực thành kết quả cụ thể cho người dân.
Từ góc độ tổng thể, có thể khẳng định rằng vai trò của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc là sự kết hợp giữa vị thế và trách nhiệm. Vị thế được xây dựng từ thành tựu phát triển, từ sự ổn định chính trị và uy tín đối ngoại. Trách nhiệm thể hiện ở việc chủ động đóng góp vào các vấn đề chung của nhân loại, thúc đẩy đối thoại, hợp tác và tôn trọng sự đa dạng trong cách tiếp cận quyền con người. Chính sự kết hợp đó đã và đang giúp Việt Nam từng bước khẳng định mình là một thành viên tích cực, đáng tin cậy của cộng đồng quốc tế, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững trong tương lai.


23/4/26

NHÌN NHẬN SỰ VIỆC CỦA CHA ANTÔN ĐẶNG HỮU NAM THEO GIÁO LUẬT

 

1. Hình phạt cho linh mục bất tuân Giám mục bản quyền


Trong Giáo hội Công giáo, khi chịu chức, tất cả các linh mục triều (phân biệt với linh mục dòng) đều có lời hứa kính trọng và vâng phục Đức Giám mục Giáo phận. Vì vậy, nếu một linh mục cố tình không vâng phục Giám mục bản quyền trong những mệnh lệnh hợp pháp liên quan đến mục vụ, kỷ luật hay quản trị, thì có thể bị xử lý theo nhiều mức độ khác nhau theo Bộ Giáo luật năm 1983.


Các bước xử lý từ thấp đến cao là: (1) Nhắc nhở – khuyên bảo – sửa dạy riêng; (2) Khiển trách hoặc cảnh cáo chính thức; (3) Thuyên chuyển, cách chức, miễn nhiệm, rút quyền quản trị; (4) Áp dụng các hình phạt theo Giáo luật (đình chỉ năng quyền cử hành bí tích công khai hoặc thi hành một số tác vụ linh mục – “treo chén”, vạ cấm chế, vạ tuyệt thông); (5)  Khai trừ khỏi hàng giáo sĩ.


Với vụ việc của cha Antôn Đặng Hữu Nam, hiện nay ngài đang được áp dụng 4 hình thức xử lý đầu tiên. Tiếp theo đà trên, nếu các vi phạm của cha Đặng Hữu Nam là sự thật và cha tiếp tục không hối cải, gây thêm vi phạm nghiêm trọng hơn, thậm chí gây chia rẽ lớn hoặc kèm tội khác, hồ sơ có thể gửi về Tòa Thánh để đề nghị hình phạt nặng nhất là hoàn tục - khai trừ khỏi hàng giáo sĩ.


2. Trường hợp việc Đức Giám mục Anphong Nguyễn Hữu Long xử lý cha Đặng Hữu Nam sai giáo luật, những phản ứng của cha Đặng Hữu Nam như hiện nay liệu có đúng?


Việc một  linh mục vâng phục Đức Giám mục bản quyền không có nghĩa là vâng phục một cách mù quáng. Nếu Giám mục ra lệnh trái giáo luật, trái đức tin, trái luân lý hoặc lạm quyền, linh mục có quyền khiếu nại theo giáo luật lên cấp cao hơn, kể cả lên Tòa Thánh, chứ không buộc phải thi hành điều sai.


Điều này nghĩa là, nếu cha Đặng Hữu Nam thấy bản thân bị oan khuất, cách làm khôn ngoan là nên khiếu nại lên cấp cao hơn thông qua quy trình khiếu nại các Sắc lệnh hành chính (Điều 1734-1739), tức khiếu nại lần lượt lên Đức Tổng Giám mục, Hội đồng Giám mục Việt Nam, Đức Cha Đại diện thường trú Tòa Thánh tại Việt Nam, Bộ chuyên trách của Giáo triều, Tòa Thánh. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đây thì sự việc đã không có những tranh cãi đáng tiếc như vậy. Việc cha Đặng Hữu Nam đưa sự việc của mình lên truyền thông để biện luận và công kích quyết định của bề trên đã gây ra những hệ quả xấu mà chính cha Đặng Hữu Nam cũng không lường trước được, và vô tình bị lún sâu thêm vào những vi phạm khác.

Thứ nhất, làm tổn hại tiến trình khiếu nại và tự đặt mình vào tình trạng cố chấp. Việc khước từ hệ thống Tòa án của Giáo hội để tìm đến "Tòa án dư luận" là một bước đi bất lợi về mặt tố tụng. Sự khước từ này có thể cung cấp cho Bề trên cơ sở pháp lý để xác định sự cố chấp của đương sự, vốn là điều kiện cần thiết để áp dụng các biện pháp kỷ luật nghiêm khắc hơn.


