SỰ THẬT ÍT NGƯỜI BIẾT VỀ NHÓM 72 - NƠI HỘI TỤ NHIỀU NHÀ VĂN, TRÍ THỨC CÓ TƯ TƯỞNG CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC
Đầu tiên, trước khi giải thích rõ về nhóm này, tôi muốn nhấn mạnh quan điểm của tôi nhận định rằng: Nhóm 72 không đồng nghĩa với phản động. Họ cũng có nhiều người yêu nước, chỉ là nhận định về chính trị, quan điểm của họ đã đi nhầm đường. Sau đó có những người đã thay đổi theo thời cuộc, nhưng đa số vẫn chấp mê bất ngộ và gây ra những vấn nạn, tiếp tay cho các thế lực phản động, đặc biệt là những lùm xùm quanh vấn đề của hội nhà văn gần đây. Cụ thể như thế nào thì xin mời mọi người đọc bài phân tích dưới đây.
Trong đợt lấy ý kiến sửa đổi Hiến pháp 1992 vào đầu năm 2013. Ngày 19/1, 72 nhân sĩ, trí thức ký tên đầu tiên vào “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992”. Ngày 4/2/2013, đoàn 15 người do Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, dẫn đầu đã trực tiếp trao kiến nghị cùng một dự thảo Hiến pháp thay thế cho Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp.
Về thực chất, họ đề nghị bỏ Điều 4 của Hiến pháp 1992, tức điều xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Vì vậy, đề xuất này sẽ loại bỏ địa vị lãnh đạo độc quyền được Hiến pháp quy định cho ĐCSVN và mở khả năng cho cạnh tranh chính trị/đa đảng.
Nhóm 72 cũng đề nghị bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây không phải là “bỏ quyền quản lý quân đội của Đảng” theo nghĩa quản lý hành chính, mà là loại bỏ nguyên tắc hiến định về sự lãnh đạo/trung thành của lực lượng vũ trang đối với ĐCSVN.
Vậy tại sao họ lại đòi hỏi như vậy thì hãy xét về bối cảnh thời điểm đó.
Đầu những năm 2010, sức hấp dẫn của mô hình dân chủ đa đảng đang rất lớn. Đông Âu sau khi rời bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa đã có Ba Lan, Czech hay các nước Baltic hội nhập thành công vào Liên minh châu Âu. Indonesia sau cải cách chính trị năm 1998 vẫn giữ được tăng trưởng. Philippines bước vào giai đoạn kinh tế phát triển tương đối nhanh. Malaysia có nhiều đảng phái cạnh tranh nhưng vẫn duy trì vị thế của một nền kinh tế khá phát triển trong khu vực. Đặc biệt, làn sóng “Mùa xuân Ả Rập” năm 2011 lúc đó còn được không ít người nhìn như biểu tượng của dân chủ hóa.
Vì vậy ở năm 2013, những người thuộc nhóm 72 tin rằng chỉ cần thay đổi thể chế theo hướng đa đảng, tăng cạnh tranh chính trị thì đất nước sẽ phát triển nhanh hơn, quyền lực sẽ được kiểm soát tốt hơn và xã hội sẽ tiến gần hơn tới những quốc gia phát triển.
Nhưng lịch sử sau đó cho thấy mọi chuyện phức tạp hơn rất nhiều.
Mùa xuân Ả Rập, từng tạo ra nhiều kỳ vọng, đã dẫn Libya, Syria và Yemen vào những cuộc khủng hoảng kéo dài. Ai Cập sau cuộc cách mạng năm 2011 chưa đầy hai năm đã lại chứng kiến quân đội can thiệp vào chính trị. Ngay tại Đông Nam Á, Thái Lan – một quốc gia có hệ thống nhiều đảng và bầu cử cạnh tranh – xảy ra đảo chính quân sự năm 2014, chỉ một năm sau Kiến nghị 72. Những năm tiếp theo, chính trường Thái Lan tiếp tục trải qua hàng loạt cuộc khủng hoảng, thay đổi chính phủ và xung đột giữa các trung tâm quyền lực.
Indonesia và Philippines không rơi vào tình trạng đó, nhưng cũng không chứng minh được rằng đa đảng đương nhiên tạo ra một nền quản trị vượt trội. Indonesia vẫn phải đối diện với ảnh hưởng của các nhóm lợi ích và giới tinh hoa chính trị. Philippines tiếp tục tồn tại tình trạng các gia tộc chính trị có ảnh hưởng rất lớn. Nói cách khác, lá phiếu cạnh tranh không tự động xóa bỏ tham nhũng, lợi ích nhóm hay bất bình đẳng quyền lực.
Trong khi đó, con đường mà Việt Nam lựa chọn sau năm 2013 lại cho một kết quả đáng chú ý.
