21/10/26

Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đan Mạch

 Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đan Mạch


Nhận lời mời của Nhà Vua Vương quốc Đan Mạch Frederik X, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Đan Mạch từ ngày 19-21/10/2026, nhân dịp hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.


Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) trân trọng giới thiệu "TUYÊN BỐ CHUNG VỀ VIỆC THIẾT LẬP QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN GIỮA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ ĐAN MẠCH":


Nhận lời mời của Nhà Vua Vương quốc Đan Mạch Frederik X, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Đan Mạch từ ngày 19-21/10/2026 nhân dịp hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.


Nhân chuyến thăm cấp Nhà nước này, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm và Thủ tướng Đan Mạch, bà Mette Frederiksen nhấn mạnh rằng kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1971, quan hệ Đối tác toàn diện năm 2013 và quan hệ Đối tác chiến lược Xanh năm 2023, Việt Nam và Đan Mạch đã phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt trên cơ sở tin cậy, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Trên cơ sở đó, và trước tiềm năng phát triển mạnh mẽ hơn nữa của hai nước, hai Nhà lãnh đạo nhất trí nâng cấp quan hệ Việt Nam - Đan Mạch lên Đối tác chiến lược toàn diện, vì lợi ích của cả hai quốc gia.


1. Hai bên nhấn mạnh lợi ích chung, sự tôn trọng, cùng các mối liên hệ lịch sử là trọng tâm của quan hệ đối tác song phương ngày càng phát triển. Hai bên tái khẳng định cam kết làm sâu sắc hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai quốc gia và đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng.


QUAN HỆ CHÍNH TRỊ


2. Hai bên hướng tới củng cố hợp tác chính trị và hiểu biết lẫn nhau thông qua việc tăng cường hơn nữa các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao song phương trên tất cả các kênh giữa các cơ quan Đan Mạch và Việt Nam, trong đó phía Việt Nam bao gồm Đảng Cộng sản, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và chính quyền địa phương.


3. Quốc hội hai nước, trong phạm vi thẩm quyền của mỗi bên, hướng tới đẩy mạnh:


(i) trao đổi đoàn và tiếp xúc song phương, đặc biệt giữa các Lãnh đạo, đại biểu, ủy ban, nhóm nghị sĩ hữu nghị của hai Quốc hội, bao gồm các nghị sĩ nữ và nghị sĩ trẻ; (ii) chia sẻ kinh nghiệm trong các hoạt động lập pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác song phương; (iii) phối hợp trong việc giám sát và thúc đẩy thực hiện hiệu quả các thỏa thuận song phương; (iv) tiếp xúc, tham vấn, hợp tác và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn nghị viện đa phương cũng như về các vấn đề khu vực và toàn cầu mà hai bên cùng quan tâm.


4. Hai bên tái khẳng định tiếp tục duy trì cơ chế Tham vấn chính trị giữa hai Bộ Ngoại giao nhằm tăng cường tin cậy chiến lược và hiểu biết lẫn nhau thông qua trao đổi quan điểm về các vấn đề khu vực, quốc tế hai bên cùng quan tâm và thúc đẩy hợp tác song phương trong thương mại, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, quốc phòng - an ninh, giáo dục, chuyển đổi xanh, nông nghiệp, y tế, thống kê, văn hóa, giao lưu nhân dân và các lĩnh vực cùng quan tâm khác, khi có thể.


5. Hai bên nhất trí cần nghiên cứu và triển khai các biện pháp nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho việc giao lưu và đi lại của công dân hai nước, ưu tiên đàm phán và ký kết thỏa thuận miễn thị thực đối với người mang hộ chiếu ngoại giao chứa dữ liệu sinh trắc học.


6. Hai bên hoan nghênh việc thành lập Tổng Lãnh sự quán Đan Mạch tại Thành phố Hồ Chí Minh.


HỢP TÁC QUỐC TẾ, KHU VỰC VÀ ASEAN


7. Hai bên cam kết tăng cường hợp tác và chia sẻ quan điểm tại các tổ chức, cơ chế đa phương và các tổ chức, cơ chế liên quan thông qua tăng cường trao đổi thông tin và kinh nghiệm về các vấn đề toàn cầu và khu vực như luật pháp quốc tế, bảo vệ quyền con người, phát triển khu vực và toàn cầu, bình đẳng giới, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, không phổ biến vũ khí hạt nhân, tội phạm xuyên quốc gia, an toàn và an ninh hàng hải, an ninh năng lượng, an ninh mạng, an ninh lương thực và nguồn nước, an toàn công cộng, y tế công cộng và các lĩnh vực liên quan khác.


8. Hai bên tái khẳng định cam kết ủng hộ chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế, với Liên hợp quốc giữ vai trò trung tâm trong giải quyết các vấn đề toàn cầu và khu vực; thúc đẩy và đưa ra các giải pháp hòa bình cho các tranh chấp quốc tế, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.


9. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, an ninh, ổn định, an toàn và tự do hàng hải và hàng không, cũng như thương mại không bị cản trở trên các vùng biển và đại dương, bao gồm Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của UNCLOS 1982, văn kiện xác lập khuôn khổ pháp lý toàn diện mà mọi hoạt động trên biển và đại dương phải tuân theo. Hai bên ủng hộ giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực.


10. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002. Hai bên cũng hoan nghênh những tiến triển tiếp theo hướng tới sớm hoàn tất một Bộ Quy tắc ứng xử hiệu quả và thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982. Về vấn đề này, Đan Mạch bày tỏ sẵn sàng, khi có thể, hỗ trợ các nỗ lực của ASEAN trong thúc đẩy kết nối hàng hải, cũng như an toàn và an ninh hàng hải.


11. Đan Mạch ghi nhận vai trò và tăng cường quan hệ với ASEAN, coi ASEAN là một thị trường quan trọng đối với thương mại và đầu tư, đồng thời là một tổ chức ngày càng quan trọng ở cấp khu vực và toàn cầu. Đan Mạch bày tỏ ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và tái khẳng định cam kết hỗ trợ các nỗ lực của ASEAN trong việc hiện thực hóa Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045.


12. Hai bên: (i) nhất trí tiếp tục tăng cường quan hệ Đối tác đối thoại theo lĩnh vực ASEAN - Đan Mạch cũng như quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN - EU, bao gồm trong các lĩnh vực ưu tiên chung như chuyển đổi xanh, năng lượng, kinh tế số, công nghệ và đổi mới sáng tạo; (ii) hoan nghênh hợp tác chung trong tăng cường chia sẻ kinh nghiệm về tìm kiếm - cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và ứng phó thiên tai trong ASEAN và các khuôn khổ đa phương phù hợp khác; (iii) ghi nhận tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác và đối thoại khu vực trong lĩnh vực hàng hải.


13. Hai bên ghi nhận tầm quan trọng của việc tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người mà hai bên là thành viên và vai trò của Đối thoại Nhân quyền thường niên Việt Nam - EU, và Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) thuộc Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.


HỢP TÁC THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ


14. Hai bên tái khẳng định quyết tâm chung thúc đẩy thương mại, đầu tư song phương và tháo gỡ các rào cản nhằm tăng kim ngạch thương mại và vốn đầu tư tại Việt Nam và Đan Mạch; đồng thời cam kết bảo vệ và thúc đẩy hệ thống thương mại quốc tế mở, dựa trên luật lệ, với WTO giữ vai trò trung tâm, và thúc đẩy các chuỗi giá trị hiệu quả, tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, đồng thời bảo đảm cải thiện khả năng tiếp cận thị trường phù hợp với Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và quan hệ đối tác giữa Liên minh châu Âu và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).


15. Hai bên cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác về thương mại, đầu tư, tài chính thông qua nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực, kết nối chuỗi cung ứng, đặc biệt trong các lĩnh vực lấy tính bền vững làm định hướng, bao gồm nhưng không giới hạn ở năng lượng tái tạo, an ninh năng lượng, sử dụng năng lượng hiệu quả, sản xuất, chế biến và công nghiệp công nghệ cao, thực phẩm và nông nghiệp, các giải pháp sinh học và công nghệ sinh học, giao thông vận tải và logistics, vận tải biển xanh, kinh tế biển, công nghiệp và hàng không, số hóa, y tế và giáo dục.


16. Hai bên thúc đẩy và khuyến khích: (i) doanh nghiệp Việt Nam và Đan Mạch tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu tư mạnh mẽ hơn vào thị trường của nhau, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao và có giá trị gia tăng cao, đồng thời thông qua tăng cường mạng lưới nhà cung cấp của Việt Nam; (ii) các tổ chức ngành nghề của Việt Nam và Đan Mạch tham gia các chương trình, triển lãm xúc tiến thương mại được tổ chức tại thị trường của nhau nhằm tăng cường hợp tác, mở rộng, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, và nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng. Hai bên nhất trí hỗ trợ lẫn nhau tiếp cận thị trường EU và ASEAN phù hợp với các nghĩa vụ hiện hành, bao gồm cả đối với công nghệ, phương thức thực hành và sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường, nhằm hội nhập hiệu quả hơn vào các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.


17. Hai bên khẳng định cam kết chung tổ chức luân phiên các kỳ họp của Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và công nghệ tại Việt Nam và Đan Mạch, nhằm tạo thuận lợi và tăng cường hơn nữa hợp tác đầu tư và ODA, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy phát triển công nghệ và chia sẻ tri thức, hỗ trợ Việt Nam chuyển dịch sang các chuỗi giá trị có giá trị cao hơn, năng suất cao hơn và bền vững.


18. Hai bên hoan nghênh và nhất trí triển khai hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và thúc đẩy các thành viên EU còn lại phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA), qua đó tiếp tục hỗ trợ thương mại và đầu tư giữa hai nước.


HỢP TÁC KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ


19. Hai bên ghi nhận giá trị của hợp tác nghiên cứu và thúc đẩy nghiên cứu chung trong các lĩnh vực cùng quan tâm trên cơ sở các khoản tài trợ của Trung tâm Học bổng Danida cho các dự án nghiên cứu chung, Cơ chế hỗ trợ các Mục tiêu phát triển bền vững của Đan Mạch và các cơ chế tài trợ nội bộ khác, với trọng tâm là: (i) tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa các cơ sở, tổ chức trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hỗ trợ hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu khoa học - công nghệ, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm của Đan Mạch về thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển vườn ươm công nghệ và hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chính phủ số, thành phố thông minh và các lĩnh vực cùng quan tâm khác; (ii) tạo thuận lợi cho trao đổi sinh viên và nhà nghiên cứu giữa các cơ sở theo các thỏa thuận hợp tác riêng của từng cơ sở và trong khuôn khổ các khoản tài trợ của Trung tâm Học bổng Danida, nhằm hỗ trợ xây dựng các kỹ năng cần thiết cho quá trình phát triển bền vững của Việt Nam.