Thứ hai, nguy cơ vi phạm tội xúi giục bất tuân. Việc công kích quyết định của Bề trên trên mạng xã hội dễ dàng bị định khung vào Điều 1373: công khai kích động những người thuộc quyền chống đối hay thù ghét. Dưới nhãn quan Giáo luật, hành vi này không được nhìn nhận là sự biện phân hay bảo vệ công lý, mà là yếu tố gây mất ổn định trật tự và thách thức quyền bính thiêng liêng hợp pháp.


Thứ ba, gây gương xấu và làm tổn thương sự hiệp thông. Bản chất cốt lõi của Hội Thánh là Sự Hiệp Thông. Việc mang các bất đồng nội bộ phơi bày trên không gian mạng không chỉ là sự thiếu cẩn trọng, mà còn trực tiếp gây tổn thương đến cấu trúc mầu nhiệm của Giáo hội. Hành vi này tạo ra sự vấp phạm (gương xấu), làm hoang mang đức tin của những tín hữu đơn sơ, đồng thời dễ khơi mào cho sự bè phái, chia rẽ trong cộng đoàn.


Thứ tư, nguy cơ xâm phạm danh dự và cấu thành tội vu cáo (Điều 220). Việc sử dụng mạng xã hội để phán xét động cơ của Bề trên mà thiếu các chứng cứ hợp luật có thể dẫn đến tội vu khống. Hành vi này không chỉ là một vi phạm hình sự mà còn phát sinh nghĩa vụ luân lý và pháp lý phải sửa chữa tai tiếng một cách công khai. Chưa kể những điều cha đưa ra trong các bức tâm thư, nhất là bức tâm thư số 6 không chỉ gói gọn ở sự việc của cha mà còn đưa nhiều sự việc với những nhìn nhận phiếm diện, chưa có căn cứ vào.


Thứ năm, đi ngược lại tinh thần của lời hứa vâng phục (Điều 273). Đối với các giáo sĩ, việc công khai chống đối Bề trên trên truyền thông là sự vi phạm nghiêm trọng tinh thần kính trọng và vâng phục đã tuyên thệ trong ngày lãnh nhận Bí tích Truyền Chức. Dựa trên nền tảng Kinh Thánh (Rm 13,1-2), việc tuân phục Bề trên hợp pháp không chỉ là một quy tắc kỷ luật, mà còn là sự tùng phục trật tự phẩm trật do chính Thiên Chúa thiết lập để gìn giữ Hội Thánh.


3. Có còn con đường nào cho cha Antôn Đặng Hữu Nam hay không?


Người Việt thường có câu “Đánh người chạy đi không ai đánh người chạy lại” để nói về sự bao dung, tha thứ. Với giáo hội Công giáo, sự tha thứ là giá trị cốt lõi của đức tin, bắt nguồn từ chính bản tính của Thiên Chúa: giàu lòng thương xót và luôn mời gọi con người hoán cải. Chính vì vậy, những hình phạt của giáo hội có mục đích không phải để “trả đũa”, mà trước hết là sửa chữa người phạm lỗi, khôi phục công bằng, chữa gương xấu và cao nhất là lan tỏa tinh thần của lòng thương xót đi cùng công lý. Với trường hợp của cha Antôn Đặng Hữu Nam, cha có thể sửa chữa những lỗi lầm của mình từ ngay bây giờ, bởi chính mình và bằng những việc làm đơn giản:


Đầu tiên, cha hãy tự xét lại mình và nhìn nhận sai sót. Hãy tự hỏi bản thân sử dụng truyền thông để bảo vệ sự thật hay vì nóng giận, tự ái, muốn tạo áp lực dư luận? Nếu có yếu tố xúc phạm, gây chia rẽ hay làm mất uy tín Giáo hội thì cần thẳng thắn thừa nhận.


Thứ hai, hãy gỡ bỏ hoặc đính chính nội dung. Nếu bài viết, phát ngôn của mình sai, thiếu cân bằng, hoặc lời lẽ quá mức, nên xóa hoặc cải chính ngay.


Thứ ba, hãy xin lỗi những người bị ảnh hưởng.


Thứ tư, hãy dùng đúng con đường giáo luật. Nếu vấn đề vẫn còn thật sự nghiêm trọng, hãy ngừng tranh luận công khai và gửi đơn khiếu nại chính thức lên cấp trên theo tiến trình khiếu nại.


