30/6/26

Khi đối ngoại trở thành động lực phát triển




Trong dòng chảy phát triển của đất nước, đối ngoại chưa bao giờ giữ vị trí quan trọng như hiện nay. Từ tư duy bảo vệ không gian phát triển, đường lối đối ngoại của Đại hội XIV của Đảng đã phát triển lên một tầm cao mới khi xác định đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” bên cạnh quốc phòng, an ninh, trực tiếp góp phần kiến tạo năng lực phát triển quốc gia. Những hoạt động đối ngoại sôi động gần đây đã phản ánh rõ tinh thần đó.
Khi tiếp Quyền Bộ trưởng Bộ Hải quân Hoa Kỳ Hùng Cao, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Việt Nam luôn coi Hoa Kỳ là đối tác có tầm quan trọng chiến lược hàng đầu, đồng thời mong muốn hai bên tiếp tục triển khai hiệu quả khuôn khổ Đối tác Chiến lược toàn diện, đưa quan hệ hai nước phát triển ngày càng thực chất, sâu rộng và hiệu quả, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực và trên thế giới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị Hoa Kỳ mở rộng các dự án tẩy độc dioxin, rà phá bom mìn, hỗ trợ người khuyết tật, tăng cường chuyển giao công nghệ, cung cấp thông tin, kỷ vật giúp tìm kiếm và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ Việt Nam.
Người đứng đầu Đảng, Nhà nước Việt Nam nhấn mạnh, đây không chỉ là những hoạt động hợp tác mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc mà còn là minh chứng cho những nỗ lực hàn gắn, hòa giải và xây dựng lòng tin giữa hai nước.
Quyền Bộ trưởng Hùng Cao cũng khẳng định Hoa Kỳ mong muốn tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trên các bình diện song phương, khu vực và toàn cầu, đồng thời bày tỏ mong muốn tiếp tục mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực an ninh hàng hải, nâng cao năng lực, hỗ trợ nhân đạo, ứng phó thiên tai và các thách thức chung của khu vực. Ông Hùng Cao cho rằng những thành tựu đạt được trong hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh là minh chứng rõ nét cho tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai giữa hai nước trong nhiều thập kỷ qua, giúp hàn gắn và chữa lành vết thương do chiến tranh để lại.
Chương trình Đối tác Thái Bình Dương - Bạn bè Thái Bình Dương 2026 được tổ chức mới đây tại Quảng Trị, vùng đất từng chịu nhiều đau thương bởi chiến tranh. Chương trình có sự tham gia của hàng trăm quân nhân, chuyên gia Hoa Kỳ cùng các cơ quan, đơn vị của Việt Nam. Hợp tác trong y tế, cứu trợ nhân đạo, phòng chống thiên tai, xử lý bom mìn hay giao lưu cộng đồng trong khuôn khổ Chương trình cho thấy đối ngoại ngày nay đã đi vào cuộc sống, mang lại lợi ích thiết thực cho người dân và góp phần kết nối con người, tăng cường hiểu biết và củng cố tình hữu nghị giữa các quốc gia.
Thực tiễn cũng cho thấy, đối ngoại quốc phòng ngày càng mở rộng theo hướng thiết thực và trách nhiệm. Việc Việt Nam và Canada đồng tổ chức khóa huấn luyện Sĩ quan tham mưu Liên hợp quốc sau khi khóa huấn luyện được Liên hợp quốc công nhận đạt chuẩn, ghi dấu mốc quan trọng trong quá trình chuyên nghiệp hóa và chuẩn hóa công tác đào tạo về gìn giữ hòa bình tại Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam. Rồi việc Việt Nam đăng cai Hội thảo quốc tế về Chương trình Hợp tác Ba bên trong Gìn giữ hòa bình với Liên hợp quốc, Australia và Nhật Bản đã cho thấy Việt Nam không chỉ tham gia mà đang đóng góp ngày càng chủ động vào các nỗ lực gìn giữ hòa bình quốc tế.
Đây chính là biểu hiện sinh động của một nền đối ngoại đang chuyển từ tham gia sang định hình và cùng kiến tạo.
Nếu như trước đây, đối ngoại chủ yếu được nhìn nhận là một trong những công cụ phục vụ giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước thì ngày nay, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, những biến động sâu sắc của kinh tế thế giới và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, đối ngoại đã được đặt vào vị trí mới trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia.
Đại hội XIV của Đảng xác định rõ đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, cùng với quốc phòng, an ninh góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi nhất cho phát triển đất nước. Điểm mới này không chỉ thể hiện sự phát triển trong tư duy lý luận mà còn phản ánh yêu cầu thực tiễn của một đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Quan trọng hơn, đối ngoại không dừng ở việc mở rộng quan hệ hay tranh thủ nguồn lực bên ngoài, mà hướng tới mục tiêu cao hơn là trực tiếp kiến tạo những điều kiện, những cơ hội và những động lực mới cho phát triển quốc gia. Nghĩa là, mỗi hoạt động đối ngoại phải hướng đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh, năng lực hội nhập, năng lực đổi mới sáng tạo và vị thế của đất nước trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Và tinh thần đó đang được hiện thực hóa bằng những hoạt động đối ngoại toàn diện, đồng bộ trên tất cả các trụ cột.
Từ các cuộc điện đàm, tiếp xúc cấp cao với lãnh đạo, quan chức cấp cao của Hoa Kỳ, Canada, New Zealand và Ấn Độ đến các hoạt động tại Liên hợp quốc; từ việc Việt Nam tiếp tục ủng hộ các nỗ lực tìm kiếm một giải pháp lâu dài, bền vững cho tiến trình hòa bình Trung Đông trên cơ sở giải pháp Hai Nhà nước đối với vấn đề Palestine, cho đến việc tăng cường hợp tác với UNICEF về bảo vệ trẻ em, giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, tất cả đều hướng đến mục tiêu chung là mở rộng không gian phát triển, nâng cao vị thế và tạo thêm nguồn lực cho đất nước.
Ở đó, lợi ích quốc gia - dân tộc luôn là nguyên tắc cao nhất, đồng thời Việt Nam cũng thể hiện rõ trách nhiệm của một thành viên tích cực, có trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; giữa lợi ích của đất nước với những giá trị chung của nhân loại; giữa kiên định nguyên tắc với linh hoạt trong phương thức triển khai.
Đối ngoại ngày nay cũng không là nhiệm vụ riêng, công việc riêng của ngành ngoại giao. Việc tăng cường cơ chế phối hợp giữa đối ngoại, quốc phòng và an ninh đã tạo nên sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Sự phối hợp chặt chẽ giữa ba trụ cột giúp xử lý hiệu quả các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống, nâng cao khả năng dự báo, tham mưu chiến lược và ứng phó với những diễn biến nhanh chóng của tình hình khu vực, thế giới.
Song song với đó, đối ngoại địa phương cũng ngày càng trở thành một mắt xích quan trọng trong tổng thể nền ngoại giao toàn diện, hiện đại. Nhiều địa phương đã chủ động mở rộng hợp tác quốc tế, xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch, kết nối doanh nghiệp và thu hút nguồn lực phát triển. Điều đó cho thấy đối ngoại đã thực sự lan tỏa đến từng cấp, từng ngành, từng địa phương, trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội ngay từ cơ sở.
Đây chính là sự cụ thể hóa quan điểm xuyên suốt của Đảng về phát triển nhanh và bền vững trên nền tảng độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện và hiệu quả. Và đó cũng là lý do cho thấy vì sao Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu phải chuyển ngoại giao Việt Nam trong giai đoạn mới "từ trạng thái Ngoại giao bảo vệ không gian phát triển sang Ngoại giao kiến tạo năng lực phát triển quốc gia; từ hội nhập thị trường sang kiến tạo thị trường; từ tham gia luật chơi sang góp phần định hình luật chơi".
Hạnh Quỳnh (TTXVN)

Gần 2,1 triệu đại biểu dự Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài





🌟 Sáng 30/6, tại Nhà Quốc hội, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và chỉ đạo Hội nghị.
Dự Hội nghị có: Đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ; đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội; đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội; đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.🇻🇳
Tham dự Hội nghị tại điểm cầu trung ương và điểm cầu tại các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Ban Bí thư, các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các đồng chí Ủy viên Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trung ương; các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể trung ương; các đồng chí lãnh đạo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; lãnh đạo Hiệp hội Doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam; đại diện lãnh đạo một số tập đoàn, doanh nghiệp FDI và tập đoàn doanh nghiệp của nhà nước, tư nhân.