HỢP TÁC QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ TƯ PHÁP


20. Hai bên ghi nhận hòa bình, ổn định và an ninh là những điều kiện thiết yếu cho tăng trưởng bền vững và chuyển đổi xanh; khẳng định quyết tâm đưa an ninh và quốc phòng trở thành một cấu phần hữu cơ của quan hệ đối tác này thông qua mở rộng đối thoại và hợp tác, trên tinh thần nâng cao khả năng chống chịu và hướng tới tương lai, đồng thời nhận thức rằng an ninh trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và châu Âu gắn bó không thể tách rời do tính chất phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế và bối cảnh địa chính trị rộng hơn.


21. Hai bên tập trung vào hợp tác quốc phòng và an ninh trong các lĩnh vực ưu tiên chung thông qua: (i) thiết lập cơ chế đối thoại song phương về an ninh hàng hải, với trọng tâm là nhận thức tình hình trên biển, tự do hàng hải và ứng phó với các mối đe dọa phi truyền thống đối với an ninh hàng hải, luật pháp và tiêu chuẩn quốc tế về hàng hải cũng như môi trường; (ii) ghi nhận tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác và đối thoại khu vực trong lĩnh vực hàng hải. Về vấn đề này, Đan Mạch bày tỏ sẵn sàng hỗ trợ các nỗ lực của ASEAN trong thúc đẩy kết nối hàng hải, an toàn và an ninh hàng hải.


22. Hai bên ghi nhận tầm quan trọng của Diễn đàn Cảnh sát biển ASEAN như một nền tảng thúc đẩy hợp tác và đối thoại khu vực về an ninh hàng hải. Hai bên sẽ ủng hộ tăng cường đối thoại trong khuôn khổ Diễn đàn Cảnh sát biển ASEAN nhằm củng cố quản trị hàng hải, bảo vệ các nguồn tài nguyên biển và góp phần duy trì ổn định trong không gian biển của Việt Nam.


23. Hai bên nhất trí nghiên cứu khả năng công nhận tùy viên quốc phòng thường trú hoặc không thường trú của nhau; qua đó tăng cường quan hệ quốc phòng, bao gồm tạo điều kiện trao đổi, khi có thể, về chính sách an ninh và quốc phòng và các thách thức an ninh khu vực tại châu Á và châu Âu trên các lĩnh vực liên quan.


24. Hai bên nhất trí nghiên cứu tiếp tục đối thoại về: (i) chính sách an ninh và quốc phòng, khi phù hợp, cũng như tăng cường hợp tác về các vấn đề quốc phòng và an ninh mà hai bên cùng quan tâm, có thể bao gồm nhưng không giới hạn ở các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, các mối đe dọa phi truyền thống và an ninh mạng; (ii) hợp tác, bao gồm cả hợp tác giữa EU và Việt Nam trong đấu tranh chống các loại tội phạm như mua bán người, đưa người di cư trái phép, tội phạm mạng, buôn bán ma túy xuyên biên giới, bóc lột tình dục, cũng như ứng phó với các mối đe dọa phi truyền thống thông qua nghiên cứu phát triển thêm các quy trình về di cư hợp pháp trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, cũng như các dịch vụ lãnh sự và cơ chế hợp tác pháp lý và lập pháp nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động phối hợp trong các lĩnh vực này; (iii) đẩy mạnh và củng cố hợp tác hiện có về tương trợ tư pháp, dẫn độ và chuyển giao người bị kết án phạt tù.


HỢP TÁC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TĂNG TRƯỞNG XANH


25. Hai bên nhất trí tiếp tục theo đuổi các mục tiêu đầy tham vọng của quan hệ Đối tác chiến lược Xanh song phương trong khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện bằng cách tiếp tục tăng cường đối thoại chính sách và thúc đẩy các hoạt động, sáng kiến cụ thể về khí hậu, an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và tăng trưởng xanh tại các diễn đàn song phương và đa phương liên quan, bao gồm nhưng không giới hạn ở JETP, P4G, COP (Hội nghị các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu - UNFCCC), IMO và ASEM.


26. Hai bên cam kết tạo thuận lợi cho tăng trưởng xanh và bền vững mạnh mẽ hơn tại Việt Nam thông qua thúc đẩy hợp tác nhằm: (i) giảm phát thải carbon trong lĩnh vực năng lượng và tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo thông qua các Quy hoạch năng lượng quốc gia, Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia và quan hệ Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP); và (ii) đẩy nhanh triển khai các dự án năng lượng tái tạo.


27. Hai bên khẳng định ủng hộ cải cách các ngân hàng phát triển đa phương nhằm cải thiện khả năng tiếp cận tài chính khí hậu của các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) để ứng phó với biến đổi khí hậu, bất bình đẳng kinh tế, các cuộc khủng hoảng môi trường và y tế. Việt Nam và Đan Mạch cam kết thúc đẩy các khoản đầu tư xanh mang lại lợi ích cho cả hai bên và có trách nhiệm với xã hội.


HỢP TÁC NĂNG LƯỢNG


28. Hai bên coi trọng hợp tác năng lượng chiến lược, bao gồm nhưng không giới hạn ở Chương trình Đối tác năng lượng Đan Mạch - Việt Nam (DEPP), đóng góp vào quá trình chuyển dịch năng lượng xanh công bằng tại Việt Nam thông qua tạo điều kiện phát triển năng lượng sạch và thực hiện các mục tiêu khí hậu dài hạn hướng tới một xã hội phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, tập trung vào quy hoạch hệ thống năng lượng, tích hợp năng lượng tái tạo, khử carbon và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong lĩnh vực công nghiệp.


29. Hai bên ủng hộ và sẵn sàng tạo thuận lợi, khi phù hợp, cho việc thiết lập các quan hệ đối tác công - tư về tăng trưởng xanh giữa các doanh nghiệp và tổ chức Đan Mạch và Việt Nam; thúc đẩy chia sẻ kinh nghiệm về phát triển thể chế và chuyển giao công nghệ sạch, đào tạo, nâng cao năng lực và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam, đặc biệt tập trung vào sử dụng năng lượng hiệu quả, năng lượng tái tạo, quy hoạch điện và năng lượng, công nghệ và giải pháp xanh và bảo vệ môi trường, trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với các bên liên quan như P4G.


HỢP TÁC GIAO THÔNG VẬN TẢI VÀ HÀNG HẢI


30. Hai bên nhất trí nghiên cứu khả năng hợp tác trong các lĩnh vực vận tải biển, hàng không, đường bộ và đường sắt; thúc đẩy kết nối giao thông và logistics; khuyến khích các hãng hàng không mở các đường bay thẳng giữa Việt Nam và Đan Mạch, cũng như các địa điểm thuận lợi khác ở Bắc Âu phù hợp với nhu cầu thị trường hiện tại và phù hợp với Hiệp định Toàn diện về Vận tải Hàng không ASEAN - EU (AE-CATA) cũng như các quy định hiện hành.


31. Hai bên nhất trí khuyến khích hợp tác hàng hải, đặc biệt trong các lĩnh vực thuộc phạm vi Quan hệ Đối tác chiến lược Xanh song phương, bao gồm: (i) chia sẻ kinh nghiệm, đào tạo và nâng cao năng lực; (ii) hàng hải xanh và vận tải đường thủy xanh; (iii) an toàn và an ninh hàng hải; (iv) quản lý và vận hành hệ thống cảng và logistics; (v) đóng tàu; (vi) giảm phát thải trong các hoạt động hàng hải; (vii) nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới cho vận tải biển, cũng như các lĩnh vực liên quan khác, khi phù hợp.


HỢP TÁC Y TẾ VÀ DƯỢC PHẨM


32. Hai bên tái khẳng định cam kết tiếp tục hợp tác chiến lược ngành trong lĩnh vực y tế nhằm củng cố hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Việt Nam trong phòng ngừa, phát hiện, điều trị và quản lý các bệnh không lây nhiễm, bao gồm tiểu đường và tăng huyết áp, thông qua xây dựng chính sách, lập kế hoạch, hướng dẫn và các mô hình thí điểm ở cấp tỉnh và địa phương; đồng thời nghiên cứu cơ hội hợp tác phòng ngừa và giảm thiểu tình trạng kháng thuốc kháng vi sinh vật (AMR), bao gồm hợp tác với các tổ chức chủ chốt như Trung tâm Quốc tế về Giải pháp Chống kháng thuốc (ICARS).


HỢP TÁC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO, LAO ĐỘNG


33. Hai bên đẩy mạnh hơn hợp tác giáo dục và đào tạo phục vụ thị trường lao động, bao gồm hợp tác chiến lược ngành về giáo dục và đào tạo kỹ thuật, nghề nghiệp (TVET), bao gồm cung ứng lao động và an toàn lao động, nhằm đóng góp vào tăng trưởng bền vững, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường liên kết hợp tác giữa các cơ sở đào tạo và trường học của hai bên, và tăng số lượng học bổng dành cho Việt Nam.


HỢP TÁC NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN


34. Hai bên nhất trí tiếp tục thúc đẩy hợp tác, bao gồm tận dụng hợp tác chiến lược ngành đang triển khai trong lĩnh vực nông nghiệp và an toàn thực phẩm để đạt được các kết quả trong và ngoài phạm vi dự án. Hợp tác sẽ được triển khai trong các lĩnh vực nâng cao năng lực quản lý nhà nước, khuôn khổ pháp lý cho sản xuất thực phẩm bền vững, nâng cao an toàn thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, giảm thất thoát và lãng phí thực phẩm, ghi nhãn hữu cơ do Nhà nước kiểm soát, thúc đẩy nông nghiệp xanh và chia sẻ thông tin trong các lĩnh vực như nông nghiệp, sản xuất thực phẩm, bao gồm khai thác và nuôi trồng thủy sản.


HỢP TÁC VỀ THỐNG KÊ


35. Hai bên khuyến khích hợp tác chiến lược ngành đang được triển khai trong lĩnh vực thống kê nhằm hỗ trợ Việt Nam phát triển dữ liệu và thống kê chất lượng cao, đặc biệt là hợp tác giữa Cơ quan Thống kê Đan Mạch và Cơ quan Thống kê Quốc gia Việt Nam, tập trung vào cải thiện khả năng tiếp cận và sử dụng dữ liệu hành chính thông qua số hóa và tích hợp dữ liệu, tăng cường sản xuất, truyền thông và phổ biến số liệu thống kê, nghiên cứu việc sử dụng các nguồn dữ liệu mới và mới nổi cho thống kê chính thức và phát triển các tài khoản môi trường - kinh tế phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế nhằm hỗ trợ việc ra quyết định dựa trên bằng chứng và theo dõi các mục tiêu chuyển đổi xanh quốc gia.