Thứ năm, hãy xưng tội và đền tội. Nếu hành vi có yếu tố tội lỗi như nói xấu, vu khống, gây chia rẽ, kiêu ngạo…, linh mục cũng cần lãnh nhận bí tích Hòa giải như mọi tín hữu.

Thứ sáu, hãy chấp nhận kỷ luật nếu có. Nếu giám mục áp dụng cảnh cáo, giới hạn tác vụ, hoặc hình phạt nào đó, thái độ khiêm tốn chấp nhận và cộng tác sửa sai sẽ giúp sớm được phục hồi.


Trong Giáo hội, sai lầm lớn nhất không phải là “đã sai”, mà là cố chấp không sửa. Nhiều trường hợp nếu biết khiêm tốn rút lại, xin lỗi và đi đúng thủ tục, thì quan hệ vẫn có thể được hàn gắn và chức vụ được phục hồi. Dụ ngôn người con hoang đàng (The Parable of the Prodigal Son) chính là bài học rõ ràng nhất cho cha Antôn. Dù là một người con lầm lỗi không ai có thể chấp nhận, nhưng một khi đã quay đầu và ăn năn trở về, luôn có người cha với lòng thương xót vô điều kiện dang tay chào đón.

GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG – NGÀY HỘI LỚN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 


Ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm là ngày Quốc giỗ – ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, một trong những ngày lễ trọng đại nhất của dân tộc Việt Nam. Đây không chỉ là dịp để toàn thể đồng bào trong nước và kiều bào hướng về cội nguồn mà còn là khoảnh khắc thiêng liêng để chúng ta tri ân công lao dựng nước và giữ nước của các bậc tiên tổ.

Hàng nghìn năm trước, trên mảnh đất Việt Trì – Phú Thọ ngày nay, các vua Hùng đã khai sáng nhà nước Văn Lang – quốc gia đầu tiên của người Việt. Từ bọc trăm trứng của Âu Cơ – Lạc Long Quân, trăm con trai đã trưởng thành, một người lên ngôi vua, 99 người phân tán khắp bốn phương, cùng nhau xây dựng non sông. Truyền thuyết ấy không chỉ là câu chuyện cổ tích mà đã trở thành biểu tượng bất diệt của tinh thần đoàn kết, ý chí quật cường và khát vọng dựng nước của dân tộc ta.


Từ thời các triều đại phong kiến đến nay, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương luôn được coi trọng. Năm 1917, triều Nguyễn đã chính thức lấy ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch làm ngày Quốc tế. Năm 2007, ngày này trở thành ngày nghỉ lễ chính thức toàn quốc. Đặc biệt, năm 2012, UNESCO đã vinh danh “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại – minh chứng rõ nét cho giá trị văn hóa sâu sắc của dân tộc.

Hôm nay, khi đất nước đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, ngày Giỗ Tổ càng mang ý nghĩa sâu sắc hơn bao giờ hết. Đó là lúc mỗi người Việt Nam chúng ta tự hào ôn lại cội nguồn, khẳng định bản sắc dân tộc, nuôi dưỡng lòng yêu nước và ý chí vươn lên. Như Bác Hồ kính yêu từng dạy: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Trong những ngày này, hàng triệu đồng bào từ khắp mọi miền Tổ quốc và nước ngoài nô nức về với Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh. Phần lễ trang nghiêm với nghi thức dâng hương, dâng hoa, đọc chúc văn thể hiện lòng thành kính tri ân công đức tiên tổ. Phần hội sôi nổi với các trò chơi dân gian, biểu diễn nghệ thuật truyền thống, tái hiện sinh hoạt văn hóa thời Hùng Vương… tạo nên không khí đầm ấm, tự hào của một dân tộc biết nhớ nguồn.


TINH THẦN MÙA XUÂN ĐẠI THẮNG NĂM 1975



Cách đây 51 năm, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quân và dân ta đã phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, làm nên chiến thắng vang dội, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây không chỉ là thắng lợi của lòng quả cảm, trí tuệ Việt Nam mà còn là biểu tượng sáng ngời của khát vọng độc lập, tự do và thống nhất đất nước.

     Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 đã khép lại chặng đường 21 năm kháng chiến chống Mỹ, đồng thời hoàn thành sự nghiệp 30 năm đấu tranh giải phóng dân tộc kể từ sau Cách mạng tháng Tám. Từ đây, non sông thu về một mối, Bắc - Nam sum họp một nhà, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc - kỷ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi ấy đã chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và niềm tin tất thắng vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.