29/6/26

Từ 1/7/2026, tung tin giả, sai sự thật trên mạng có thể bị phạt đến 50 triệu đồng


Nghị định số 174/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, bổ sung nhiều chế tài mới nghiêm khắc hơn nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn chuyển đổi số hiện nay.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định 174 là tăng cường xử lý đối với các hành vi vi phạm quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội, nhất là hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật.
Cụ thể, hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức; danh dự, nhân phẩm của cá nhân trên mạng xã hội có thể bị xử phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
Mức phạt này cũng áp dụng với một số hành vi khác như: đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy; chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn; quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm; cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia; cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm...
Đặc biệt, Nghị định quy định mức phạt từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:
Cung cấp, chia sẻ thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
Cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế-xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khát vọng của Đảng trong xây dựng gia đình hạnh phúc và quốc gia thịnh vượng




Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã đặt ra những mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn 2045 có liên quan trực tiếp đến nâng cao chất lượng cuộc sống cũng như hạnh phúc và sự hài lòng của nhân dân. Để mỗi quốc gia, dân tộc được hưng thịnh, hùng cường, phụ thuộc nhiều vào sự ấm no, hạnh phúc của mỗi gia đình.
Ngày gia đình Việt Nam năm nay (28/6) không chỉ tôn vinh những giá trị tốt đẹp của gia đình, gìn giữ và phát huy những ý nghĩa văn hóa, tinh thần đậm nét truyền thống Việt Nam.
Những luận điệu xuyên tạc về bức tranh u ám, nghèo đói, lạc hậu
Hành trình 96 năm thành lập Đảng, 81 năm thành lập nước là chặng đường lịch sử đầy tự hào, đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam. Từ một nước lạc hậu, đói nghèo, bị chiến tranh tàn phá, đất nước ta không ngừng nỗ lực vươn lên, ngày càng phát triển, khẳng định vị thế và uy tín trên trường quốc tế. Tuy nhiên với âm mưu chống phá, các thế lực thù địch tiếp tục luận điệu xuyên tạc, vẽ lên một bức tranh u ám rằng Việt Nam là một quốc gia nghèo đói, lạc hậu, đang bị lệ thuộc nước này nhằm chống nước kia hoặc dựa vào nước này để tránh sức ép từ nước khác.
Việc đưa ra những luận điệu cho rằng Việt Nam là một quốc gia “suy kiệt toàn diện” là một sự bôi nhọ hòng phủ định sạch trơn thành quả của đất nước, nhất là thành quả của sự nghiệp 40 năm đổi mới đất nước.
Nhằm thực hiện dã tâm chống phá Đảng, Nhà nước ta, suốt nhiều năm qua, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, hạ thấp vai trò, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong những năm qua, các luận điệu xuyên tạc đã vẽ lên một bức tranh u ám nhằm thêu dệt Việt Nam đã “nghèo đói”, “lạc hậu”, “tuổi trẻ thất học, con người suy nhược, bi quan, chán nản”...
Từ việc bôi nhọ hiện thực đất nước, chúng hướng lái rằng, muốn thoát nghèo Việt Nam phải từ bỏ chủ nghĩa xã hội, phải “tìm lại đường đi”; cho rằng những thành tựu kinh tế-xã hội trong 40 năm đổi mới của Việt Nam chỉ là “bề nổi, không bền vững”, vu cáo Việt Nam che giấu các vấn đề như bất bình đẳng nhân quyền, bình đẳng giới, sự phát triển phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài.
Với thủ đoạn đào sâu, “bới lông, tìm vết” các thế lực thù địch đã tìm cách thổi phồng vào những bất cập, khiếm khuyết còn tồn tại trong xã hội để quy chụp, xuyên tạc bản chất vấn đề hòng phủ nhận những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được trong công cuộc xây dựng và phát triển.
Nhiều bài viết quy kết rằng, hơn nửa thế kỷ sau giải phóng miền Nam là hơn nửa thế kỷ tụt hậu, đời sống nhân dân “không thể gượng dậy”! Đồng thời xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam với Trung Quốc hoặc Việt Nam với Hoa Kỳ rồi so sánh, quy kết rằng nguyên nhân dẫn đến tình trạng tụt hậu là “quán tính lệ thuộc đàn anh trong khối độc tài - toàn trị”. Xuyên tạc rằng sự lệ thuộc này đã khiến Việt Nam mất độc lập, tự chủ, phải luôn luôn dè chừng những phản ứng của Bắc Kinh, hoặc coi nhẹ mối quan hệ đối với Hoa Kỳ và các nước phương Tây…
Thông qua các tổ chức xã hội dân sự ở trong nước là chân rết của các tổ chức khủng bố, phản động lưu vong ở nước ngoài với danh nghĩa phản biện xã hội, kiến nghị, thư ngỏ, tâm thư… Chúng rêu rao rằng, muốn đất nước trở nên giàu có, người dân ấm no cần phải xây dựng thể chế đa nguyên, đa đảng; thúc đẩy tự do, dân chủ; thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc, phát triển độc lập và hội nhập quốc tế bằng những luận điệu như : “Đất nước phải bước vào kỷ nguyên mới! Nền tảng của kỷ nguyên này là xây dựng một thể chế tự do, dân chủ tôn trọng nhân quyền, chấp nhận đa nguyên”…
Ngoài ra, lợi dụng một số vướng mắc, bất cập trong việc di dời, tái định cư các hộ dân trong quy hoạch xây dựng dự án, cải tạo cảnh quan đô thị và thực hiện chế độ, chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng, nhất là vùng có đông đồng bào theo đạo, các thế lực thù địch đã tung ra luận điệu nguy hiểm như “người dân bị nhà nước cướp đất”, “nhà thờ bị tàn phá”, “người dân bị tước đoạt quê hương”…
Đồng thời các đối tượng lôi kéo, kêu gọi, tập hợp những người bất mãn, bức xúc nhằm tụ tập phản đối, gây mất an ninh, trật tự tại địa bàn. Đáng chú ý, nhiều thông tin xấu độc được phát tán trên không gian mạng dưới dạng bài viết, video, hình ảnh cắt ghép, bình luận mang tính áp đặt, quy chụp, gây chia rẽ người dân với chính quyền, kích động chống phá từ bên trong.
Chủ trương của Đảng, Nhà nước trong kiến tạo nền tảng của quốc gia hạnh phúc
Trong tâm thức của mỗi người, gia đình chính là trường học đầu tiên và suốt đời nuôi dưỡng, giáo dục con người, là nơi gìn giữ, bồi đắp và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc. Tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, sự thương yêu, đùm bọc, sự thủy chung, lòng hiếu nghĩa, sự cần cù lao động, sáng tạo… là những giá trị văn hóa được kết tinh và truyền tải qua lời ru của bà, của mẹ, lời dạy của ông, cha theo suốt cuộc đời của mỗi người, là hành trang giúp chúng ta vượt qua những khó khăn, thử thách để hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ, trở thành những công dân tốt của xã hội.
Từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn nêu cao khát vọng phát triển đất nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua những chặng đường rất vẻ vang và lớn mạnh cùng đất nước. Lấy độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu, động lực phấn đấu, Đảng đã đưa đất nước tiến lên, giành được thành quả rất to lớn.
Hiến pháp năm 2013 khẳng định, Nhà nước, xã hội tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân. Ngày 30/12/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2238/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030.
Theo đó, mục tiêu chung của chiến lược là xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, là hạt nhân, tế bào lành mạnh của xã hội, tổ ấm của mỗi người; là nơi nuôi dưỡng, bồi đắp nhân cách, lối sống tôn trọng đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc; phát huy, nhân rộng các giá trị tốt đẹp góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước.
Để góp phần hiện thực hóa các mục tiêu trên, phát huy vai trò của gia đình, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần có các giải pháp đồng bộ. Cùng với Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết chiến lược của Trung ương đều nhấn mạnh một tư tưởng xuyên suốt, đó là nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển.
Cụ thể, Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đưa ra các mục tiêu thiết thực, đó là người dân được tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng, hướng tới chăm sóc sức khỏe toàn diện. Từ năm 2026, người dân bắt đầu được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần, được lập sổ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe theo vòng đời, từng bước giảm gánh nặng chi phí y tế. Đến năm 2030, người dân được miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế theo lộ trình...
Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo nhấn mạnh, mục tiêu quan trọng đến năm 2030 là mở rộng tiếp cận công bằng, nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và phổ thông đạt trình độ tiên tiến trong khu vực châu Á. Đáng chú ý, chỉ số giáo dục đóng góp vào chỉ số phát triển con người (HDI) đạt trên 0,8, trong đó chỉ số bất bình đẳng giáo dục giảm xuống dưới 10%...
Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hóa giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội...
Bên cạnh đó, các nghị quyết chiến lược như Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước; Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20-8-2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045... là chỉnh thể thống nhất nhằm nâng cao toàn diện chất lượng cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân trong kỷ nguyên mới.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết quả thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn vừa qua, tỉ lệ hộ nghèo đã giảm đều qua các năm. Đến hết năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều còn 1,93%, đạt chỉ tiêu giảm 1-1,5%/năm được giao. Ngày 26/6/2025, Quốc hội đã thông qua nghị quyết về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2026 (The World Happiness Report), Việt Nam xếp hạng 45 toàn cầu với điểm số 6,428/10, cho thấy bước tiến tích cực trong bảng xếp hạng. Trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ hai, chỉ sau Singapore, cho thấy sự phát triển tích cực về chất lượng sống và phúc lợi xã hội. Việt Nam đã vượt qua Thái Lan, Indonesia và Malaysia, khẳng định vị thế là một trong những quốc gia có mức độ hạnh phúc cao nhất Đông Nam Á.
Năm 2026, Ngày Quốc tế Hạnh phúc được tổ chức tại Việt Nam với chủ đề "Hạnh phúc cho mọi gia đình", khẳng định gia đình là nền tảng, hạt nhân cốt lõi của xã hội phồn vinh, bền vững góp phần nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp và toàn xã hội về vai trò, vị trí của công tác gia đình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng là dịp để các địa phương giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm trong công tác gia đình, hướng tới sự phát triển bền vững của gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Đánh giá về sự thăng hạng chỉ số hạnh phúc của Việt Nam, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam Jonathan Wallace Baker nhận định: "Việt Nam đã được ghi nhận vì những tiến bộ đáng kinh ngạc trong việc nâng cao mức độ hạnh phúc của người dân. Tôi cho rằng, điều này xuất phát từ việc Việt Nam không chỉ chú trọng vào sự phát triển của đất nước nói chung mà còn tập trung vào sự phát triển bền vững và toàn diện của con người. Các nhà lãnh đạo Việt Nam không nhìn nhận đất nước chỉ như một quốc gia đơn thuần, họ nhìn nhận thông qua chính những người dân và luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hỗ trợ người dân".
Với những thành tựu nêu trên tiếp tục khẳng định rằng, dù thời cuộc thế giới và khu vực có nhiều biến động, nhiều đổi thay nhưng vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong dòng chảy lịch sử của dân tộc đã, đang và tiếp tục là lực lượng chính trị duy nhất có đủ vị thế, trí tuệ, năng lực, uy tín để lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện toàn diện công cuộc đổi mới, bảo vệ độc lập, chủ quyền và xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mọi sự xuyên tạc về vai trò, vị trí, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng và phát triển đất nước, con người Việt Nam đều không có giá trị và bị thực tiễn bác bỏ.
Hoàng Ly - Bình Nguyên
Báo CAND