GIAO LƯU NHÂN DÂN VÀ HỢP TÁC GIỮA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG


36. Hai bên ghi nhận chính quyền địa phương và các cơ quan cấp dưới trung ương là một kênh quan trọng để triển khai quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện và thúc đẩy quan hệ song phương sâu sắc hơn, thực chất hơn và có nền tảng rộng hơn.


37. Hai bên ghi nhận và cam kết thúc đẩy hơn nữa mối liên kết ngày càng chặt chẽ giữa nhân dân hai nước thông qua nhiều hoạt động kinh doanh, địa phương, hiệp hội, xã hội và nghề nghiệp nhằm thu hút đầu tư, thúc đẩy thương mại và chia sẻ kinh nghiệm.


38. Hai bên sẽ tiếp tục tăng cường trao đổi và hợp tác trong lĩnh vực văn hóa; khuyến khích hợp tác trực tiếp giữa các tổ chức văn hóa Đan Mạch và Việt Nam trên cơ sở lợi ích chuyên môn chung và cam kết lâu dài, đồng thời thúc đẩy quan hệ giao lưu nhân dân.


39. Hai bên sẽ thúc đẩy hợp tác giữa chính quyền địa phương và các cơ quan cấp dưới trung ương, bao gồm trao đổi đoàn, thiết lập quan hệ đối tác giữa các tỉnh, thành phố và chia sẻ thông lệ hiệu quả nhất trong quản trị địa phương, cải cách hành chính và cung cấp dịch vụ công.


40. Hai bên sẽ khuyến khích chính quyền địa phương xây dựng các chương trình, dự án hợp tác và sáng kiến thí điểm cụ thể trong các lĩnh vực phù hợp với các ưu tiên của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, bao gồm phát triển đô thị xanh và bền vững, chuyển đổi năng lượng, năng lượng tái tạo, giao thông xanh, kinh tế tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, nông nghiệp bền vững, y tế, giáo dục, văn hóa và du lịch.


41. Hai bên tái khẳng định nghĩa vụ theo luật pháp quốc tế về việc tiếp nhận lại công dân của mình trên tinh thần thiện chí và không trì hoãn bất hợp lý, đồng thời cam kết tích cực hợp tác về các phương thức thực tiễn nhằm kịp thời xác định danh tính, cấp giấy tờ đi lại và hồi hương cho những công dân này.


CÁC ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG


42. Trên cơ sở Tuyên bố chung này, hai bên sẽ xây dựng các kế hoạch hành động để triển khai chung, bảo đảm công tác thực hiện hiệu quả.


43. Tuyên bố chung này có hiệu lực kể từ ngày được hai bên thông qua.


Thông qua tại Copenhagen ngày 20 tháng 10 năm 2026, gồm hai văn bản bằng tiếng Anh và tiếng Việt, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau.


Nguyễn Hồng Điệp/TTXVN


Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen trao Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Đan Mạch. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN



20/10/26

Lật tẩy chiêu bài “tị nạn chính trị” của đối tượng khủng bố Nguyễn Văn Đài

 

Nguyễn Văn Đài là đối tượng có bề dày hoạt động chống Đảng, Nhà nước và đã nhiều lần bị bắt, xử lý.



Trong bối cảnh toàn cầu hóa và làn sóng dịch chuyển, di cư quốc tế gia tăng mạnh mẽ, khát vọng tìm kiếm một môi trường sống tốt đẹp hơn, nâng cao thu nhập cho bản thân và gia đình là một nhu cầu hoàn toàn tự nhiên, chính đáng. Song chính khát vọng ấy lại bị một số đối tượng, tổ chức khủng bố, phản động lưu vong và các đường dây môi giới bất hợp pháp lợi dụng để dựng nên chiếc bẫy mang tên “tị nạn chính trị”, trong đó nổi lên đối tượng khủng bố Nguyễn Văn Đài mà Bộ Công an vừa thông tin cảnh báo.


“Tị nạn chính trị” và chân dung đối tượng khủng bố Nguyễn Văn Đài


Trong nhiều năm qua, không ít người sau khi ra nước ngoài vì các lý do, động cơ khác nhau đã coi “tị nạn chính trị” là con đường ngắn nhất để đổi đời nơi xứ người. Không ít đối tượng phản động, khủng bố ở hải ngoại ẩn náu dưới vỏ bọc này để tiến hành các hoạt động kiếm sống và chống phá đất nước.


Sau nhiều thập kỷ hoạt động lừa đảo, môi giới, cưỡng ép nhiều người Việt Nam ở nước ngoài dưới chiêu bài “phong trào đấu tranh dân chủ”, “chuyển lửa về quê nhà” của số đối tượng thuộc tổ chức khủng bố, phản động lưu vong tại hải ngoại đã rơi vào tình trạng mâu thuẫn lợi ích, tranh giành ảnh hưởng và phân rã sâu sắc… Hoạt động của các hội nhóm phản động lưu vong ngày càng mất chỗ đứng, bị cô lập và bị chính cộng đồng người Việt ở nước ngoài lên án, quay lưng. Trong phong trào và tổ chức ngày càng thoái trào, bị tẩy chay nhiều nơi, để có thêm người và mở rộng tổ chức, chúng hướng đến nhóm người Việt Nam ra nước ngoài học tập và làm việc bằng chiêu bài “tị nạn chính trị”. Trong đó, Nguyễn Văn Đài nổi lên là một trong những đối tượng hoạt động tích cực nhất.


Nguyễn Văn Đài là một cái tên quen thuộc không chỉ đối với người Việt Nam ở trong nước mà cả cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đài nổi tiếng không phải là người tài giỏi, có đóng góp gì cho cộng đồng người Việt tại CHLB Đức hay quốc gia nào mà luôn “làm nóng” bởi những phát ngôn, hành động ngông cuồng, tự tô vẽ bản thân và cổ súy cho các hoạt động khủng bố, mồi chài những người Việt Nam ra nước ngoài tham gia vào các hoạt động khủng bố dưới cái mác “tị nạn chính trị”.


Ngày 7/10/2026, Bộ Công an thông báo, căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an xác định đối tượng Nguyễn Văn Đài (sinh ngày 6/5/1969, quốc tịch Việt Nam, nơi ở hiện nay: Cộng hoà Liên bang Đức, thành viên giữ chức “Uỷ viên Trung ương” của tổ chức khủng bố Việt Tân) đã và đang tiến hành hoạt động khủng bố.


Nguyễn Văn Đài là đối tượng có bề dày hoạt động chống Đảng, Nhà nước và đã nhiều lần bị bắt, xử lý. Năm 2007, Nguyễn Văn Đài bị TAND TP Hà Nội tuyên phạt 4 năm tù và 4 năm quản chế về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam” theo Điều 88 Bộ luật Hình sự năm 1999.


Đến năm 2018, Nguyễn Văn Đài bị TAND TP Hà Nội tuyên phạt 15 năm tù và 5 năm quản chế về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 109, Bộ luật Hình sự, sau đó được tạm đình chỉ thi hành án, xuất cảnh sang Đức.


Ngày 5/12/2025, Cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an đã ra quyết định truy nã Nguyễn Văn Đài về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật hình sự. Cùng với Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài bị TAND TP Hà Nội xét xử vắng mặt với bản án 17 năm tù tại phiên xét xử sơ thẩm tháng 12/2025.


Có thể thấy, phần lớn những người bị đối tượng khủng bố Nguyễn Văn Đài lôi kéo vào con đường “tị nạn chính trị” vốn không phải là những phần tử có lịch sử, hoạt động chống đối hay có tư tưởng cực đoan, thù địch với Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Mục tiêu ban đầu khi họ ra nước ngoài nhằm học tập, lao động cũng như hướng đến một cuộc sống tốt hơn và góp sức xây dựng quê nhà. Nhưng sau đó họ bị sa vào cạm bẫy này do sự thiếu hiểu biết về pháp luật di trú, kỹ năng trình độ chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của nước sở tại, đồng thời bị dụ dỗ trước những lời hứa hẹn và thủ đoạn thao túng tâm lý của những đối tượng như Nguyễn Văn Đài và các đối tượng khủng bố, phản động lưu vong.


Sự nguy hiểm trong phương thức, thủ đoạn của Nguyễn Văn Đài và tổ chức khủng bố, phản động lưu vong không chỉ ở việc dụ dỗ, lôi kéo người tham gia các hoạt động biểu tình, trả lời phỏng vấn các kênh thông tin nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam mà còn biến những người vốn ra nước ngoài với mục đích học tập, lao động thành những công cụ, chân rết móc nối vào trong nước phục vụ hoạt động khủng bố, chống phá.


Thậm chí, ngay cả khi một số người chấp nhận đi theo con đường bánh vẽ “tị nạn chính trị” thay vì được giúp đỡ như hứa hẹn thì họ lại bị chính những đối tượng trên ép đóng những khoản chi phí đắt đỏ, không tên, không rõ mục đích để rồi thứ mà bản thân nhận lại là “nợ chồng nợ” và ngày càng phụ thuộc vào các đối tượng trên, tiền mất, danh dự không còn, người thân quay lưng, đường về mờ mịt. Một khi đã sa vào vũng lầy thì họ bị các đối tượng trên tiếp tục khống chế về tâm lý cũng như đánh mất khả năng tự quyết của chính bản thân mình, biến mình thành đối tượng phạm tội, khủng bố lúc nào không hay.


Nâng cao nhận thức và sự cảnh giác


Trong thế giới phẳng ngày nay, việc mỗi người đi, đến hay định cư ở một quốc gia nào đó hoàn toàn là quyền cá nhân, quan trọng là có đáp ứng được các yêu cầu của nước sở tại khi đến định cư hay không. Với nhiều người Việt Nam, việc đi ra nước ngoài học tập, làm việc và định cư, đến các nước phát triển là một sự lựa chọn bởi đất nước ta đang ngày càng mở rộng quan hệ hợp tác, phát triển kinh tế, hội nhập sâu rộng.


Nhưng ở một khía cạnh khác, vẫn còn những người thiếu năng lực, trình độ, không đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện lao động, làm việc, định cư tại nước ngoài, nhất là các nước phát triển nhưng vẫn luôn mang trong mình giấc mộng đổi đời, phù hoa. Cũng có người có chút năng lực nhưng ảo tưởng mình là tài năng, là hiếm có, cho rằng ở trong nước “nhân tài không được trọng dụng” nên tự lựa chọn đi theo bánh vẽ “tị nạn chính trị”.