     Ngày nay, trong công cuộc đổi mới và hội nhập, tinh thần của mùa Xuân đại thắng 1975 vẫn luôn là nguồn động lực to lớn, thôi thúc mỗi người Việt Nam tiếp tục nỗ lực phấn đấu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy truyền thống anh hùng, các thế hệ hôm nay không ngừng học tập, lao động sáng tạo, góp phần đưa đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh. Mốc son lịch sử ấy sẽ mãi sống trong ký ức và niềm tự hào của dân tộc, là hành trang quý báu để Việt Nam vững bước tiến vào tương lai.


22/4/26

ĐẤU TRANH NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC ÂM MƯU LỢI DỤNG CÔNG NGHỆ AI ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY


Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia. Ở Việt Nam, việc ứng dụng AI đã và đang được triển khai trên nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, quản lý xã hội… góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị tích cực, sự phát triển nhanh chóng của AI cũng đặt ra nhiều thách thức mới, đặc biệt là việc các thế lực thù địch, phản động lợi dụng công nghệ này để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định chính trị – xã hội.
Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” đã khẳng định rõ: cần “phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó có trí tuệ nhân tạo, đồng thời chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các nguy cơ, thách thức an ninh phi truyền thống”. Điều đó cho thấy, Đảng ta không chỉ nhận thức sâu sắc vai trò của AI mà còn sớm nhìn thấy những nguy cơ bị lợi dụng để chống phá, từ đó đề ra các giải pháp mang tính chiến lược. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng AI như một công cụ mới trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi hơn trước. Một trong những hình thức phổ biến là tạo ra các sản phẩm “deepfake” – tức là các video, hình ảnh giả mạo được xử lý bằng thuật toán AI với độ chân thực cao. Các video này có thể giả giọng nói, khuôn mặt của lãnh đạo hoặc người có uy tín để đưa ra những phát ngôn sai lệch, từ đó gây hoang mang dư luận, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Không ít trường hợp, người xem khó có thể phân biệt thật – giả nếu không có kiến thức và công cụ kiểm chứng phù hợp. Bên cạnh đó, AI còn được sử dụng để sản xuất hàng loạt tin giả (fake news) với tốc độ nhanh và quy mô lớn. Các hệ thống tự động có thể tạo ra hàng nghìn bài viết, bình luận với nội dung xuyên tạc, bịa đặt, sau đó phát tán trên mạng xã hội như Facebook, YouTube, TikTok. Theo thống kê, Việt Nam hiện có khoảng hơn 77 triệu người dùng Internet và hơn 70 triệu người sử dụng mạng xã hội, đây vừa là lợi thế để phát triển kinh tế số, nhưng cũng là môi trường mà các thông tin xấu độc có thể lan truyền nhanh chóng nếu không được kiểm soát.
Một thủ đoạn khác tinh vi hơn là sử dụng AI để phân tích dữ liệu người dùng, từ đó xác định “đối tượng mục tiêu” và xây dựng nội dung tuyên truyền phù hợp. Đây chính là hình thức “tấn công có chủ đích”, khi mỗi nhóm đối tượng sẽ nhận được những thông tin khác nhau, đánh vào tâm lý, nhận thức và mối quan tâm riêng của họ. Ví dụ, với thanh niên, các đối tượng có thể lồng ghép nội dung xuyên tạc vào các video giải trí; với cán bộ, đảng viên, chúng lại tập trung vào các vấn đề như tham nhũng, cải cách bộ máy; còn với người lao động, chúng khai thác các vấn đề về đời sống, việc làm… Từ đó từng bước gây chia rẽ, tạo ra sự hoài nghi và mất niềm tin. Mục tiêu cuối cùng của các hoạt động này không chỉ dừng lại ở việc lan truyền thông tin sai lệch mà sâu xa hơn là nhằm làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng, kích