28/6/26

5⃣ phương diện của “Chuẩn mực con người Việt Nam” trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng




Theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, có thể xác định 5 phương diện của “Chuẩn mực con người Việt Nam”, gồm: 


✔️Chuẩn mực về tư tưởng - lý tưởng - bản lĩnh chính trị: Con người ấy phải có lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, có đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, yêu thương con người và sống có trách nhiệm với cộng đồng.

✔️Chuẩn mực về đạo đức - nhân cách - lối sống: Xây dựng con người Việt Nam toàn diện lấy đạo đức làm cốt lõi, trong đó lòng yêu nước là chuẩn mực để cống hiến và phát triển đất nước. Đồng thời, tinh thần đoàn kết, ý chí tự cường gắn liền với khát vọng tự do, hạnh phúc là sức mạnh giúp dân tộc giữ vững bản sắc trong bối cảnh toàn cầu hóa. Cuối cùng, đạo “Hiếu” cùng lối sống cần cù, trọng tình nghĩa và ham học hỏi tạo nên nền tảng vững chắc để con người Việt Nam không ngừng vươn lên.

✔️ Chuẩn mực về tri thức, năng lực và tinh thần sáng tạo: Người Việt Nam hiện đại cần được trang bị năng lực tư duy logic, phản biện và sáng tạo; kỹ năng số, ngoại ngữ và hội nhập văn hóa; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tính chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp trong lao động. 

✔️ Chuẩn mực về tinh thần công dân và trách nhiệm xã hội: Công dân Việt Nam thời đại mới phải gắn liền với năng lực hành động và trách nhiệm xã hội, được thể hiện qua sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật, sống kỷ luật và có tinh thần công dân; tham gia hoạt động cộng đồng, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự xã hội; đóng góp trí tuệ, vật chất, tinh thần cho sự phát triển chung.

✔️ Chuẩn mực về thể lực và khả năng làm chủ cơ thể: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0, thể lực và chiều cao không chỉ là biểu hiện của sức khỏe cá nhân, mà còn là yếu tố cấu thành năng lực lao động, trí tuệ và sáng tạo của con người Việt Nam hiện đại.


Các chuẩn mực nói trên không tồn tại riêng rẽ mà liên kết hữu cơ trong một hệ giá trị thống nhất. Khi 5 phương diện này được vun bồi đồng bộ, con người Việt Nam sẽ hình thành nhân cách toàn diện: Vừa có lý tưởng cao đẹp, vừa sáng về trí tuệ, vừa cao về đạo đức, vừa mạnh về hành động.

#994B

27/6/26

Nhận diện luận điệu xuyên tạc việc triển khai Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026


Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện và kế thừa các quy định còn phù hợp của luật năm 2016, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ 1/1/2027, thay thế Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14. Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện và kế thừa các quy định còn phù hợp của luật năm 2016, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
1. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 là văn bản quy phạm pháp luật đại diện cho tiếng nói, lợi ích của các tổ chức tôn giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam hướng đến sự hội nhập, đồng hành với dân tộc, phát huy sức mạnh, nguồn lực tôn giáo vào sự phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, đối tượng phản động lợi dụng vấn đề tôn giáo đã đẩy mạnh các hoạt động xuyên tạc, chống phá với nhiều hình thức, thủ đoạn khác nhau nhằm phủ nhận, hướng lái bản chất của luật. Cụ thể:
Một là, xuyên tạc các nội dung đổi mới của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Các luận điệu xuyên tạc cho rằng, quá trình soạn thảo luật là “thiếu dân chủ”, “không mang lại lợi ích cho tổ chức tôn giáo”. Thậm chí, xuyên tạc việc Quốc hội thông qua luật là hành vi “vi hiến”, đi ngược lại lợi ích chính đáng của toàn thể cộng đồng chức sắc, chức việc và tín đồ trong nước. Trên trang fanpage facebook “BPSOS - Đề án Dân quyền Việt Nam” của tổ chức BPSOS do Nguyễn Đình Thắng cầm đầu từ tháng 1/2026 đến tháng 6/2026 đã đăng tải hơn 15 bài viết xuyên tạc.
Trong đó bài viết “Mối đe doạ đối với chức việc tôn giáo kể từ năm 2027” (đăng ngày 2/6/2026) đã xuyên tạc, mô tả việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 là “thể hiện sự lấn tới rất nguy hiểm của chính quyền Việt Nam đối với hoạt động của một tổ chức tôn giáo. Nó là một quy định xâm phạm tới hai quyền của mọi người bao gồm quyền tự do lập hội và quyền tự do tôn giáo”.
Liên quan đến các quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 về quản lý các hoạt động tôn giáo, các đối tượng đã xuyên tạc, biến vấn đề quản lý trở thành một điều “bắt buộc” dẫn đến “đàn áp tự do hoạt động tôn giáo”. Thậm chí tổ chức BPSOS mô tả rằng: “Việc chính quyền tự cho mình quyền đình chỉ hoạt động của chức việc trong một tổ chức tôn giáo thể sự lạm dụng quyền lực. Việc chính quyền tự cho mình quyền yêu cầu các tổ chức tôn giáo phải đình chỉ hoạt động của các chức việc thể hiện sự lộng quyền nguy hiểm hơn nữa”.
Nhiều đối tượng ở trong nước đã chia sẻ các bài viết, góc nhìn bình luận, đánh giá tiêu cực về quá trình soạn thảo, thông qua luật, so sánh việc thực thi luật với các mô hình các nước phương Tây, từ đó ca ngợi chế độ dân chủ tư sản là quan tâm đến “tự do tôn giáo”, quy kết chế độ chính trị tại Việt Nam “thiếu tính dân chủ”.
Hai là, các đối tượng sử dụng đa dạng các loại hình tuyên truyền xuyên tạc trên không gian mạng để nhanh chóng tiếp cận đến với người dân, cộng đồng chức sắc, tín đồ tôn giáo. Các đối tượng đã sử dụng nhiều kênh Youtube để tuyên truyền xuyên tạc nội dung của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo như kênh “Ba Ngoại”, “Nguyen Dung”, sử dụng AI để thay đổi giọng nói, tạo hình ảnh cắt ghép từ các vụ việc liên quan đến an ninh trật tự trong tôn giáo để quy kết chính quyền sử dụng luật như “công cụ đàn áp tôn giáo”.
Ở bên ngoài, các đối tượng tung lên các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền xuyên tạc quá trình soạn thảo, thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo như fanpage facebook “BPSOS - Đề án Dân quyền Việt Nam”, kênh fanpage của đài BBC phiên bản tiếng Việt, liên tục đăng tải các thông tin, bài viết tiêu cực với các chiêu thức như “góc nhìn đánh giá” của người dân, chức sắc, tín đồ tôn giáo, quan chức phương Tây có quan điểm chống phá chính quyền Việt Nam.
Ba là, các luận điệu xuyên tạc từ nhắm vào mục tiêu đả phá luật khi chưa triển khai thực hiện đến gây sự hoài nghi, kích động tâm lý bất mãn trong cộng đồng tôn giáo ở trong và ngoài nước. Tổ chức BPSOS đã lợi dụng việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 để công kích chính quyền, kích động tâm lý nghi ngại trong bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo. Một số chức sắc, tín đồ cực đoan đã lợi dụng vấn đề này để tuyên truyền gây tâm lý hoang mang đối với dư luận nội bộ các tổ chức tôn giáo.
Thậm chí, tổ chức BPSOS còn lợi dụng để gây sức ép, đòi hỏi đưa ra để thảo luận tại các phiên họp của Liên hợp quốc, kêu gọi: “Tình trạng trì hoãn không chịu ban hành luật về hội, kết hợp với các quy định tấn công vào những tổ chức hội về tôn giáo là thực trạng hiện nay tại Việt Nam. Thực trạng này cần phải được báo cáo cho quốc tế trong đó có Liên hiệp quốc biết để tạo thành một công tác đấu tranh trong ngoài với chính quyền độc đoán Việt Nam”.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bị Mỹ xếp vào “Danh sách các nước cần theo dõi về tự do tôn giáo - SWL”, việc lợi dụng xuyên tạc Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 đã có tác động tiêu cực đến góc nhìn đánh giá của Mỹ và các phương Tây đối với tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam.
2. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027. Trong thời gian tới, để phục vụ yêu cầu triển khai thực hiện luật có hiệu quả và bác bỏ quan điểm xuyên tạc, sai trái về luật, cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Thứ nhất, tập trung nhận diện các âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Để nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng tuyên truyền, xuyên tạc về Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026, cần thấy rằng luật mới có nhiều điểm tiến bộ, tích cực và mang tính kế thừa của luật năm 2016 trước đây. Tuy nhiên, các đối tượng đã khai thác tối đa những điểm mới, “khoảng trống”, kẽ hở trong luật mới để xuyên tạc về quyền tự do tôn giáo, quy chụp việc thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo với những biện pháp mang tính “cấm đoán”, tự cho mình quyền phán xét luật mới bằng cách hướng lái, phân tích các điều khoản trong luật theo xu hướng tiêu cực, không khách quan.
Thực tế cho thấy, các đối tượng xuyên tạc về luật đều không xuất phát từ góc nhìn bảo vệ lợi ích của tổ chức tôn giáo. Các thế lực thù địch bên ngoài tìm cách xuyên tạc luật mới nhằm hạ uy tín, từ đó vô hiệu hóa hoạt động quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Do đó, cần nhận diện mục đích thực sự của các đối tượng.
Thứ hai, tập trung đẩy mạnh tuyên truyền về bản chất tốt đẹp, tính chính danh, định hướng, lan tỏa thông tin tích cực về luật cho cộng đồng xã hội, nhất là đối với chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 là sự tiếp nối, mở rộng quyền tự do tôn giáo trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Quá trình tổ chức thực hiện luật phải dựa trên nguyên tắc đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của chức sắc, tín đồ tôn giáo. Nội dung tuyên truyền tập trung vào làm rõ tính ưu việt, hiệu quả thực chất của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026, góp phần hoàn thiện và chuẩn hóa khung pháp lý đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam tham gia hoặc thành viên. Qua đó, tiếp tục bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người theo quy định của pháp luật.
Mặt khác, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho việc phân quyền, phân cấp trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tăng tính chủ động của chính quyền địa phương, rút ngắn thời gian giải quyết công việc, đáp ứng kịp thời nhu cầu chính đáng của tổ chức, cá nhân trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Các quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, bổ sung các biện pháp quản lý nhà nước và đẩy mạnh chuyển đổi số sẽ giúp nâng cao tính công khai, minh bạch, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức tiếp cận thông tin, thực hiện thủ tục hành chính và tổ chức các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo hợp pháp; đồng thời hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước nâng cao năng lực theo dõi, giám sát, thống kê, dự báo và xử lý các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 đã lược bỏ, đơn giản hóa nhiều thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và dịch vụ công trực tuyến, góp phần giảm chi phí tuân thủ, tiết kiệm thời gian, công sức cho tổ chức, cá nhân; thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực số và nâng cao chất lượng phục vụ của cơ quan nhà nước.
Bên cạnh đó, môi trường pháp lý minh bạch, ổn định hơn sẽ góp phần củng cố niềm tin xã hội, tạo điều kiện để các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp, các nguồn lực của các tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được phát huy trong đời sống xã hội, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội. Đồng thời, các chính sách được xây dựng trên nguyên tắc không phân biệt giới tính, bảo đảm nam và nữ có cơ hội, điều kiện tham gia và thụ hưởng quyền lợi bình đẳng trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.
Thứ ba, thông qua vai trò, uy tín của chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo lên tiếng phê phán những quan điểm xuyên tạc, sai trái về quá trình biên soạn, thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026.
Những tiếng nói của chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo là minh chứng củng cố vững chắc vai trò của luật. Đồng thời, đảm bảo tính khách quan, minh chứng sống động phản bác những luận điệu xuyên tạc của các đối tượng.
Cần khẳng định rằng chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo lên tiếng phản bác các luận điệu xuyên tạc chính là bảo vệ lợi ích của tổ chức tôn giáo, chống lại những tác động tiêu cực xâm nhập, len lỏi vào tổ chức tôn giáo gây mất đoàn kết. Trong đó, căn cứ vào tình hình cụ thể của từng tôn giáo để hướng dẫn, định hướng nội dung phản biện cho chức sắc, chức việc và tín đồ một cách phù hợp, nhấn mạnh đến những hiệu quả, tính tích cực của luật để cộng đồng xã hội hiểu rõ hơn, từ đó không tin, nghe theo luận điệu xuyên tạc của các đối tượng.
Những tiếng nói của chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo có thể được thực hiện thông qua trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin, truyền thông chính thống… Thông qua hoạt động của chính họ khi giảng lễ, tham gia các sự kiện lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo. Các chức sắc, chức việc sẽ tuyên truyền, phân tích làm rõ các nội dung liên quan để làm cho quần chúng tín đồ hiểu rõ, tự giác chấp hành những quy định pháp luật. Mặt khác, để lan tỏa thông tin tuyên truyền trên không gian mạng, những tiếng nói, hình ảnh của chức sắc, chức việc trong tôn giáo có thể được xuất hiện rộng rãi ở các nền tảng ứng dụng, cơ quan truyền thông đại chúng, tạo sự lan tỏa rộng rãi cộng đồng tôn giáo ở trong và ngoài nước.
Thứ tư, ngăn chặn, xử lý, răn đe những hành vi xuyên tạc, chống phá trên không gian mạng.
Trên cơ sở vận dụng quy định pháp luật về An ninh mạng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản pháp luật khác để có biện pháp ngăn chặn hoạt động xuyên tạc, không để lây lan thông tin xấu độc. Sử dụng các công cụ biện pháp theo quy định pháp luật để xác định chính xác các đối tượng đang lợi dụng, đấu tranh, xử phạt hành chính, trường hợp đủ căn cứ cơ sở có thể khởi tố hình sự. Trong xử lý, cơ quan chức năng tổ chức tuyên truyền, chỉ rõ sai phạm, đính chính thông tin sai trái, để đối tượng cam kết không thực hiện các hoạt động xuyên tạc, chống phá.
Nguyễn Xuân Thịnh - Khoa NV3 - Học viện An ninh nhân dân
Báo CAND