Thực tế cho thấy, không ít đối tượng sau khi rời khỏi Việt Nam đã tham gia vào các hoạt động của Nguyễn Văn Đài và tổ chức khủng bố, phản động lưu vong, sau một thời gian thực hiện đã vỡ mộng với “giấc mơ miền đất hứa”, sống chật vật trong các trại tị nạn ở nước thứ ba…


Con đường “tị nạn chính trị” mà đối tượng Nguyễn Văn Đài và các tổ chức khủng bố, phản động lưu vong vẽ ra thực chất chỉ là một ảo vọng mơ hồ nơi xứ người. Tương lai chưa thấy nhưng điều đang chờ đợi họ là một vòng tròn bất ổn, phạm pháp, không có nơi ở hay công việc ổn định, luôn đứng trước nguy cơ bị xử lý về mặt pháp luật và trục xuất khỏi quốc gia sở tại. Ngay cả chính những đối tượng tự coi là “có kinh nghiệm” còn không chắc được cuộc sống ổn định nơi xứ người và bị chính cộng đồng người Việt ở nước sở tại quay lưng thì lấy điều gì để đảm bảo tương lai qua những lời hứa viển vông về một tương lai “tị nạn chính trị”.


Trước âm mưu, thủ đoạn của các tổ chức khủng bố, phản động lưu vong ở nước ngoài, mỗi người khi làm thủ tục đi lao động, học tập ở nước ngoài cần tìm hiểu kỹ về cá nhân, tổ chức môi giới, nâng cao cảnh giác không tin theo những lời hứa hẹn, dụ dỗ về bánh vẽ “tị nạn chính trị”, không tham gia, đóng tiền cho các hội nhóm trá hình đội lốt “tổ chức xã hội dân sự” mà thực chất là vỏ bọc ngụy trang của tổ chức khủng bố, phản động. Khi tham gia hội luận, hội thảo ở nước ngoài, cần xem xét rõ bản chất của các đơn vị, cá nhân tổ chức sự kiện để tránh bị lợi dụng.


Đối với các gia đình trong nước có người thân đi lao động, học tập tại nước ngoài cũng cần kịp thời thông tin cho người thân hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các tổ chức phản động, khủng bố, phòng ngừa bị lôi kéo, kích động. Mọi hành vi tham gia tổ chức phản động, khủng bố là vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam và sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.


Các hoạt động của đối tượng Nguyễn Văn Đài và các phần tử khủng bố, phản động lưu vong đã và đang gây ra những tác động xấu đến hình ảnh đất nước đối với quốc tế và sự ổn định của Việt Nam. Việc nhận diện rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng này và những thành phần tương tự là hết sức cần thiết để bảo vệ lợi ích quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình và phát triển bền vững.


Tuệ Thiên - Bình Nguyên 


Báo CAND 


Ảnh: Bộ Công an thông báo về đối tượng khủng bố Nguyễn Văn Đài.

#HSV 

#HSVChongDienBienHoabinh

Phản bác luận điệu xuyên tạc Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EFTA

 


Ngay sau khi Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch Tự do Châu Âu (EFTA) được ký tại Hà Nội ngày 18/10/2026, một số tài khoản trên không gian mạng đã vội đăng tải quan điểm cho rằng Việt Nam hao tổn thời gian, công sức suốt 14 năm chỉ để ký với một khối bốn nước, thay vì Liên minh châu Âu (EU) rộng lớn và rằng một thị trường khoảng 15 triệu dân thì chẳng mang lại giá trị gì. Cách nói ấy dễ thu hút vì chỉ dựa vào những con số dễ đếm là số nước và số dân. Nhưng khi đặt cạnh số liệu thương mại, nội dung hiệp định và lợi ích thực tế của doanh nghiệp, luận điệu ấy lộ rõ sự phiến diện, thậm chí xuyên tạc bản chất của một thỏa thuận kinh tế có lợi cho Việt Nam.


Lấy số nước và số dân làm thước đo giá trị của một thị trường là cách đo thiếu căn cứ. Giá trị của thị trường nằm ở sức mua, nhu cầu nhập khẩu, độ ổn định và khả năng bổ trợ cho nền sản xuất của đối tác. EFTA gồm Iceland, Liechtenstein, Na Uy và Thụy Sĩ, tuy chỉ có khoảng 15 triệu dân nhưng nhập khẩu hàng hóa khoảng 630 tỷ USD mỗi năm; đều là những nền kinh tế có thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm cao nhất thế giới, với người tiêu dùng khắt khe về chất lượng, tiêu chuẩn và tính bền vững. Một thị trường nhỏ về dân số nhưng lớn về sức mua và yêu cầu cao về chất lượng không thể bị coi là vô giá trị.


Thực tế thương mại đã trả lời rõ hơn mọi so sánh về quy mô. Năm 2025, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và bốn nước EFTA đạt khoảng 4,8 tỷ euro, chưa tính thương mại vàng của Thụy Sĩ. Trong đó Việt Nam xuất siêu khoảng 2,5 tỷ euro, gấp năm lần mức 0,5 tỷ euro của một thập kỷ trước. Máy móc thiết bị điện, giày dép, hàng may mặc và máy móc cơ khí là những nhóm hàng EFTA nhập từ Việt Nam nhiều nhất và các nhóm này đều tăng trưởng bình quân trên 10% mỗi năm trong mười năm qua. Điều đáng chú ý là mức tăng ấy đạt được khi hai bên chưa có hiệp định thương mại tự do song phương. Một thị trường bị cho là chẳng đem lại giá trị gì khó có thể tạo ra kết quả như vậy.


Giá trị của EFTA còn nằm ở vốn đầu tư và công nghệ. Đến ngày 30/9/2026, Thụy Sĩ có 247 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký khoảng 2,5 tỷ USD, xếp thứ 20 trong 154 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Na Uy cũng có hơn 60 dự án với vốn đăng ký hơn 201 triệu USD tính đến cuối năm 2025. Thế mạnh của khối này ở cơ khí chính xác, tự động hóa, thiết bị y tế, năng lượng sạch và nuôi trồng thủy sản trùng với những lĩnh vực Việt Nam đang cần để nâng cấp công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nghề và chuyển đổi xanh. Hai nền kinh tế vì thế bổ trợ cho nhau: một bên có công nghệ, tiêu chuẩn và năng lực quản trị, bên kia có năng lực sản xuất, nguồn nhân lực và vị trí kết nối với ASEAN.


Nội dung hiệp định cũng cho thấy đây không phải thỏa thuận cắt giảm thuế đơn thuần. Hiệp định bao trùm hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và phát triển bền vững. Khi hiệp định có hiệu lực, các nước EFTA cam kết duy trì việc xóa bỏ toàn bộ thuế nhập khẩu đối với hàng công nghiệp và thủy sản có xuất xứ từ Việt Nam. Về phần mình, Việt Nam mở cửa theo lộ trình, tối đa 11 năm với phần lớn hàng công nghiệp và thủy sản của EFTA, tối đa 16 năm với phô mai, cà phê, sô cô la, để doanh nghiệp trong nước có thời gian thích ứng. Với nông sản, ưu đãi dựa trên lợi ích và mức độ nhạy cảm riêng của mỗi bên, nên đây không phải tấm vé miễn thuế cho mọi mặt hàng. Quy tắc xuất xứ cho phép cộng gộp nguyên liệu từ một số nước ASEAN hoặc từ EU đối với hàng phi nông sản, giúp doanh nghiệp Việt linh hoạt hơn trong chuỗi cung ứng.


Càng không có cơ sở để dựng EFTA đối lập với EU như thể chọn bên này là bỏ bên kia. Việt Nam đã có Hiệp định EVFTA với EU và hiệp định VEFTA với EFTA là bước mở thêm các thị trường châu Âu nằm ngoài EU, chứ không thay thế hay làm suy yếu những gì đã có. Đại sứ Thụy Sĩ tại Việt Nam cũng nhận xét rằng cả hai phía đều có mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng, song cho đến nay chưa có hiệp định song phương nào giữa họ. Quy tắc cộng gộp xuất xứ với nguyên liệu từ EU là minh chứng rõ rằng hai khuôn khổ này bổ sung cho nhau, không loại trừ nhau. Với một nền kinh tế mở cần đa dạng hóa thị trường, đây là thêm một lựa chọn, không phải một sự đánh đổi.


Còn về con số “14 năm” bị đem ra để chê bai, cần nhìn đúng diễn biến. Đàm phán khởi động ngày 02/7/2012 tại Hà Nội, trải qua 16 vòng đến năm 2018 thì chậm lại do thiếu tiến triển, rồi được nối lại ngày 08/9/2025 và chỉ qua năm vòng đã kết thúc ngày 02/7/2026, tức là chưa đầy mười tháng. Một hiệp định toàn diện, đàm phán cùng lúc với bốn đối tác trên rất nhiều lĩnh vực, chỉ hoàn tất khi các bên cùng sẵn sàng. Thời gian đàm phán dài hay ngắn không quyết định giá trị của hiệp định, điều quyết định là nội dung đạt được và cách tận dụng sau khi có hiệu lực.


Dĩ nhiên, hiệp định mới ký, các bên còn phải hoàn tất phê chuẩn và mục tiêu đặt ra là hiệp định có hiệu lực từ đầu năm 2027. Lợi ích chỉ thành hiện thực khi doanh nghiệp nắm vững quy tắc xuất xứ, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường và cơ quan quản lý thực thi đầy đủ các cam kết. Như Bộ trưởng Bộ Công Thương nhấn mạnh, giá trị của hiệp định không đo bằng số dòng thuế được cắt giảm mà bằng số dự án được triển khai. Phản biện thẳng thắn về cách tận dụng cơ hội là điều cần thiết, nhưng dùng số nước và số dân để phủ nhận giá trị của hiệp định thì không còn là phản biện mà là xuyên tạc. Bốn nước, khoảng 15 triệu dân, nhưng cùng với 4,8 tỷ euro kim ngạch, hàng tỷ USD vốn đầu tư, công nghệ nguồn và những cánh cửa thị trường mới, EFTA xứng đáng là một đối tác quan trọng của Việt Nam.



18/10/26

VẠCH TRẦN SỰ XẢO NGÔN VÀ DỐT NÁT CỦA KẺ XUYÊN TẠC LỊCH SỬ

 



Bài đăng của tài khoản Phan Châu Thành giễu cợt Thầy thuốc Nhân dân, Bác sĩ Trần Văn Bản về cụm từ "đinh 5 tấc" găm trên hài cốt liệt sĩ Mậu Thân 1968 là một sự xuyên tạc tráo trở. Kẻ này đã cố tình cắt ghép hình ảnh, dùng tư duy cơ học máy móc để chế giễu một nhân chứng lịch sử. Tuy nhiên, chính hành vi chộp giật đó đã lập tức phơi bày sự dốt nát và ác ý của họ qua hai điểm logic cốt lõi sau:

Trước hết, kẻ xuyên tạc bộc lộ sự dốt nát thảm hại về kiến thức chuyên môn y khoa và văn hóa.