Việt Nam không thay đổi chế độ chính trị theo đề xuất của nhóm 72, nhưng cũng không đóng cửa hay trì trệ. Trái lại, đất nước tiếp tục hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, tham gia hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trở thành một trung tâm sản xuất quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài. Thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, tỷ lệ nghèo giảm mạnh và quy mô nền kinh tế Việt Nam liên tục được mở rộng.
Quan trọng hơn, trong một giai đoạn thế giới trải qua hàng loạt cú sốc – cạnh tranh Mỹ-Trung, đại dịch COVID-19, chiến tranh thương mại, xung đột địa chính trị và sự dịch chuyển chuỗi cung ứng – Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định chính trị và khả năng hoạch định chính sách dài hạn. Chính sự ổn định đó đã trở thành một trong những yếu tố giúp Việt Nam hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế.
Điều này đặt ra một câu hỏi lớn đối với tư duy của năm 2013: nếu việc duy trì một hệ thống chính trị một đảng tất yếu dẫn đến trì trệ, tại sao Việt Nam trong hơn một thập niên sau đó lại tiếp tục tăng trưởng nhanh, hội nhập sâu và nâng cao vị thế quốc tế?
Câu trả lời có lẽ nằm ở một sự thật mà lịch sử ngày càng cho thấy rõ: số lượng đảng chính trị không phải yếu tố duy nhất, thậm chí chưa chắc là yếu tố quyết định sự phát triển của một quốc gia.
Singapore là minh chứng điển hình. Quốc gia này có bầu cử nhưng một lực lượng chính trị thống trị trong nhiều thập niên, đồng thời vẫn xây dựng được một trong những nền kinh tế và bộ máy quản trị hiệu quả nhất thế giới. Ngược lại, không ít quốc gia có đầy đủ hệ thống đa đảng vẫn chìm trong tham nhũng, xung đột chính trị và phát triển trì trệ.
Điều quyết định hơn là năng lực của Nhà nước, chất lượng đội ngũ lãnh đạo, khả năng kiểm soát quyền lực, pháp quyền, giáo dục, chính sách kinh tế, khả năng chống tham nhũng và năng lực bảo vệ lợi ích quốc gia.
Điều đó không có nghĩa mọi vấn đề mà nhóm 72 từng đặt ra đều vô nghĩa. Những câu hỏi về kiểm soát quyền lực, tham nhũng, trách nhiệm giải trình hay chất lượng thể chế vẫn là những vấn đề Việt Nam phải tiếp tục giải quyết. Không một hệ thống chính trị nào có thể coi mình là hoàn thiện và không cần cải cách.
Nhưng cải cách thể chế hoàn toàn không đồng nghĩa với việc nhất thiết phải chuyển sang đa nguyên, đa đảng.
Nhìn lại từ năm 2026, điểm yếu lớn nhất trong tư duy của nhóm 72 không nhất thiết nằm ở mong muốn đất nước tốt đẹp hơn, mà nằm ở việc đặt quá nhiều kỳ vọng vào một mô hình chính trị cụ thể. Lịch sử 13 năm qua cho thấy đa đảng không phải chiếc chìa khóa vạn năng cho phát triển, cũng không phải phương thuốc tự động chữa được tham nhũng hay kiểm soát quyền lực.
Việt Nam đã không lựa chọn con đường ấy năm 2013. Và thực tế sau hơn một thập niên cho thấy đất nước không những không rơi vào trì trệ như những dự báo bi quan, mà còn tiếp tục phát triển, hội nhập và củng cố vị thế quốc tế.
Và lịch sử cũng chứng minh, lựa chọn thể chế nào còn phải phụ thuộc vào vị trí địa lý. Không một cường quốc nào chấp nhận thể chế đối nghịch ở ngay sát sườn lại còn nắm giữ vị trí quan trọng. Hãy nhìn vào thái độ của Nga với Ukraina, Của Mỹ với Cuba là có thể hiểu. Việt Nam nằm ở ngay cửa ngõ Đông Nam Á và ảnh hưởng đến lối ra Ấn Độ Dương. Trung Quốc đã bị án ngữ lối ra Thái Bình Dương bởi Đài Loan thì làm sao có thể chấp nhận Việt Nam theo thể chế tư bản.
Không phải tự nhiên mà chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã từng đi khắp 5 châu 4 biển lại lựa chọn Xã hội chủ nghĩa làm con đường phát triển của dân tộc. Để giành lại độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Vậy cho nên các thành viên của nhóm 72 thân mến, không giúp được thì đừng chống phá. Còn nhiều cách khác để yêu nước.
Nguyễn Hải Long