động mâu thuẫn trong nội bộ xã hội, tiến tới gây mất ổn định chính trị. Đây là một dạng chiến tranh thông tin kiểu mới, không sử dụng vũ khí truyền thống nhưng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm tăng cường quản lý không gian mạng và phòng, chống các hành vi lợi dụng công nghệ để chống phá. Luật An ninh mạng năm 2018 là một trong những công cụ pháp lý quan trọng, quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng. Đồng thời, Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng” cũng nhấn mạnh yêu cầu phải “chủ động phát hiện, ngăn chặn, xử lý thông tin xấu độc, sai trái”. Trên thực tế, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý nhiều vụ việc liên quan đến việc tung tin giả, sử dụng công nghệ để chống phá. Nhiều đối tượng đã bị xử lý theo quy định của pháp luật, góp phần răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, với sự phát triển nhanh của công nghệ, các thủ đoạn chống phá cũng ngày càng tinh vi hơn, đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ và lâu dài. Một trong những giải pháp quan trọng là nâng cao nhận thức và kỹ năng số cho người dân. Mỗi người cần trở thành “lá chắn thông tin” bằng cách biết cách kiểm chứng nguồn tin, không chia sẻ thông tin chưa được xác thực, đồng thời chủ động báo cáo các nội dung xấu độc. Đây chính là “tuyến phòng thủ” đầu tiên và quan trọng nhất trong không gian mạng. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng các quy định phù hợp với sự phát triển của công nghệ AI. Việc ban hành các quy chuẩn về đạo đức AI, trách nhiệm của các nền tảng công nghệ, cũng như cơ chế phối hợp quốc tế trong phòng chống tội phạm mạng là những nội dung cần được chú trọng. Đối với lực lượng vũ trang, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, giảng viên, việc nâng cao trình độ, khả năng nhận diện và đấu tranh trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết. Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mỗi cán bộ cần không ngừng học tập, cập nhật kiến thức mới, sử dụng hiệu quả các công cụ công nghệ để phản bác kịp thời các quan điểm sai trái, thù địch. Ngoài ra, cần phát huy vai trò của báo chí cách mạng trong việc định hướng dư luận. Báo chí không chỉ phản ánh sự thật mà còn phải đi trước một bước trong việc phát hiện, phân tích và vạch trần các thủ đoạn lợi dụng AI để chống phá. Việc cung cấp thông tin nhanh chóng, chính xác, có định hướng sẽ góp phần “làm loãng” và vô hiệu hóa các thông tin xấu độc. Không thể phủ nhận rằng, AI là một thành tựu to lớn của nhân loại, mang lại nhiều cơ hội phát triển cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, giống như bất kỳ công nghệ nào khác, AI cũng có thể bị lạm dụng nếu không được quản lý chặt chẽ. Do đó, vấn đề đặt ra không phải là hạn chế phát triển AI, mà là làm sao để khai thác hiệu quả, đồng thời kiểm soát tốt những rủi ro mà nó mang lại. Từ góc độ chiến lược, việc xây dựng một “không gian mạng lành mạnh, an toàn” cần được xác định là nhiệm vụ lâu dài, gắn với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Điều này đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, từ trung ương đến địa phương, từ cơ quan quản lý nhà nước đến từng người dân.
Có thể khẳng định rằng, âm mưu lợi dụng công nghệ AI để chống phá Đảng, Nhà nước là một thách thức mới nhưng không phải là không thể vượt qua. Với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý hiệu quả của Nhà nước và sự đồng lòng của toàn xã hội, chúng ta hoàn toàn có đủ cơ sở để tin tưởng rằng sẽ giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong mọi tình huống.