Nghe cụm từ "đinh 5 tấc", họ vội vã quy đổi máy móc theo hệ mét hiện đại: 1 tấc = 10 cm, để suy ra cây đinh dài nửa mét (50 cm) rồi cười cợt là hoang đường. Họ hoàn toàn mù tịt về kiến thức nhân trắc học và hệ ngôn ngữ của người làm ngành y.

Đối với một bác sĩ quân y kỳ cựu như cụ Trần Văn Bản, khi nhìn nhận và mô tả vết thương trên cơ thể người, ông sẽ sử dụng phản xạ hệ chiếu sinh học — cụ thể là đơn vị "thốn" (tấc y học). Một tấc sinh học được tính bằng chiều dài đốt ngón tay giữa của chính người đó, dao động từ 1,8 cm đến 2 cm. Phép tính nhân chuyên môn vô cùng đơn giản: 5 tấc y học chính là khoảng 9 cm đến 10 cm. Kẻ xuyên tạc không có một chút kiến thức y khoa, nên đã lấy cây thước mét của thợ mộc để đo đạc một thuật ngữ sinh học chuyên môn.

Hai là, sự xảo ngôn bộc lộ ở động cơ ác ý nhằm bôi nhọ nhân chứng và phủ nhận tội ác chiến tranh.

Kẻ xuyên tạc cố tình phớt lờ bối cảnh vị bác sĩ già ngoài 80 tuổi đang phát biểu trong niềm nghẹn ngào, u uất trước hương hồn đồng đội tại Công viên Lê Thị Riêng. Dù là dưới góc nhìn thuật ngữ y học (đinh dài 9-10 cm) hay ngay cả trong trường hợp giả định một cụ già lỡ lời nói nhầm giữa "phân" và "tấc", thì đó cũng là lỗi diễn đạt hoàn toàn dễ thông cảm. Nhưng kẻ xuyên tạc bất chấp sự thật, họ lập tức chộp lấy con số 50 cm tự suy diễn làm công cụ để hạ bệ uy tín của một người thầy thuốc. Mục đích tối thượng của sự xảo ngôn này là hướng dư luận đến sự hoài nghi, hòng phủ nhận những tội ác tra tấn tàn bạo mà kẻ thù đã gieo rắc lên thân thể các chiến sĩ.

Tóm lại, dù kẻ xuyên tạc có cố tình bẻ cong câu chữ, sự thật lịch sử vẫn là bằng chứng đanh thép bác bỏ mọi xảo ngôn của y. Những cây đinh sắt dài 9 cm – tương đương đúng 5 tấc sinh học – hiện vẫn đang được lưu giữ trang nghiêm tại các bảo tàng di tích lịch sử, là minh chứng cho sự hy sinh của các liệt sĩ. Việc lấy cây thước đo cơ học để bắt bẻ một thuật ngữ y khoa không những không hạ thấp được giá trị lời nói của người bác sĩ, mà trái lại, đã tự đóng dấu vết nhơ về sự dốt nát và suy đồi nhân cách của kẻ xuyên tạc trước lịch sử.

17/10/26

Cần tỉnh táo trước những “quan điểm khác” chủ trương của Đảng về trọng dụng nhân tài

 Cần tỉnh táo trước những “quan điểm khác” chủ trương của Đảng về trọng dụng nhân tài



Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, việc xây dựng cơ chế phát hiện, thu hút, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là yêu cầu khách quan. Tuy nhiên, trước những chủ trương mới của Đảng về thu hút, trọng dụng nhân tài, trong dư luận và trên không gian mạng có những hoài nghi, quan ngại, cả những suy diễn lệch lạc, những luận điệu bôi nhọ, chống phá chế độ đòi hỏi cần cách nhìn tỉnh táo, đảm bảo tính toàn diện, khách quan.


Trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gợi mở những vấn đề trọng tâm để Trung ương tập trung thảo luận, xem xét và quyết định, trong đó có vấn đề đổi mới công tác cán bộ, trọng dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững” phải xuất phát từ những nhiệm vụ chiến lược và năng lực đất nước đang thiếu. Cần đào tạo, thu hút, kết nối nhân tài ra sao để làm chủ công nghệ, nâng năng suất và sức tự chủ? Trọng dụng là khâu then chốt, tạo nguồn là công việc căn bản, lâu dài.


Chiều 8/10/2026, phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định, Trung ương đã quyết định đổi mới công tác cán bộ và chính sách thu hút, sử dụng nhân tài, chuẩn bị đội ngũ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Trên cơ sở tổng kết Nghị quyết số 26, Trung ương thông qua Nghị quyết mới về cán bộ và công tác cán bộ; đồng thời thông qua Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”.


Nghị quyết xác định 3 đột phá: đánh giá, lựa chọn, sử dụng và sàng lọc cán bộ; tạo nguồn, phát triển đội ngũ và trọng dụng nhân tài; hoàn thiện thể chế và phương thức quản trị cán bộ.


Liên quan Đề án này, tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIV (diễn ra từ ngày 5 đến 8/10/2026), Trung ương thống nhất xác định nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia, có vai trò quan trọng trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và sức mạnh tổng hợp của đất nước. Mục tiêu đặt ra là xây dựng hệ thống quản trị nhân tài quốc gia hiện đại, thống nhất, hiệu quả, có sức cạnh tranh quốc tế, hình thành đội ngũ nhân tài chất lượng cao đủ khả năng giải quyết những bài toán lớn và thực hiện các nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Đây là định hướng quan trọng nhằm cụ thể hóa yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn mới.


Tuy nhiên, trước những chủ trương về đổi mới công tác cán bộ, thu hút và trọng dụng nhân tài, việc xuất hiện các ý kiến băn khoăn, quan ngại, những tranh luận về tính khả thi, cơ chế thực hiện, tiêu chí tuyển chọn và chính sách đãi ngộ là điều cần được nhìn nhận khách quan. Bên cạnh những ý kiến phản biện có cơ sở, khi xuất hiện thông tin sai lệch, suy diễn hoặc quy kết thiếu căn cứ về mục tiêu và nội dung chính sách, những thông tin đó cần được kiểm chứng, phân tích và làm rõ trên cơ sở văn bản chính thức. Không thể lấy những hạn chế trong thực tiễn, những vụ việc tiêu cực để mặc nhiên phủ nhận toàn bộ chủ trương; đồng thời cũng không thể lấy mục tiêu đúng đắn làm lý do né tránh những vấn đề cần khắc phục trong quá trình thực hiện.


Một số quan điểm cho rằng, chủ trương thu hút và trọng dụng nhân tài chỉ mang tính hình thức, được nêu ra nhiều nhưng khó đi vào thực tiễn. Lập luận này thường xuất phát từ những băn khoăn về tình trạng sử dụng nhân lực chưa phù hợp, cơ chế tuyển dụng còn bất cập hoặc người có năng lực chưa được tạo điều kiện phát huy sở trường. Tuy nhiên, từ những hạn chế cụ thể để đi đến kết luận rằng toàn bộ chủ trương không có giá trị thực tiễn là cách đánh giá chưa toàn diện.


Cần phân biệt rõ mục tiêu chính sách, chất lượng thiết kế cơ chế và hiệu quả tổ chức thực hiện. Một chính sách chỉ thực sự phát huy tác dụng khi được cụ thể hóa thành quy định rõ ràng, có nguồn lực bảo đảm, có cơ chế giám sát và được đánh giá bằng kết quả thực chất. Vì vậy, thay vì phủ nhận chủ trương, điều cần thiết là xác định đúng những điểm nghẽn, làm rõ trách nhiệm và đề xuất giải pháp khắc phục.


Cũng có ý kiến cho rằng, việc dành cơ chế đặc thù cho nhân tài sẽ tạo ra đặc quyền, đặc lợi, làm mất công bằng trong tuyển dụng và sử dụng nhân lực. Đây là vấn đề cần được xem xét trên cơ sở phân biệt giữa đãi ngộ tương xứng với năng lực, đóng góp và việc trao lợi ích thiếu căn cứ. Trọng dụng nhân tài không đồng nghĩa với việc trao quyền hoặc ưu đãi vô điều kiện cho một nhóm người.


Ngược lại, chính sách này chỉ có thể đạt hiệu quả khi đi đôi với tiêu chí tuyển chọn khách quan, quy trình công khai, đánh giá bằng kết quả công việc và trách nhiệm giải trình. Người có bằng cấp cao, học hàm, học vị hoặc thành tích nổi bật cần được xem xét trên cơ sở năng lực thực tế và yêu cầu nhiệm vụ chứ không thể mặc nhiên được coi là phù hợp với mọi vị trí. Một cơ chế trọng dụng nhân tài đúng nghĩa phải bảo đảm vừa khuyến khích người có năng lực cống hiến, vừa ngăn ngừa lợi dụng chính sách để trục lợi cá nhân.


Một số ý kiến khác cho rằng, Việt Nam chỉ cần tập trung đào tạo nhân lực trong nước, không cần chú trọng thu hút chuyên gia từ nước ngoài hoặc ngược lại cho rằng, muốn phát triển nhanh thì phải dựa chủ yếu vào nhân lực được đào tạo ở nước ngoài. Cả hai cách tiếp cận nếu tuyệt đối hóa một nguồn lực đều chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu phát triển. Thực tiễn cho thấy, xây dựng đội ngũ nhân tài cần kết hợp nhiều giải pháp: phát hiện và bồi dưỡng người có năng lực trong nước; tạo điều kiện để chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp; đồng thời tiếp thu tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quản trị tiên tiến của thế giới. Điều quan trọng không phải là nhân tài được đào tạo ở đâu, mà là năng lực của họ có phù hợp với nhiệm vụ, có tạo ra giá trị thực chất và có được phát huy trong một môi trường làm việc thích hợp hay không.


Đáng chú ý, việc thu hút người tài không thể chỉ dừng lại ở chính sách tiền lương, tiền thưởng hoặc những lời kêu gọi cống hiến. Người có năng lực cần được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, được giao nhiệm vụ phù hợp, có cơ hội tiếp cận nguồn lực, được bảo đảm điều kiện nghiên cứu và sáng tạo, đồng thời được đánh giá công bằng theo kết quả thực hiện nhiệm vụ. Nếu cơ chế quản lý còn nặng tính hành chính, thủ tục phức tạp, đánh giá thành tích hình thức hoặc chưa bảo vệ đầy đủ những người dám đổi mới vì lợi ích chung thì khả năng thu hút và giữ chân nhân tài sẽ bị hạn chế. Bởi vậy, trọng dụng nhân tài phải gắn liền với đổi mới thể chế, cải thiện môi trường làm việc, nâng cao chất lượng quản trị và xây dựng văn hóa tôn trọng tri thức, khuyến khích sáng tạo.