Vì sao con người dễ bị dẫn dắt trên không gian mạng



Tác giả: GIA HƯNG


Nếu tin giả là những lời nói dối được tạo ra có chủ đích, còn “một nửa sự thật” là những thông tin bị cắt xén, bóp méo khỏi bối cảnh ban đầu, thì vẫn còn một câu hỏi quan trọng cần được giải đáp: Vì sao con người lại dễ dàng tin vào những thông tin ấy? Câu trả lời không chỉ nằm ở những người tạo ra thông tin sai lệch, mà còn nằm trong chính cách bộ não con người tiếp nhận và xử lý thông tin.


Không phải ai tin thông tin sai lệch cũng thiếu hiểu biết


Nhiều người vẫn cho rằng chỉ những người thiếu kiến thức hoặc nhẹ dạ cả tin mới bị ảnh hưởng bởi thông tin sai lệch. Tuy nhiên, các nghiên cứu về tâm lý học nhận thức cho thấy điều ngược lại. Con người không phải những cỗ máy xử lý thông tin hoàn toàn khách quan. Khi tiếp nhận một thông tin mới, mỗi cá nhân thường đánh giá nó dựa trên cảm xúc, kinh nghiệm, niềm tin và những nhận thức đã hình thành từ trước. Điều đó khiến ngay cả những người có trình độ cũng có thể đưa ra những nhận định sai lầm. Trong môi trường số hiện nay, thông tin sai lệch cũng ngày càng được xây dựng tinh vi hơn. Chúng không còn là những câu chuyện vô lý dễ bị phát hiện mà thường được pha trộn giữa dữ kiện có thật, suy diễn chủ quan và các thủ pháp dẫn dắt cảm xúc. Chính vì vậy, vấn đề không nằm ở việc ai thông minh hơn ai, mà nằm ở việc, liệu người tiếp nhận thông tin có đủ tỉnh táo để nhận ra những cơ chế tác động đang diễn ra phía sau những nội dung mình đọc, xem và chia sẻ hay không.


Con người thường tin điều mình muốn tin


Một trong những đặc điểm phổ biến nhất của con người là xu hướng tìm kiếm và tin tưởng những thông tin phù hợp với quan điểm, suy nghĩ sẵn có của bản thân. Trong tâm lý học, hiện tượng này được gọi là “thiên kiến xác nhận” (confirmation bias).


Khi một thông tin xuất hiện và trùng khớp với suy nghĩ, niềm tin hoặc định kiến đã có từ trước, bộ não thường có xu hướng chấp nhận nó dễ dàng hơn. Ngược lại, những thông tin trái với quan điểm cá nhân thường bị nghi ngờ hoặc bác bỏ ngay từ đầu.


Chẳng hạn, một người vốn có cái nhìn tiêu cực về một lĩnh vực nào đó sẽ dễ tin vào những thông tin phản ánh mặt tiêu cực của lĩnh vực ấy. Một người đã có thiện cảm với một cá nhân hoặc tổ chức nào đó cũng dễ bỏ qua những thông tin bất lợi liên quan đến đối tượng mình yêu thích. Điều này lý giải vì sao cùng một sự kiện nhưng những người khác nhau có thể tiếp nhận và diễn giải theo những cách hoàn toàn khác nhau. Nhiều khi, điều con người tìm kiếm không hẳn là sự thật mà là sự xác nhận cho những gì mình đã tin.


Khi cảm xúc nhanh hơn lý trí


Nếu lý trí cần thời gian để suy nghĩ thì cảm xúc lại phản ứng gần như tức thì, đó là lý do những thông tin gây sốc, phẫn nộ, lo lắng hoặc thương cảm thường lan truyền nhanh hơn nhiều so với các thông tin trung tính. Chỉ cần đọc một tiêu đề mang tính kích động, người dùng có thể lập tức bày tỏ cảm xúc hoặc chia sẻ cho người khác mà chưa kịp kiểm chứng. Trên thực tế, không ít tin đồn liên quan đến dịch bệnh, thực phẩm, thiên tai, bắt cóc trẻ em hoặc các vụ việc gây tranh cãi đã lan truyền với tốc độ rất nhanh vì tác động mạnh vào tâm lý sợ hãi và lo lắng của cộng đồng.


Trong những thời điểm cảm xúc bị kích thích mạnh, khả năng đánh giá thông tin một cách khách quan thường suy giảm đáng kể. Người ta chia sẻ vì lo lắng, vì tức giận hoặc vì muốn cảnh báo người khác, chứ không phải vì đã xác minh được tính chính xác của thông tin. Đây chính là lý do những người phát tán thông tin sai lệch thường cố gắng tác động vào cảm xúc trước khi tác động vào lý trí. Những tác động của tâm lý đám đông và thói quen chia sẻ nhanh trong môi trường số đang trở thành mối quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế.


Theo báo cáo Bihind the Screens do UNESCO công bố năm 2024, 62% nhà sáng tạo nội dung số được khảo sát cho biết họ không thực hiện việc kiểm chứng thông tin một cách có hệ thống trước khi chia sẻ tới công chúng; 42% thừa nhận sử dụng số lượt thích, lượt xem hoặc mức độ phổ biến của nội dung như một tiêu chí để đánh giá độ tin cậy của thông tin. Những con số này cho thấy trong môi trường mạng xã hội, sức hút và khả năng lan truyền của thông tin đôi khi đang được đặt cao hơn tính xác thực của thông tin. Không ít người chia sẻ một nội dung vì thấy nó đang được quan tâm hoặc được nhiều người hưởng ứng, thay vì dành thời gian kiểm chứng độ chính xác của thông tin đó.


Mối nguy từ thông tin sai lệch cũng đang được nhìn nhận ở quy mô toàn cầu. Báo cáo Rủi ro Toàn cầu năm 2025 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) tiếp tục xếp thông tin sai lệch và thông tin xuyên tạc vào nhóm những rủi ro ngắn hạn nghiêm trọng nhất đối với thế giới. Theo đánh giá của báo cáo, loại rủi ro này có thể làm xói mòn niềm tin xã hội, gia tăng chia rẽ và gây khó khăn cho quá trình ra quyết định của cộng đồng cũng như các quốc gia.


Nói cách khác, trong nhiều trường hợp, sự lan truyền của thông tin sai lệch không chỉ xuất phát từ công nghệ hay thuật toán, mà còn đến từ chính cách con người tiếp nhận và chia sẻ thông tin trên môi trường số.


Hiệu ứng đám đông trên không gian mạng


Tâm lý đám đông là một trong những đặc điểm phổ biến của con người. Khi thấy nhiều người cùng tin vào một thông tin, con người thường có xu hướng giảm bớt sự hoài nghi và dễ chấp nhận thông tin đó hơn.


Trên mạng xã hội, xu hướng này càng trở nên rõ rệt.


Khi nhìn thấy một bài viết có hàng chục nghìn lượt thích, hàng nghìn bình luận hoặc được chia sẻ rộng rãi, nhiều người mặc nhiên cho rằng nội dung đó đáng tin cậy. Số lượng tương tác vô tình được xem như một thước đo của sự thật.