20/4/26

PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”: ĐỪNG NHẦM VỀ “ỨNG VẠN BIẾN”

 


Trong căng tin sau khuôn viên nhà trường, Nam cắm cúi gõ phím, mắt dán chặt vào màn hình laptop, chốc chốc lại buông tiếng thở dài.
Hùng, Bí thư Chi đoàn kéo ghế ngồi xuống, cất lời:
Làm tiểu luận môn Quan hệ quốc tế mà sao mặt mày ủ dột thế?
Nam đẩy nhẹ màn hình laptop về phía bạn, khẽ nhăn trán:
Ông xem đi. Họ bảo những năm gần đây, nước mình liên tục đón nguyên thủ các cường quốc, thực chất là đang bị “ép chọn phe”, đang bị dồn vào chân tường. Họ gọi chính sách ngoại giao của mình là kiểu “đi dây”, “bắt cá hai tay”. Tôi thấy hoang mang quá!
Lướt nhanh qua bài viết, Hùng bật cười:
Đúng là "bình loạn" của “chuyên gia bàn phím” ở hải ngoại!
Nam thanh minh:
Nhưng họ đúng mà. Các nước lớn đang cạnh tranh gay gắt, mình ở giữa cứ cố giữ thế cân bằng, không khéo lại “gió chiều nào che chiều ấy”.
Hùng nghiêm nét mặt, giọng mạnh mẽ:
Nhầm to! Giữ thế cân bằng chiến lược và thái độ “ba phải” là hai khái niệm khác nhau. Các thế lực thù địch cố tình đánh tráo khái niệm về phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong đường lối đối ngoại của ta.
Thấy Nam chưa hiểu lắm, Hùng giải thích cặn kẽ hơn:
Bản lĩnh của ngoại giao Việt Nam đến từ giá trị cốt lõi “bất biến”: Độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Với nền tảng vững chắc này, Việt Nam sẽ không nao núng trước bất kỳ áp lực nào từ bên ngoài.
Nam băn khoăn:
Thế “ứng vạn biến” không phải là sự thỏa hiệp sao?
Lại hồ đồ rồi! “Ứng vạn biến” là tùy vào từng hoàn cảnh, thời điểm, đối tượng khác nhau mà có cách ứng phó, giải quyết các vấn đề một cách linh hoạt, đạt hiệu quả cao nhất, song phải đặt lợi ích quốc gia-dân tộc lên trên hết, trước hết. “Ứng vạn biến” chỉ là phương pháp cho “dĩ bất biến”.
Lấy dữ liệu trên điện thoại đưa Nam xem, Hùng phân tích thêm:
Đây ông xem, có mấy nước thiết lập được quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc hàng đầu thế giới như Việt Nam? Đâu phải ngẫu nhiên mà tiếng nói của Việt Nam tại Liên hợp quốc, ASEAN và trên các diễn đàn đa phương ngày càng có trọng lượng, được bạn bè quốc tế nể trọng?!
Nghĩa là chúng đang cố tình bóp méo sự thật để gieo rắc hoài nghi, chia rẽ mối quan hệ của Việt Nam với bạn bè quốc tế; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào đường lối đối ngoại của Đảng ta?-Nam hỏi lại bạn.
Chờ mãi mới có câu chuẩn!-Hùng vỗ vai bạn: Ông cho ngay vào bài tiểu luận nhé!./.
Báo QĐND