Một vấn đề khác cần được nhìn nhận thẳng thắn là mối quan hệ giữa chính sách trọng dụng nhân tài và công tác cán bộ. Không thể đồng nhất người có chuyên môn giỏi với người đương nhiên phù hợp để đảm nhiệm vị trí lãnh đạo, quản lý; cũng không thể xem việc bổ nhiệm vào chức vụ cao là thước đo duy nhất của sự trọng dụng. Trong nhiều lĩnh vực, nhân tài có thể phát huy giá trị lớn nhất thông qua nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, giảng dạy, khám chữa bệnh, đổi mới sản xuất hoặc giải quyết những vấn đề chuyên môn phức tạp. Vì vậy, cần xây dựng các cơ chế sử dụng nhân lực linh hoạt, phù hợp với đặc thù ngành nghề, coi trọng sản phẩm và hiệu quả công việc, tạo điều kiện để người có năng lực đóng góp mà không bị giới hạn bởi tư duy coi chức vụ là con đường duy nhất để khẳng định giá trị.


Từ thực tiễn đó, việc đánh giá chủ trương thu hút và trọng dụng nhân tài phải dựa trên những tiêu chí cụ thể, có thể kiểm chứng. Các cơ quan có thẩm quyền cần công khai tiêu chuẩn tuyển chọn, quy trình đánh giá, chế độ đãi ngộ, trách nhiệm của người được tuyển dụng và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Cần có cơ chế kiểm tra, giám sát nhằm ngăn ngừa tình trạng tuyển chọn dựa trên quan hệ cá nhân, thiên vị hoặc lợi ích nhóm, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng chính sách. Đối với những trường hợp người có năng lực chưa được sử dụng đúng mức, cần làm rõ nguyên nhân từ cơ chế, tổ chức thực hiện hay điều kiện khách quan để có biện pháp khắc phục phù hợp. Đây là cách tiếp cận vừa bảo đảm tính nghiêm túc trong thực hiện chủ trương, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia.


Đường lối phát triển đất nước được xác định tại Đại hội XIV của Đảng cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Những định hướng này gắn với yêu cầu giải phóng các nguồn lực, nâng cao năng suất lao động, xây dựng nền kinh tế có năng lực cạnh tranh và tăng cường sức mạnh tự chủ của quốc gia.


Trên không gian mạng, các thông tin liên quan đến chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài cần được tiếp nhận với tinh thần tỉnh táo, khách quan. Khi gặp những nhận định cho rằng chính sách chỉ nhằm phục vụ lợi ích của một nhóm người hoặc khẳng định việc triển khai chắc chắn không đem lại kết quả, người đọc cần kiểm tra nguồn tin, đối chiếu nội dung văn bản và xem xét các bằng chứng được đưa ra. Những cáo buộc cụ thể phải được xác minh trên cơ sở tài liệu và sự kiện; không nên mặc nhiên coi mọi ý kiến trái chiều là sai trái, cũng không nên tiếp nhận các kết luận chưa có căn cứ như sự thật đã được chứng minh. Phản biện có trách nhiệm phải dựa trên dữ liệu, lập luận rõ ràng và tinh thần xây dựng; phản bác thông tin sai lệch cũng phải tuân thủ chính những yêu cầu đó. Với những luận điệu vin cớ những tồn tại, những vụ việc tiêu cực trong công tác cán bộ để quy kết, chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ chế độ thì cần phải đấu tranh, loại trừ.


Cùng với đó, cần chú trọng giải quyết những nguyên nhân thực tế làm phát sinh sự hoài nghi, bi quan. Khi cơ chế tuyển chọn minh bạch hơn, người có năng lực được đánh giá công bằng hơn, chế độ đãi ngộ gắn với đóng góp rõ ràng hơn và những hạn chế trong thực hiện được kịp thời khắc phục, niềm tin vào chính sách sẽ được củng cố bằng kết quả thực tế. Công tác tuyên truyền, giải thích vì vậy cần gắn với đối thoại, công khai thông tin và trách nhiệm giải trình; không chỉ khẳng định mục tiêu mà còn làm rõ cách thức triển khai, kết quả đạt được và những vấn đề đang tiếp tục được giải quyết.


Đối với các cơ quan, đơn vị, việc thực hiện chủ trương thu hút và trọng dụng nhân tài phải bắt đầu từ đổi mới nhận thức và phương pháp quản lý. Người đứng đầu cần quan tâm phát hiện người có năng lực, giao nhiệm vụ đúng sở trường, tạo điều kiện để cán bộ, chuyên gia phát huy sáng kiến và đánh giá công việc trên cơ sở kết quả cụ thể. Các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần tăng cường liên kết, tạo môi trường để tri thức được chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ và giá trị kinh tế - xã hội. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên và người lao động, cần chủ động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát huy tinh thần trách nhiệm và đóng góp bằng kết quả công việc thực chất.


Nhìn tổng thể, thu hút và trọng dụng nhân tài không phải là nhiệm vụ có thể hoàn thành chỉ bằng một văn bản hoặc một đợt tuyển dụng mà là quá trình lâu dài đòi hỏi sự phối hợp giữa thể chế, nguồn lực, môi trường làm việc và chất lượng tổ chức thực hiện. Việc nhận diện, phản bác những thông tin sai lệch về chủ trương này cần gắn với yêu cầu tôn trọng sự thật, bảo đảm tính khách quan và chủ động hoàn thiện chính sách, khắc phục những tồn tại, hạn chế. Những ý kiến góp ý có căn cứ cần được tiếp thu; những hạn chế trong thực tế cần được rà soát và xử lý; những nhận định suy diễn, thiếu bằng chứng cần được làm rõ bằng thông tin chính xác và lập luận khoa học.


TS. Thượng tá Trần Thị Thuý Hà, Học viện Cảnh sát nhân dân

Báo CAND 

#HSV 

#HSVChongDienBienHoaBinh 

#HSVTrongDungNhanTai

15/10/26

Trọng dụng tốt nhân tài để có những “hiền tài” cống hiến cho đất nước

 

Nhấn mạnh trọng dụng nhân tài là khâu có ý nghĩa quyết định đối với việc phát huy trí tuệ con người Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn khẳng định, khi được trọng dụng tốt, nhân tài sẽ trở thành những “hiền tài”, đem tài năng của mình phục vụ cho xã hội, phục vụ cho đất nước, góp phần đưa đất nước phát triển.


Đánh giá cán bộ phải căn cứ vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ


Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV vừa qua, Trung ương đã quyết nghị thông qua một số văn kiện, trong đó có: Nghị quyết về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Kết luận về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.


Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, khẳng định đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước đã có những đóng góp quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước.


Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy công tác cán bộ còn những vấn đề hạn chế, bất cập cần phải đánh giá một cách đầy đủ và rút ra bài học kinh nghiệm. Điều này đã được Trung ương nhận diện, bàn kỹ lưỡng và đưa ra 3 khâu đột phá trong Nghị quyết mới.


“Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Nếu không đột phá vào công tác cán bộ, không đột phá vào cái “gốc” này thì thành quả cách mạng sẽ bị hạn chế, niềm tin của nhân dân đối với Đảng có thể suy giảm”, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nhấn mạnh.


Bên cạnh yêu cầu chủ quan nói trên, ông cho rằng yêu cầu khách quan của sự phát triển đất nước cũng buộc công tác cán bộ phải thay đổi.


Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Muốn hiện thực hóa mục tiêu này, cùng với việc tận dụng tốt các cơ hội thì tạo đột phá trong công tác cán bộ, từ khâu đánh giá, lựa chọn, sàng lọc cán bộ đến thu hút, sử dụng và trọng dụng nhân tài, có ý nghĩa hết sức quan trọng.


Nghị quyết mới về công tác cán bộ nêu rõ, phải căn cứ yêu cầu nhiệm vụ để tạo nguồn, đào tạo, bố trí cán bộ; dùng kết quả đánh giá để lựa chọn, sàng lọc, bảo đảm kế thừa qua các nhiệm kỳ. Phẩm chất, bản lĩnh, thực tài, uy tín phải thể hiện qua kết quả công việc; đánh giá kết quả phải xét độ khó của nhiệm vụ, điều kiện thực hiện và giá trị lâu dài.


Theo Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, việc Nghị quyết nhấn mạnh quan điểm lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo phẩm chất, đạo đức và năng lực của cán bộ là rất đúng đắn, đồng thời có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Ông cho rằng, không thể chỉ dựa vào những nhận xét chung chung, hồ sơ thành tích hay sự khéo léo trong quan hệ công tác để đánh giá một cán bộ. Có những người giỏi tạo dựng hình ảnh, giỏi làm hài lòng cấp trên nên được đề bạt nhanh chóng, nhưng khi đảm nhận những vị trí quan trọng lại không đáp ứng được yêu cầu, thậm chí ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức.


Ngược lại, có những cán bộ thực sự năng động, sáng tạo, biết vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn địa phương, đơn vị, tạo ra những kết quả phát triển rõ rệt. Tuy nhiên, những thành tích và sáng kiến đó đôi khi chưa được đánh giá đúng mức, chưa được nhân rộng, người có năng lực cũng chưa được bố trí vào những vị trí tương xứng.


“Đánh giá cán bộ phải nhìn vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ, biểu hiện qua việc làm, qua niềm tin của nhân dân đối với cán bộ. Cán bộ có công trình đổi mới sáng tạo mang tính địa phương thì rõ ràng là người có tài, nếu mang tính quốc gia thì đó là tài năng, là nhân tài của đất nước, phải được trọng dụng. Cho nên tôi rất ủng hộ chủ trương của Trung ương cũng như kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị Trung ương 4 vừa qua”, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nói.


Song song những đổi mới về công tác đánh giá cán bộ, điểm đáng chú ý nữa trong Nghị quyết mới của Trung ương là quy định người đánh giá, giới thiệu và bố trí cán bộ phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nhận định đây là một yêu cầu rất quan trọng. Từ trước đến nay, việc lựa chọn và giới thiệu người đảm nhận những vị trí nhất định luôn đi kèm với trách nhiệm của người lựa chọn. Tuy nhiên, cơ chế xác định và xử lý trách nhiệm đối với người giới thiệu, lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ chưa phải lúc nào cũng rõ ràng, đầy đủ.


“Khi một người được giao trách nhiệm giới thiệu, lựa chọn cán bộ vào vị trí lãnh đạo, quản lý, họ phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Nếu người được lựa chọn sau đó bộc lộ những hạn chế nghiêm trọng về phẩm chất, năng lực hoặc vi phạm kỷ luật, pháp luật, cần xem xét quá trình tuyển chọn, đánh giá và bổ nhiệm để xác định trách nhiệm của những người liên quan”, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn nhấn mạnh.