Tuy nhiên, mức độ lan truyền không đồng nghĩa với độ chính xác. Thực tế tại Việt Nam cũng đã ghi nhận nhiều trường hợp thông tin chưa được kiểm chứng gây tác động đáng kể đến đời sống kinh tế - xã hội. Có thời điểm, các tin đồn liên quan đến hoạt động của một số ngân hàng đã khiến nhiều khách hàng lo lắng, đổ xô đi xác minh thông tin hoặc thực hiện các giao dịch bất thường. Mặc dù cơ quan chức năng và các tổ chức liên quan nhanh chóng lên tiếng bác bỏ, nhưng những phản ứng ban đầu của đám đông cho thấy chỉ một thông tin thiếu kiểm chứng cũng có thể tác động mạnh đến tâm lý xã hội.


Trong lĩnh vực lừa đảo trực tuyến, các đối tượng xấu cũng thường tận dụng hiệu ứng đám đông để tạo cảm giác tin cậy hoặc cấp bách. Nhiều vụ lừa đảo thành công không phải vì thủ đoạn quá tinh vi, mà vì nạn nhân nhìn thấy quá nhiều người khác đã tương tác hoặc tin vào thông tin đó.


Khi tâm lý con người trở thành mục tiêu khai thác


Những đặc điểm tâm lý như thiên kiến xác nhận, hiệu ứng đám đông hay xu hướng phản ứng theo cảm xúc không chỉ là hiện tượng tự nhiên trong đời sống xã hội. Trên không gian mạng, chúng còn trở thành mục tiêu khai thác của nhiều chủ thể khác nhau.


Một số cá nhân hoặc tổ chức khai thác các cơ chế này để thu hút lượt xem, lượt tương tác và doanh thu quảng cáo. Những tiêu đề giật gân, những thông tin gây sốc hoặc những nội dung được thiết kế nhằm kích thích tranh cãi thường dễ thu hút sự chú ý hơn các thông tin khách quan và cân bằng.


Trong lĩnh vực tội phạm mạng, các đối tượng lừa đảo cũng tận dụng tâm lý đám đông, sự tò mò hoặc nỗi lo sợ của người dùng để phát tán các thông tin giả mạo cơ quan nhà nước, ngân hàng hoặc doanh nghiệp nhằm chiếm đoạt tài sản.


Đáng chú ý hơn, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị cũng thường lợi dụng những đặc điểm tâm lý này để tác động đến nhận thức xã hội. Thay vì đưa ra những thông tin hoàn toàn bịa đặt dễ bị phát hiện, các đối tượng thường khai thác những vấn đề có thật, những hạn chế hoặc khó khăn đang tồn tại trong đời sống xã hội rồi cắt xén, thổi phồng hoặc diễn giải theo hướng tiêu cực.


Mục tiêu của họ không đơn thuần là làm cho công chúng tin vào một thông tin cụ thể. Điều họ hướng tới là tạo ra tâm lý hoài nghi, làm suy giảm niềm tin xã hội và từng bước dẫn dắt nhận thức theo những hướng có lợi cho mục đích của mình.


Khi đó, cuộc cạnh tranh trên không gian mạng không còn đơn thuần là cuộc cạnh tranh giữa các nguồn thông tin. Sâu xa hơn, đó là cuộc cạnh tranh nhằm giành lấy sự chú ý, niềm tin và nhận thức của con người.


Xây dựng “miễn dịch nhận thức” trong thời đại số


 Nếu tin giả được ví như một loại “virus” trên không gian mạng thì mỗi người dùng internet cũng cần xây dựng cho mình một hệ miễn dịch trước những thông tin độc hại ấy. Cũng giống như cơ thể cần vaccine để nhận diện và chống lại mầm bệnh, con người cần trang bị khả năng phản biện, kiểm chứng và đánh giá thông tin để không bị dẫn dắt bởi tin giả, tin đồn hoặc những “nửa sự thật”. Nhiều chuyên gia gọi đó là “miễn dịch nhận thức” - khả năng tự bảo vệ mình trước những tác động tiêu cực của môi trường thông tin số.


Trong bối cảnh thông tin bùng nổ hiện nay, khả năng tự bảo vệ mình trước các thông tin sai lệch đã trở thành một kỹ năng công dân quan trọng. Điều đó bắt đầu từ những thói quen rất đơn giản: Đọc toàn bộ nội dung thay vì chỉ đọc tiêu đề; kiểm tra nguồn tin trước khi chia sẻ; so sánh thông tin từ nhiều nguồn khác nhau; cảnh giác với những nội dung đánh mạnh vào cảm xúc; và luôn sẵn sàng xem xét những góc nhìn khác với quan điểm của bản thân.


Quan trọng hơn, mỗi người cần học cách chậm lại trước khi đưa ra kết luận.


Trong một thế giới mà thông tin được truyền đi chỉ trong vài giây, sự thận trọng đôi khi trở thành hàng rào bảo vệ hiệu quả nhất trước những nỗ lực dẫn dắt và thao túng.


Bên cạnh đó, báo chí chính thống tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp, định hướng thông tin chính xác, kiểm chứng các tin đồn và giúp công chúng tiếp cận sự việc trong bối cảnh đầy đủ. Các cơ quan quản lý, nền tảng công nghệ và mỗi người dân đều có trách nhiệm góp phần xây dựng một môi trường thông tin lành mạnh, minh bạch và đáng tin cậy hơn.


Không chỉ là cuộc chiến chống tin giả


Tin giả và những “nửa sự thật” chắc chắn vẫn là những thách thức lớn của thời đại số. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại hơn là khả năng con người bị dẫn dắt mà không nhận ra mình đang bị dẫn dắt. Bởi vậy, cuộc chiến bảo vệ sự thật không chỉ là cuộc chiến chống lại những người tạo ra thông tin sai lệch. Đó còn là cuộc chiến chống lại sự vội vàng, cảm tính và những định kiến tồn tại trong chính mỗi chúng ta.


Trong thời đại số, không ai có thể tránh hoàn toàn việc tiếp xúc với tin giả hay thông tin sai lệch, cũng như không ai có thể sống trong một môi trường hoàn toàn không có mầm bệnh. Điều quan trọng là mỗi người cần xây dựng cho mình một “hệ miễn dịch nhận thức” đủ mạnh để nhận diện, sàng lọc và đề kháng trước những thông tin độc hại. Khi biết kiểm chứng trước khi tin, suy nghĩ trước khi chia sẻ và giữ được sự tỉnh táo giữa dòng chảy thông tin khổng lồ, mỗi công dân số sẽ trở thành một “lá chắn” quan trọng góp phần bảo vệ sự thật trên không gian mạng.


Đó cũng chính là “liều vaccine” hiệu quả nhất để bảo vệ bản thân và bảo vệ sự thật trong kỷ nguyên số.


Báo QĐND


Ảnh minh họa:qdnd.vn 


#HSV

26/6/26

QUY ĐỊNH SỐ 19-QĐ/TW, NGÀY 08/4/2026 CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG TRONG ĐẢNG



 👉Công tác chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, giữ vai trò đi trước, mở đường trong công tác xây dựng Đảng. Ngày 08/4/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Quy định số 19-QĐ/TW về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên; tăng cường sự thống nhất về tư tưởng và hành động trong toàn Đảng.


 📖Quy định xác định mục tiêu xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.


 🖊️Mỗi cán bộ, đảng viên cần thường xuyên học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng; giữ vững niềm tin, lý tưởng, chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; phát huy tinh thần trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu trong công tác và cuộc sống.


 📝Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, định hướng dư luận xã hội; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng; kịp thời phát hiện, xử lý những biểu hiện lệch lạc về nhận thức và hành động.


 🔔Thực hiện tốt Quy định số 19-QĐ/TW góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo động lực thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc trong kỷ nguyên phát triển mới.