12/4/26

NHẤT THỂ HÓA HAI CHỨC DANH – MỘT BƯỚC ĐI TẤT YẾU



Trong tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mọi điều chỉnh về tổ chức bộ máy đều nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả các cơ quan quyền lực nhà nước. Chỉ những thay đổi phản ánh đúng yêu cầu khách quan của việc tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước mới có ý nghĩa bền vững.
Việc Quốc hội quyết định nhất thể hóa hai chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước do đồng chí Tô Lâm đảm nhiệm cần được nhìn nhận từ bình diện đó – một bước đi xuất phát từ yêu cầu nội tại của quá trình tổ chức lại quyền lực theo hướng ngày càng thống nhất và hiệu quả.
Về phương diện lý luận, mọi hệ thống quyền lực đều đứng trước một bài toán cơ bản: làm thế nào để bảo đảm sự thống nhất giữa định hướng chính trị và tổ chức thực thi. Khi quyền lực bị phân tách thành những cấu phần thiếu gắn kết, quá trình chuyển hóa từ chủ trương đến hành động dễ bị kéo dài, thậm chí sai lệch. Ngược lại, khi quyền lực được tổ chức theo một trục thống nhất, tính nhất quán trong lãnh đạo và hiệu lực trong thực thi được tăng cường. Ở đây, vấn đề không phải là tập trung quyền lực theo nghĩa hình thức, mà là tổ chức quyền lực theo logic hiệu quả.
Từ góc độ đó, nhất thể hóa hai chức danh cao nhất không đơn thuần là sự kiêm nhiệm vị trí, mà là sự điều chỉnh về cấu trúc vận hành quyền lực. Khi vai trò lãnh đạo chính trị và vị trí nguyên thủ quốc gia được đặt trong một chỉnh thể, dòng chảy quyền lực trở nên liền mạch hơn; khoảng cách giữa hoạch định và thực thi được rút ngắn; đồng thời trách nhiệm được quy tụ rõ ràng hơn. Quyền lực trong trường hợp này không chỉ được quy tụ về một đầu mối, mà quan trọng hơn, được tái cấu trúc theo hướng giảm phân tán và tăng hiệu năng vận hành.
Thực tiễn Việt Nam đã cung cấp những kiểm chứng có sức thuyết phục. Trong giai đoạn cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng kiêm nhiệm, mô hình nhất thể hóa đã cho thấy khả năng vận hành ổn định, đặc biệt trong xử lý các vấn đề lớn, phức tạp, đòi hỏi sự tập trung cao về lãnh đạo. Giá trị của mô hình không chỉ nằm ở kết quả cụ thể, mà ở chỗ làm rõ hơn quan hệ giữa quyền lực và trách nhiệm, giữa lãnh đạo và điều hành. Chính thực tiễn đó khẳng định một điều: khi điều kiện chín muồi, việc tổ chức lại quyền lực không còn là lựa chọn mang tính thử nghiệm, mà trở thành yêu cầu tất yếu.
Ở bình diện rộng hơn, kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy xu hướng giảm thiểu sự phân tán trong tổ chức quyền lực nhằm nâng cao hiệu quả quản trị. Dù thể chế và hình thức khác nhau, điểm chung là tìm kiếm sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa vai trò lãnh đạo chính trị và thiết chế đại diện quốc gia. Điều đó phản ánh một quy luật mang tính phổ quát: hiệu quả quản trị không chỉ phụ thuộc vào sự phân công quyền lực, mà phụ thuộc quyết định vào mức độ thống nhất trong tổ chức và vận hành quyền lực.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, áp lực cạnh tranh gia tăng, yêu cầu về tốc độ và chất lượng quyết sách ngày càng cao, một cấu trúc quyền lực phân tán sẽ bộc lộ rõ giới hạn. Ngược lại, một cấu trúc thống nhất, rõ ràng về trách nhiệm sẽ tạo điều kiện để nâng cao năng lực phản ứng chính sách và hiệu quả quản trị quốc gia. Chính trong tương quan đó, tính tất yếu của việc nhất thể hóa không chỉ xuất phát từ lý luận hay thực tiễn riêng lẻ, mà từ tổng hòa các yêu cầu của phát triển.
Trên phương diện đối ngoại, sự thống nhất giữa vai trò lãnh đạo và vị trí nguyên thủ quốc gia góp phần tăng cường tính nhất quán trong thông điệp và hành động, qua đó nâng cao uy tín quốc gia. Ở trong nước, một cấu trúc quyền lực minh bạch về trách nhiệm cũng là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin xã hội – nền tảng của ổn định và phát triển bền vững.
Điều đáng lưu ý là, nhất thể hóa không làm giảm yêu cầu kiểm soát quyền lực, mà ngược lại, đặt ra đòi hỏi cao hơn đối với việc hoàn thiện thể chế kiểm soát. Khi quyền lực được tổ chức theo hướng tinh gọn và thống nhất, các cơ chế minh bạch, trách nhiệm giải trình và giám sát càng phải được thiết kế chặt chẽ và vận hành hiệu quả hơn. Chính sự song hành giữa tập trung và kiểm soát mới tạo nên nền tảng vững chắc của một hệ thống quyền lực hiện đại.
Ở một tầng khái quát cao hơn, có thể thấy rằng, quá trình phát triển của bất kỳ quốc gia nào cũng gắn liền với sự hoàn thiện không ngừng của cơ chế tổ chức quyền lực. Từ phân tán đến tập trung hợp lý, từ chồng chéo đến rõ ràng, từ nhiều đầu mối đến một trục vận hành thống nhất – đó không chỉ là lựa chọn mang tính kỹ thuật, mà là quy luật vận động nội tại của hệ thống quyền lực trong điều kiện phát triển hiện đại. Trong logic đó, nhất thể hóa không đơn thuần là sự thay đổi về hình thức tổ chức, mà là bước điều chỉnh để quyền lực được sắp xếp lại theo hướng hiệu quả hơn, minh bạch hơn và gắn chặt hơn với trách nhiệm. Nói cách khác, đây là quá trình chuyển từ “phân công quyền lực” sang “tổ chức quyền lực một cách tối ưu” – một bước phát triển về chất trong tư duy quản trị quốc gia.
Từ góc nhìn đó, việc nhất thể hóa hai chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước không chỉ là một quyết định về tổ chức cán bộ, mà là biểu hiện của sự vận động theo quy luật trong quá trình hoàn thiện cơ chế quyền lực nhà nước. Khi yêu cầu phát triển đã hội tụ, khi thực tiễn đã kiểm nghiệm, thì cải cách không còn là khả năng lựa chọn, mà trở thành tất yếu khách quan. Đây chính là ý nghĩa sâu xa và lâu dài của bước đi này trong tiến trình phát triển của đất nước.
Tg.Trần Bá Thiều

11/4/26

TRUNG ƯƠNG YÊU CẦU CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN KIÊN QUYẾT BẢO VỆ CÁI ĐÚNG, SỰ THẬT



Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Quy định số 19 ngày 8/4 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.