Bên cạnh đó, theo Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, cần đổi mới thực chất công tác đánh giá và bỏ phiếu tín nhiệm đối với cán bộ. Việc đánh giá không nên dừng lại ở những nhận xét mang tính hình thức, mà phải chỉ rõ ai thực sự có năng lực nổi bật, ai hoàn thành nhiệm vụ ở mức trung bình, ai không đáp ứng yêu cầu.


Đối với cán bộ năng động, sáng tạo, có kết quả công việc tốt, cần ghi nhận tín nhiệm cao và tạo điều kiện phát triển. Với những người chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở mức trung bình trong thời gian dài, không có chuyển biến, hoặc tín nhiệm thấp, cần xem xét bố trí lại để mở đường cho những người có trách nhiệm, có đạo đức, có năng lực thay thế.


Trọng dụng nhân tài phải gắn liền với chế độ đãi ngộ tương xứng


Cũng tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất nhận định nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia, giữ vai trò quan trọng dẫn dắt phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển lực lượng sản xuất mới, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực tự chủ chiến lược và sức mạnh tổng hợp của đất nước.


Trên cơ sở đó, Trung ương đã thông qua Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”. Chiến lược đặt trọng dụng ở vị trí then chốt, gắn thu hút với đào tạo, phát triển và cống hiến; yêu cầu căn cứ nhiệm vụ chiến lược để tìm người, giao việc, trao quyền, bảo đảm nguồn lực; giữ người bằng môi trường làm việc, cơ hội sáng tạo, ghi nhận xứng đáng.


Theo Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, có 3 điểm nghẽn lớn trong phát hiện, thu hút và sử dụng nhân tài hiện nay. Điểm nghẽn thứ nhất đã được tháo gỡ, đó là chủ trương của Đảng. Thời gian qua, vấn đề thu hút, trọng dụng nhân tài được đề cập đến nhiều nhưng chưa có những chủ trương quyết liệt. Việc Trung ương thông qua chiến lược lần này sẽ tạo cơ sở để thúc đẩy quá trình đó một cách đồng bộ, nhất quán hơn.


Điểm nghẽn thứ hai là thái độ đối xử với người tài. Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn cho rằng, đây là điểm nghẽn rất lớn, thậm chí có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả trọng dụng nhân tài. Người có năng lực thực sự thường có chính kiến, có khả năng phát hiện vấn đề và đề xuất những cách làm mới. Họ cần được tôn trọng, được tin tưởng và được tạo điều kiện để phát huy năng lực. Vì vậy, người lãnh đạo phải có tầm nhìn, có khả năng nhận diện tài năng và sẵn sàng giao nhiệm vụ tương xứng cho những người có năng lực.


Nếu người đứng đầu không đánh giá đúng nhân tài, không tạo điều kiện cho họ làm việc, thậm chí có tâm lý e ngại người giỏi hơn mình, thì dù có chính sách tốt đến đâu cũng khó phát huy hiệu quả. Khi không được tôn trọng và không có cơ hội cống hiến, người tài có thể rời khỏi khu vực công, chuyển sang môi trường khác hoặc ra nước ngoài làm việc. Đất nước không chỉ mất đi nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn bỏ lỡ cơ hội phát triển từ chính những tài năng mình đã đào tạo, thu hút được.


Điểm nghẽn thứ ba được Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn chỉ ra là chính sách đãi ngộ chưa tương xứng với tài năng và giá trị đóng góp. Theo ông, đã trọng dụng nhân tài phải gắn liền với đãi ngộ phù hợp, phải có chính sách đãi ngộ riêng biệt với thứ bậc như trong bộ máy chính quyền của hệ thống chính trị nước ta hiện nay.


Một chuyên gia giỏi không nhất thiết phải được bổ nhiệm làm lãnh đạo mới có thể nhận mức đãi ngộ cao hơn. Nếu muốn họ tập trung nghiên cứu, sáng tạo và tạo ra những công trình có giá trị lớn cho đất nước, cần có cơ chế riêng để ghi nhận năng lực và tạo điều kiện làm việc tương xứng.


“Chính sách đãi ngộ phải thay đổi hoàn toàn. Nếu không gỡ điểm nghẽn này sẽ không thể có thực sự trọng dụng tài năng trong bối cảnh hiện nay, và không thể thu hút được những tài năng người Việt ở nước ngoài về nước cống hiến”, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nhấn mạnh.


Ông cho rằng, thông qua việc giải quyết tốt ba điểm nghẽn nêu trên ở tất cả đội ngũ lãnh đạo các cấp, nhân tài sẽ ngày càng được phát hiện nhiều hơn. Trọng dụng tốt thì nhân tài của đất nước sẽ có cống hiến tốt hơn, thực sự góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, hiện thực hóa 2 mục tiêu trăm năm: trăm năm thành lập Đảng và trăm năm thành lập nước.


Nói về cơ chế đãi ngộ nhân tài, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn nêu rõ, giá trị đóng góp của người tài là rất lớn, thậm chí có thể làm thay đổi cả một ngành, một lĩnh vực và mở ra hướng phát triển mới cho đất nước. Vì vậy, trọng dụng nhân tài không chỉ là ghi nhận năng lực của một cá nhân, mà còn là tạo điều kiện để năng lực ấy được chuyển hóa thành giá trị thực tiễn.


Đặc biệt, không nên đồng nhất tài năng với bằng cấp hay chức vụ. Một kỹ sư có năng lực sáng tạo nổi bật, trực tiếp nghiên cứu và tạo ra những sản phẩm có giá trị lớn, cần được công nhận ngay là “công trình sư” - người sáng chế ra những công trình có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Nếu làm được điều này, người tài mới được phát hiện, và khi được phát hiện và trọng dụng, họ mới phát huy hết tài năng để đóng góp cho đất nước.


Để việc trọng dụng nhân tài được thực chất, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn đề xuất Nhà nước nghiên cứu xây dựng hệ thống chức danh mới và cơ chế tiền lương riêng cho các chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt trong các lĩnh vực quan trọng. Chẳng hạn như các chức danh “công trình sư”, “kiến trúc sư trưởng”, “tổng công trình sư” trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, hoặc các chức danh tương đương trong lĩnh vực khoa học xã hội, với tiêu chí xác định rõ ràng về năng lực, phạm vi trách nhiệm và giá trị đóng góp.


Hiện nay, việc đãi ngộ trong nhiều trường hợp vẫn gắn chặt với thứ bậc chức vụ trong bộ máy hành chính của hệ thống chính trị. Muốn được hưởng chế độ cao hơn, người có chuyên môn giỏi đôi khi phải đảm nhận vị trí quản lý. Nhưng khi chuyển sang công tác quản lý, họ có thể không còn đủ thời gian và điều kiện để tập trung nghiên cứu, sáng tạo, phát huy năng lực chuyên môn.


Vì vậy, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn cho rằng cần có những chức danh chuyên môn được thiết kế phù hợp dành cho các nhà khoa học trong từng lĩnh vực, đi kèm chế độ tiền lương, thưởng, phụ cấp, điều kiện làm việc và cơ chế ghi nhận thành tích tương xứng, tách riêng với thứ bậc tiền lương của hệ thống chính trị như hiện nay. Khi đã có thứ bậc tiền lương riêng cho các nhà khoa học, đó cũng là thể chế hóa chủ trương trọng dụng nhân tài của Đảng, tạo điều kiện để người tài góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.


Theo Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, trọng dụng nhân tài là khâu có ý nghĩa quyết định đối với việc phát huy trí tuệ con người Việt Nam. Việt Nam không thiếu nhân tài, nhưng để biến họ từ nhân tài thành hiền tài mới là điều khó. “Hiền tài là những người đem tài năng của mình phục vụ cho xã hội, phục vụ cho đất nước, góp phần đưa đất nước phát triển. Trọng dụng tốt chính là biến nhân tài thành những hiền tài, và một đất nước có nhiều hiền tài thì đất nước đó sẽ phát triển nhanh, thu hẹp được khoảng cách phát triển, tiến tới sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới”, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn khẳng định.


#HSV

#HSVCHINHTRI 

#TrongDungNhanTai

#HoiNghiTrungUong4

#HNTW4

#TongBiThu

#ChuTichNuoc

#ToLam

13/10/26

Văn hóa cán bộ - tư duy mới, nói và làm - Bài 2: Văn hóa phản biện

 Văn hóa cán bộ - tư duy mới, nói và làm - Bài 2: Văn hóa phản biện


Tác giả: NĂM CHUNG


Trong bối cảnh công tác hoạch định và thực thi các quyết sách lớn ngày càng yêu cầu cao, năng lực phản biện là điều kiện quan trọng để hạn chế chủ quan, duy ý chí, nâng cao chất lượng ra quyết định của đội ngũ cán bộ các cấp.


Phản biện mang tính xây dựng sẽ giúp phát hiện lỗ hổng trong chủ trương, chính sách và phương án thực hiện; phát huy trí tuệ tập thể, phòng ngừa sai sót ngay từ khâu khởi đầu. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Muốn tự sửa chữa, trước hết phải nghe được sự thật”. 


Thực tế hiện nay, trước việc mới, việc khó, việc chưa có tiền lệ, một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn chỉ chăm lo giữ an toàn cho mình. Họ biết bất cập vẫn im lặng, chờ ý lãnh đạo để tán đồng; trong họp thuận chiều, ngoài giờ bàn tán. Khi tham mưu biến thành phụ họa, nguy cơ không được cảnh báo, phương án thiếu khả thi vẫn được thông qua.


Ở thái cực nguy hiểm khác, có người chưa hiểu sâu đã phủ định, từ một hạn chế đi đến bác bỏ hoàn toàn, quy chụp động cơ thay cho chứng cứ, biến phản biện thành công kích cá nhân, phản biện thành phản bác, phủ nhận, thậm chí chống đối.


Đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, cần phải xây dựng môi trường phản biện khoa học, dân chủ trong tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; coi trọng ý kiến từ thực tiễn và phản biện xã hội. Người đứng đầu phải biết tiếp nhận ý kiến trái chiều, cầu thị tiếp thu, thấu tình đạt lý; người phản biện phải dựa trên căn cứ, dữ liệu, hướng đến lợi ích chung và giải pháp khả thi. Văn hóa phản biện phải được kiểm chứng bằng chất lượng quyết sách và lợi ích mang lại cho nhân dân.


Không có phản biện khoa học chúng ta sẽ cùng nhau đi vào ngõ cụt.