 🇻🇳Kiên định lý tưởng cách mạng – Giữ vững niềm tin của Nhân dân – Thống nhất ý chí và hành động – Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh


25/6/26

Trách nhiệm pháp lý trong không gian mạng


Trong “thế giới phẳng”,

một bài viết đăng tại Đức có thể gây tác động tại Việt Nam; một video phát từ Mỹ có thể lan truyền trong cộng đồng người Việt toàn cầu; một livestream từ Canada có thể tạo tranh cãi trong nước chỉ sau vài phút. Công nghệ dường như làm mờ ranh giới địa lý, nhưng không cho phép xóa bỏ trách nhiệm pháp lý.
Đề cao trách nhiệm tham gia mạng xã hội
Thực tế những năm gần đây cho thấy một số cá nhân người Việt sinh sống ở nước ngoài đã sử dụng Facebook, YouTube, website cá nhân, nền tảng livestream hoặc các hội nhóm trực tuyến để phát tán nội dung chính trị, xã hội liên quan Việt Nam. Trong số đó, có nội dung mang tính bình luận, phản biện; nhưng cũng có không ít nội dung sai sự thật, bịa đặt, xúc phạm danh dự, công kích lãnh đạo, xuyên tạc chính sách, gây tổn hại uy tín doanh nghiệp và hình ảnh quốc gia. Điểm cần phân biệt là: phê bình chính sách là quyền chính đáng; nhưng bịa đặt sự kiện, quy chụp vô căn cứ, phát tán thông tin chưa kiểm chứng gây thiệt hại cho tổ chức, cá nhân thì có thể phát sinh trách nhiệm pháp lý.
Không gian mạng cũng cần phải tuân thủ pháp luật. Một cá nhân có thể ngồi ở Berlin, Vancouver hay California để đăng bài, nhưng nội dung đó vẫn có thể bị xem xét theo nhiều hệ quy chiếu pháp lý khác nhau: pháp luật nơi người đăng cư trú, pháp luật nơi thiệt hại xảy ra, quy định của nền tảng số, điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp, cơ chế dẫn độ, cũng như các nguyên tắc chung về bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín thương mại và an ninh quốc gia.
Liệu có phải cứ sống ở phương Tây thì có thể nói, viết tùy thích? Thực tế, pháp luật các nước phương Tây bên cạnh việc bảo vệ tự do biểu đạt, đồng thời đặt ra giới hạn đối với phỉ báng, vu khống, đe dọa, kích động bạo lực, xâm phạm đời tư, phát tán thông tin sai sự thật gây thiệt hại. Tại Đức, Bộ luật Hình sự có các quy định về xúc phạm, phỉ báng, vu khống. Một sự kiện gây tổn hại danh dự người khác mà không chứng minh được sự thật có thể bị xử lý. Nếu biết thông tin là sai mà vẫn phát tán nhằm làm mất uy tín người khác, mức độ trách nhiệm càng nghiêm trọng hơn. Tại Canada, pháp luật về phỉ báng cũng đặt trọng tâm vào danh dự cá nhân và trách nhiệm của người công bố thông tin.
Tại Liên minh châu Âu, Đạo luật Dịch vụ Kỹ thuật số đặt ra khuôn khổ mới để buộc các nền tảng trực tuyến minh bạch và có trách nhiệm hơn trong xử lý nội dung bất hợp pháp, cơ chế khiếu nại, báo cáo nội dung và đánh giá rủi ro hệ thống… Từ đây cho thấy các nền dân chủ phương Tây vừa bảo vệ tự do biểu đạt, vừa gia tăng siết trách nhiệm nền tảng và trách nhiệm người dùng trước nội dung gây hại.
Nhận diện thủ đoạn chống phá
Theo dõi hoạt động truyền thông cực đoan của các cá nhân lưu vong thời gian qua, có thể nhận diện một số “mô hình” phổ biến như sau.
Thứ nhất là mô hình “livestream cảm xúc”. Người dẫn sử dụng giọng điệu gay gắt, tiêu đề gây sốc, bình luận trực tiếp theo thời gian thực, liên tục phản hồi bình luận để tạo cảm giác gần gũi. Livestream kéo dài nhiều giờ bên cạnh việc truyền tải thông tin, còn có thể tạo ra cộng đồng cảm xúc. Người xem không còn là khán giả thụ động, mà bị kéo vào trạng thái cùng phẫn nộ, cùng nghi ngờ, cùng chờ đợi một “bí mật” tiếp theo. Điều này dễ biến thông tin chưa kiểm chứng thành “sự thật cảm xúc”.
Thứ hai là mô hình “dữ kiện thật-kết luận giả”. Một phần dữ kiện có thể là thật: một vụ án, một thay đổi nhân sự, một khó khăn thị trường, một tranh cãi xã hội. Nhưng dữ kiện ấy bị tách khỏi bối cảnh, gắn thêm suy diễn, rồi được dẫn tới kết luận chính trị nặng nề như “khủng hoảng thể chế”, “đấu đá nội bộ”, “sụp đổ doanh nghiệp”, “đàn áp nhân quyền”. Người tiếp nhận chỉ nhìn thấy một mảnh sự thật, nhưng không nhận ra phần kết luận đã vượt quá nội hàm của dữ kiện.
Thứ ba là mô hình “quốc tế hóa vấn đề nội bộ”. Một vụ việc trong nước được đưa vào các diễn đàn, báo cáo hoặc chiến dịch vận động ở nước ngoài nhằm tạo áp lực dư luận. Việc quốc tế quan tâm đến nhân quyền, dân chủ, quyền tự do ngôn luận là điều bình thường trong quan hệ quốc tế hiện đại. Nhưng nếu quá trình quốc tế hóa dựa trên thông tin một chiều, bỏ qua bối cảnh pháp lý trong nước, biến người vi phạm pháp luật thành biểu tượng chính trị, thì đã trở thành công cụ gây sức ép hơn là đối thoại khách quan.
Thứ tư là mô hình “khủng hoảng hóa doanh nghiệp”. Một ngân hàng, một doanh nghiệp hay một thương hiệu lớn trong nước, có tác động đến ổn định kinh tế đã và đang trở thành mục tiêu “chính trị hóa” để thúc đẩy khủng hoảng. Chẳng hạn, lợi dụng tâm trạng của người dân bị giải tỏa kết hợp với nguồn tin về hoạt động hợp tác giữa một số ngân hàng với doanh nghiệp tham gia Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, lập tức một số tài khoản chống phá của Thoibao.de, Việt Tân kêu gọi cực đoan như: “Rút tiền khỏi các ngân hàng tài trợ dự án”, “Tẩy chay ngân hàng”, “Dùng sức mạnh tài chính để ngăn dự án”, thậm chí còn cổ xúy việc đồng loạt rút tiền nhằm “gây áp lực lên chính quyền”.
Hoặc sự kiện hãng VinFast mới ra đời đang tìm cách thâm nhập thị trường khó tính và đẳng cấp ở Mỹ, châu Âu, không tránh khỏi bị phê bình về sản phẩm, dịch vụ, chiến lược kinh doanh nhưng lại bị đẩy sang hướng quy chụp chính trị, gán ghép động cơ, cáo buộc thiếu chứng cứ, gieo tin đồn phá sản, thao túng thị trường,…, thì ranh giới pháp lý bắt đầu xuất hiện. Khủng hoảng ngân hàng đe dọa sụp đổ hệ thống tài chính một quốc gia. Uy tín một thương hiệu quyết định thành bại của doanh nghiệp. Do đó, các chiến dịch thông tin tiêu cực xuyên biên giới gây thiệt hại không chỉ cho doanh nghiệp thiệt hại mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin thị trường, tâm lý nhà đầu tư và hình ảnh quốc gia.
Vụ Vingroup/VinFast sử dụng công cụ pháp lý ở nước ngoài là minh chứng cho doanh nghiệp Việt Nam sử dụng chính pháp luật các quốc gia sở tại ở Đức, Canada, Mỹ để giải quyết trên cơ sở pháp luật với những đối tượng tấn công, bôi nhọ doanh nghiệp. Pháp luật nhiều quốc gia cho phép doanh nghiệp khởi kiện khi cho rằng uy tín, danh dự thương mại hoặc lợi ích kinh tế bị xâm hại bởi phát ngôn sai sự thật.
Như vậy, sống ở nước ngoài không đồng nghĩa với miễn trừ trách nhiệm pháp lý. Khoảng cách địa lý có thể làm việc xử lý phức tạp hơn, nhưng không làm biến mất nguyên tắc căn bản: quyền tự do biểu đạt đi kèm nghĩa vụ tôn trọng sự thật, danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Một xã hội văn minh không sợ tranh luận, nhưng không thể dung túng bịa đặt. Một quốc gia pháp quyền không ngăn cấm phê bình, nhưng có quyền bảo vệ mình trước thông tin sai lệch, vu khống, kích động và thao túng.
Với xu thế pháp luật chung và sự phát triển bùng nổ của không gian mạng, để bảo vệ thể chế và quyền lợi chính đáng của tổ chức, cá nhân đòi hỏi các quốc gia cần bắt tay nhau, cùng đối phó với các loại tội phạm xuyên biên giới, trong đó có tội phạm mạng và tin giả. Với uy tín chính trị ngày càng lớn, với vị thế quốc gia ngày càng được khẳng định, Việt Nam có đủ tự tin để tham gia và thúc đẩy tiến trình này.
Khánh Linh

21/6/26

Tự do báo chí và những minh chứng phản bác các luận điệu xuyên tạc

 



Trong thời đại bùng nổ thông tin, quyền tiếp cận thông tin và tự do báo chí trở thành một trong những tiêu chí phản ánh mức độ phát triển của mỗi quốc gia, thể hiện quyền dân chủ của con người.


Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực thường xuyên bị các thế lực thù địch, tổ chức phản động và một số cá nhân thiếu thiện chí lợi dụng để tung ra những luận điệu xuyên tạc về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.


Những luận điệu xuyên tạc


Năm nào cũng thế, đến hẹn lại lên, Tổ chức “Phóng viên không biên giới” (RSF) lại đưa ra các báo cáo về “Chỉ số tự do báo chí”. Gần đây, vào đầu tháng 5/2026, Tổ chức “Phóng viên không biên giới” lại công bố báo cáo thường niên về “Chỉ số tự do báo chí năm 2026”, tổ chức này đã đưa ra những đánh giá mang tính áp đặt, định kiến, xếp Việt Nam đứng thứ 174 trong số 180 quốc gia về tự do báo chí - thuộc nhóm các nước “có nền báo chí tồi tệ nhất thế giới”. Đây không phải lần đầu tiên RSF đưa ra báo cáo dựa trên những thông tin sai sự thật, không có cơ sở và có dụng ý xấu. Những luận điệu xuyên tạc của RSF thực chất là trò “bổn cũ soạn lại”, mục đích nhằm bôi đen hiện thực, vẽ ra bức tranh tối màu về tình hình tự do báo chí để đả phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.


RSF là một tổ chức phi chính phủ hoạt động toàn cầu, lấy Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên hiệp quốc làm cơ sở để hành động. Tôn chỉ hoạt động của tổ chức này đưa ra để bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực, giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Hằng năm, vào ngày Nhân quyền thế giới, tổ chức này thường đưa ra bảng xếp hạng về tự do báo chí của các quốc gia, vùng lãnh thổ bằng cách tổng hợp các câu trả lời vào một bảng câu hỏi của RSF.


Nhìn vào tôn chỉ hoạt động, tưởng chừng RSF là một tổ chức chân chính, hoạt động vì sự tiến bộ, thúc đẩy tự do và văn minh của thế giới. Nhưng trái ngược với chủ trương của Liên hiệp quốc, nhiều năm nay, tổ chức này thường xuyên có những luận điệu sai trái, xuyên tạc tình hình tự do báo chí, tự do ngôn luận của một số nước, trong đó có Việt Nam. Nhiều quốc gia trên thế giới cáo buộc RSF đứng đằng sau những vụ việc phức tạp, gây rối, bất ổn, kích động bạo lực. RSF tồn tại và hoạt động dựa vào một phần nguồn hỗ trợ kinh phí của một số chính giới phương Tây. Phần lớn những thông tin được đưa ra là không khách quan, không có hoạt động khảo sát, kiểm chứng thực chất mà đó là những đánh giá thiếu căn cứ hoặc được suy diễn, phóng đại.


Không chỉ có RSF, một số tổ chức, hội, nhóm, đối tượng cơ hội chính trị, đối tượng chống đối còn núp bóng “báo chí độc lập”, “ câu lạc bộ nhà báo tự do", "hội nhà báo độc lập", sử dụng tài khoản cá nhân chuyên đăng tải thông tin xuyên tạc, kênh YouTube hoặc Fanpage chia sẻ nội dung cắt ghép, suy diễn. Bằng sự đánh tráo khái niệm này khiến một số người hiểu nhầm, nhất là khi các thông tin sai lệch được thiết kế theo cách gây sốc, cảm tính, đánh vào tâm lý tò mò, thị hiếu của người sử dụng mạng xã hội.


Thực tiễn đời sống báo chí tại Việt Nam


Hiện nay, Việt Nam có một hệ thống báo chí phát triển rộng khắp với hàng trăm cơ quan báo chí hoạt động trên nhiều loại hình khác nhau từ báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình đến các nền tảng truyền thông số. Hàng chục nghìn nhà báo, phóng viên đang tác nghiệp mỗi ngày trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ những vấn đề lớn của đất nước đến những bất cập trong quản lý nhà nước, những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí hay những vấn đề dân sinh bức xúc đều được báo chí phản ánh kịp thời, công khai và rộng rãi.


Cụ thể, tại Điều 25, Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.


Điều 13, Luật Báo chí 2016 quy định: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.


Theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, tính đến 12/2025, cả nước có 778 cơ quan báo chí, gần 21.000 nhà báo được cấp thẻ trong cả lĩnh vực báo chí in, báo chí điện tử và phát thanh, truyền hình. Nhiều cơ quan báo chí đã hình thành mô hình báo và phát thanh - truyền hình, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả tuyên truyền. Nhiều nhà báo được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới.


Từ những ấn phẩm báo chí đầu tiên được xuất bản trong điều kiện hoạt động bí mật cho đến hệ thống báo chí hiện đại ngày nay, hơn một thế kỷ qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã khẳng định vai trò là lực lượng tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hóa của Đảng. Ra đời từ yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, báo chí cách mạng không chỉ làm nhiệm vụ truyền tải thông tin mà còn là ngọn đuốc soi đường, góp phần truyền bá tư tưởng cách mạng, khơi dậy tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh của nhân dân vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.


Trong những năm tháng đất nước còn chìm trong ách áp bức, ngòi bút của những người làm báo cách mạng trở thành vũ khí sắc bén, góp phần giác ngộ quần chúng, cổ vũ phong trào đấu tranh và củng cố niềm tin vào con đường cách mạng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Những trang báo khi ấy được viết nên trong điều kiện vô cùng gian khổ nhưng đã tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần quy tụ sức mạnh toàn dân tộc dưới ngọn cờ của Đảng.


Khi đất nước bước vào các cuộc kháng chiến trường kỳ bảo vệ Tổ quốc, báo chí tiếp tục đồng hành cùng dân tộc trên mọi mặt trận. Không ít người đã anh dũng hy sinh trong khi tác nghiệp, để lại những tác phẩm có giá trị lịch sử và tinh thần to lớn. Máu, mồ hôi và tâm huyết của các thế hệ người làm báo đã góp phần viết nên những trang sử hào hùng của nền báo chí cách mạng Việt Nam.


Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, báo chí tiếp tục phát huy vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; là diễn đàn phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân; đồng thời là lực lượng xung kích trong tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh việc lan tỏa những giá trị tích cực, báo chí còn tích cực tham gia phát hiện, đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.


Phát biểu tại cuộc gặp mặt 101 nhà báo tiêu biểu đoạt Giải Báo chí quốc gia qua các năm, nhân dịp kỷ niệm 101 năm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chia sẻ, đất nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới. Cơ hội rất lớn, nhưng yêu cầu đặt ra cũng rất cao. Vai trò của báo chí cách mạng càng quan trọng. Báo chí phải giữ vững bản lĩnh chính trị, nâng cao chất lượng thông tin, lắng nghe đời sống, nói đúng sự thật, nói trúng vấn đề và nói bằng trách nhiệm với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân.


Đồng thời, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu trong thời gian tới, báo chí phải góp phần bồi đắp văn hóa, đạo đức xã hội và khát vọng phát triển đất nước. Báo chí là một bộ phận quan trọng của đời sống văn hóa. Mỗi cơ quan báo chí, mỗi nhà báo không chỉ truyền tải thông tin, mà còn góp phần hình thành chuẩn mực ứng xử, thị hiếu thẩm mỹ, tinh thần nhân ái và ý thức công dân. Quán triệt tinh thần các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam, báo chí cần lan tỏa nhiều hơn những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam: yêu nước, trung thực, nghĩa tình, cần cù, sáng tạo, tôn trọng kỷ cương và luôn hướng tới cái chung.


Một lần nữa, chúng ta có đủ căn cứ khẳng định, sự thật luôn là câu trả lời thuyết phục nhất. Và thực tiễn sinh động của đời sống báo chí Việt Nam hôm nay chính là minh chứng không thể phủ nhận cho những thành tựu trong bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Lê Cao Thiên 


Báo CAND