Quy định số 19 quy định mục đích, yêu cầu, nguyên tắc; nội dung, phương thức; trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên; chế độ kiểm tra, giám sát, khen thưởng và xử lý vi phạm trong công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Quy định này áp dụng đối với các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên trong Đảng.
Mọi hoạt động của cán bộ, đảng viên phải nhất quán tuyệt đối về chính trị, tư tưởng
Quy định nêu nguyên tắc công tác chính trị, tư tưởng phải lấy mục tiêu kiên trì, bảo vệ và phát huy "4 kiên định" làm định hướng hành động; mọi hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải nhất quán tuyệt đối về chính trị, tư tưởng. Quán triệt quan điểm chính trị, tư tưởng và văn hóa tạo ra nội lực tinh thần để Đảng lãnh đạo dân tộc đi xa và đi vững trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc tiếp là chấp hành nghiêm túc, đầy đủ các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư; vai trò lãnh đạo trực tiếp, toàn diện và trách nhiệm nêu gương của cấp ủy các cấp, nhất là bí thư cấp ủy. Thực hành và phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng, đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phát ngôn và hành động trong Đảng.
Quy định nêu nguyên tắc chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, đánh giá, định hướng dư luận xã hội và dự báo sát diễn biến tình hình quốc tế và trong nước để kịp thời định hướng chính trị, tư tưởng trong Đảng, trong xã hội, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng, kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, không để bị động, bất ngờ.
Công tác chính trị, tư tưởng phải gắn chặt, liên thông với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, kiểm tra, giám sát, dân vận và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ chính trị; bảo đảm rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ chế tài, có tiêu chí cụ thể để lượng hóa, kiểm tra, giám sát; lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và sự hài lòng của nhân dân làm thước đo cao nhất.
Cấp ủy, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu chịu trách nhiệm cao nhất trong đánh giá về chính trị, tư tưởng của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên thuộc quyền quản lý theo phân cấp.
Nội dung công tác chính trị, tư tưởng
Theo Quy định số 19, công tác chính trị gồm giữ vững bản chất cách mạng, đồng thời vận dụng linh hoạt, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và sự phát triển của thời đại.
Công tác chính trị cũng gồm giữ vững định hướng chính trị, kiên định lập trường tư tưởng trong mọi hoạt động; bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Trung ương, cấp ủy các cấp; thực hiện nghiêm túc, kịp thời, hiệu quả chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư.
Về nội dung công tác tư tưởng, quy định nhấn mạnh việc thống nhất nhận thức và hành động về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về tầm nhìn và mục tiêu chiến lược trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Công tác tư tưởng còn là xây dựng văn hóa Đảng thiết lập chuẩn mực đạo đức cách mạng, sự tiên phong, gương mẫu, liêm chính, kỷ luật của cán bộ, đảng viên; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy giá trị văn hóa Việt Nam.
Theo quy định, cần đổi mới phương thức công tác tư tưởng theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, xây dựng cơ sở dữ liệu số; nâng cao năng lực truyền thông chính trị hiện đại, chủ động nắm, phân tích, dự báo diễn biến tư tưởng, tâm trạng xã hội; kịp thời định hướng dư luận xã hội, nhất là trong các vấn đề phức tạp, nhạy cảm...
Không chia sẻ, bình luận thông tin đi ngược với đường lối, chủ trương
Quy định số 19 dành riêng một chương về trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, trong đó có nghe, nói, viết và hành động theo nghị quyết.
Với tiếp nhận thông tin, cán bộ, đảng viên chủ động tiếp nhận, phân tích thông tin khách quan, khoa học; không chạy theo dư luận, không né tránh vấn đề phức tạp nảy sinh trong thực tiễn; tăng cường ứng dụng công nghệ số và các nền tảng truyền thông số trong tiếp nhận, phân tích và xử lý thông tin.
Cán bộ, đảng viên cần tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, phản ánh trung thực với cấp có thẩm quyền.
Với phát ngôn, nói và viết, cán bộ, đảng viên tuyệt đối tuân thủ kỷ luật phát ngôn, quy định về cung cấp và sử dụng thông tin; nói và viết đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; định hướng dư luận tích cực trên các phương tiện truyền thông và không gian mạng. Ngoài ra, cán bộ, đảng viên không bày tỏ cảm xúc, thái độ trái với định hướng chính trị; không chia sẻ, bình luận thông tin đi ngược với đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, thông tin chưa kiểm chứng, sai sự thật.
Cán bộ, đảng viên viết báo cáo, bài tham luận, bài phát biểu phải đúng định hướng chính trị, bảo đảm tính Đảng, tính chiến đấu, tính giáo dục, nêu gương, khách quan, chuẩn xác.
Cán bộ, đảng viên cần kiên quyết bảo vệ cái đúng, sự thật; kiên trì giải thích, uốn nắn các nhận thức lệch lạc; chủ động đấu tranh với các thông tin, luận điệu sai trái, thù địch bằng các luận điểm khoa học, thuyết phục. Cán bộ, đảng viên đấu tranh ngăn chặn nguy cơ "trung tính hóa tư tưởng", thờ ơ chính trị, né tránh chính kiến; kiên quyết chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân tuý, lợi dụng diễn đàn để phục vụ lợi ích riêng./.