Báo QĐND 

Tranh minh họa: qdnd.vn

#HSV 

#HSVVanHoaCanBo

12/10/26

VNeID và những luận điệu xuyên tạc về định danh, liên kết thông tin

 



Sự phát triển của VNeID và quá trình kết nối, chia sẻ dữ liệu đang tạo ra những thay đổi quan trọng trong quản trị số và cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên, một số bài viết, thông tin trên không gian mạng hiện nay lại đang cố tình đồng nhất định danh điện tử với “kiểm soát toàn diện”, kết nối dữ liệu với “Nhà nước nắm mọi thông tin cá nhân”, từ đó tạo ra tâm lý hoài nghi, lo ngại trong xã hội.


Thực tế pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm quản trị số quốc tế cho thấy, cần phân biệt rõ giữa định danh, xác thực, kết nối dữ liệu và quyền truy cập, khai thác dữ liệu để đưa ra đánh giá khách quan, chính xác về vấn đề này.


Từ định danh điện tử đến những cách diễn giải thiếu căn cứ


Cùng với quá trình chuyển đổi số, định danh điện tử ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của đời sống xã hội. Người dân có thể sử dụng danh tính điện tử để thực hiện nhiều giao dịch, tiếp cận dịch vụ công và xác thực thông tin trong môi trường số mà không phải nhiều lần cung cấp những thông tin cơ bản.


Tuy nhiên, cùng với sự phát triển đó, trên không gian mạng đã và đang xuất hiện những cách diễn giải phiến diện, quy chụp về VNeID, theo hướng đồng nhất định danh điện tử với “kiểm soát toàn diện”, “giám sát người dân”, thậm chí suy diễn thiếu thiện chí về nguy cơ hình thành một hệ thống “chấm điểm công dân”. Những quan điểm này được đăng tải trên nhiều kênh thông tin khác nhau, đặc biệt các tổ chức, cá nhân thường đưa ra các quan điểm thiếu khách quan, sai sự thật về Việt Nam như Đài Á Châu Tự Do (RFA), VOA Tiếng Việt, tổ chức khủng bố Việt Tân…


Như trong bài viết “Học Trung Quốc, Bộ Công an yêu cầu người dân liên kết mọi loại tài khoản với VNeID” của RFA đăng tải ngày 21/9/2026 đã suy diễn tích hợp dữ liệu với mục đích giám sát mạng xã hội và duy trì sự kiểm soát xã hội; Việt Tân trong nhiều bài viết thường xuyên đánh đồng, xuyên tạc giữa chính sách định danh điện tử với “giám sát xã hội”, gọi VNeID là một “hệ thống giám sát”, xuyên tạc việc phát triển ứng dụng VNeID thành xây dựng “Hệ thống điểm công dân số”. Từ đó, họ tuyên truyền lôi kéo, kích động người dân cản trở việc thực hiện chính sách, pháp luật về định danh điện tử mà Đảng, Nhà nước đang tích cực triển khai…


Kết nối dữ liệu không có nghĩa là “Nhà nước biết tất cả”


Một luận điểm thường được các đối tượng đưa ra là việc VNeID kết nối với nhiều cơ sở dữ liệu sẽ khiến mọi thông tin của một cá nhân được “gom vào một nơi”, từ đó Nhà nước có thể tùy ý theo dõi và khai thác toàn bộ đời sống của người đó. Đây là cách suy luận bỏ qua một vấn đề rất quan trọng: khả năng kết nối dữ liệu và quyền truy cập dữ liệu là hai vấn đề khác nhau.


Trong quản trị số, kết nối và chia sẻ dữ liệu nhằm giảm việc cung cấp lặp lại thông tin, nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục và tạo điều kiện để các hệ thống có thể sử dụng dữ liệu theo thẩm quyền. Nếu các cơ sở dữ liệu hoàn toàn tách biệt, người dân có thể phải nhiều lần khai báo cùng một thông tin, trong khi cơ quan, tổ chức cũng khó khai thác hiệu quả dữ liệu đã được xác lập.


Nhưng một hệ thống có khả năng kết nối không đồng nghĩa với việc mọi chủ thể đều có quyền truy cập tất cả dữ liệu. Câu hỏi cần đặt ra là: dữ liệu nào được truy cập, ai được truy cập, truy cập vì mục đích gì và căn cứ pháp lý nào cho phép việc đó?


Khai thác, sử dụng dữ liệu tại Việt Nam cần phải tuân thủ các quy định của pháp luật, đặc biệt là Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 - Khuôn khổ pháp lý về xây dựng, phát triển, quản trị, xử lý, sử dụng và khai thác dữ liệu. Đây cũng là điểm cần đặc biệt chú ý khi đánh giá VNeID. Khả năng kỹ thuật của một hệ thống không tự tạo ra quyền pháp lý vô hạn cho người sử dụng hệ thống. Kết nối dữ liệu không đồng nghĩa với gom mọi thông tin vào một nơi để bất kỳ ai cũng có thể khai thác.


Bảo vệ dữ liệu cá nhân đã trở thành một khuôn khổ pháp lý riêng


Nếu chỉ nhìn vào khả năng thu thập và kết nối dữ liệu mà bỏ qua hệ thống pháp luật bảo vệ dữ liệu thì việc đánh giá VNeID sẽ thiếu đầy đủ. Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật cơ bản về bảo vệ dữ liệu, đặc biệt là Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Đây là đạo luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân, đặt ra các nguyên tắc, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể có liên quan.


Điều đó cho thấy quá trình phát triển hạ tầng số tại Việt Nam không chỉ đặt trọng tâm vào khả năng thu thập và sử dụng dữ liệu mà đồng thời hình thành khuôn khổ pháp lý để bảo vệ dữ liệu cá nhân.


Tất nhiên, có pháp luật không có nghĩa mọi nguy cơ về an toàn dữ liệu tự động được loại bỏ. Trong thực tế, vẫn phải chú trọng bảo mật hệ thống, kiểm soát quyền truy cập, phòng ngừa lộ lọt dữ liệu và xử lý hành vi vi phạm. Đây là yêu cầu đối với bất kỳ quốc gia nào đang đẩy mạnh chuyển đổi số.


Nhưng cần phân biệt rõ giữa vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện trong thực tiễn với suy diễn rằng bản thân VNeID là công cụ kiểm soát toàn diện.


Xác thực tài khoản mạng xã hội không đồng nghĩa với “kiểm soát, giám sát mạng xã hội”


Một luận điệu khác thường được các đối tượng nêu ra, đó là đặt VNeID và việc xác thực tài khoản mạng xã hội vào cùng một vấn đề, từ đó cho rằng việc phát triển VNeID đồng nghĩa với việc Nhà nước “kiểm soát mọi phát ngôn trên Internet”.


Thực tế, mục tiêu của xác thực trước hết là tăng khả năng xác định chủ thể đứng sau tài khoản và nâng cao trách nhiệm của người sử dụng và nền tảng. Điều này ngày càng có ý nghĩa trong bối cảnh mạng xã hội có thể bị lợi dụng để giả mạo cá nhân, tổ chức, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản hoặc thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật khác.


Xác thực tài khoản không đồng nghĩa với việc cơ quan nhà nước có toàn quyền tùy ý xem toàn bộ dữ liệu riêng tư của người sử dụng. Xác định danh tính chủ thể và kiểm soát nội dung là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Một người sử dụng tài khoản đã được xác thực vẫn có thể bày tỏ quan điểm, trao đổi, tranh luận và phản biện trong khuôn khổ pháp luật. Ngược lại, nếu tài khoản được sử dụng để giả danh, lừa đảo hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì việc xác định chủ thể có thể tạo điều kiện cho việc xử lý theo quy định.


Xác thực còn là vấn đề phòng ngừa tội phạm


Thực tế cho thấy mạng xã hội đang trở thành một môi trường bị lợi dụng cho nhiều loại hình lừa đảo. Đối tượng có thể tạo tài khoản giả, giả danh người thân, cơ quan, doanh nghiệp hoặc người có ảnh hưởng để tạo lòng tin và tiếp cận nạn nhân.


Theo Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (FTC), trong năm 2025, gần 30% người báo cáo bị mất tiền do lừa đảo cho biết vụ việc bắt đầu trên mạng xã hội; tổng thiệt hại được báo cáo từ các vụ lừa đảo bắt đầu trên mạng xã hội đạt 2,1 tỷ USD. FTC cho biết các đối tượng có thể tạo hồ sơ giả, chiếm quyền tài khoản hoặc lợi dụng công cụ quảng cáo để tiếp cận nạn nhân.


Nếu một tài khoản có khả năng xác định chủ thể rõ ràng hơn, việc giả mạo hoặc lợi dụng hàng loạt tài khoản ẩn danh để thực hiện hành vi vi phạm có thể gặp thêm những rào cản nhất định. Đồng thời, khi nền tảng phải nâng cao trách nhiệm, khả năng phát hiện và xử lý hành vi vi phạm cũng được cải thiện tốt hơn.


Vì vậy, xác thực tài khoản cần được nhìn nhận là một trong những cách thức quan trọng để bảo vệ người dùng và phòng, chống tội phạm trên không gian mạng chứ không chỉ nhìn dưới góc độ hạn chế người dùng.


Đây không phải vấn đề chỉ Việt Nam quan tâm


Có ý kiến cho rằng Việt Nam đang “đi ngược xu hướng thế giới” khi tăng cường xác thực tài khoản, trong khi các nước phương Tây để Internet hoàn toàn ẩn danh. Đây là quan điểm phi thực tế. Mặc dù, các quốc gia có những cách tiếp cận khác nhau, nhưng hiện nay đều đang phải tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến tính minh bạch, an toàn trực tuyến, quyền riêng tư, trách nhiệm của nền tảng và phòng chống lừa đảo.


Tại Anh, Online Safety Act 2023 đã đặt ra các nghĩa vụ đối với một số dịch vụ trực tuyến lớn. Ofcom đang triển khai các quy định liên quan đến lựa chọn xác minh danh tính người dùng và các biện pháp giúp người dùng kiểm soát tương tác trên nền tảng.


Liên minh châu Âu đã và đang đặt trọng tâm lớn vào trách nhiệm của các nền tảng, đặc biệt là các nền tảng rất lớn, trong việc đánh giá và giảm thiểu rủi ro hệ thống, tăng cường minh bạch và bảo vệ người dùng. Tháng 12/2025, Ủy ban châu Âu đã phạt X 120 triệu euro vì vi phạm các nghĩa vụ minh bạch theo DSA.


Những ví dụ trên cho thấy nhiều quốc gia phương Tây hiện nay cũng đang đặt ra vấn đề xác định, minh bạch danh tính người dùng, mặc dù, có những cách tiếp cận khác nhau. Vì vậy, không thể lập luận giản đơn rằng “Việt Nam xác thực tài khoản còn phương Tây thì không”.


Đáng chú ý hơn, ngay cả tại các quốc gia không bắt buộc mọi tài khoản phải xác minh danh tính pháp lý, các nền tảng vẫn có thể thu thập nhiều loại dữ liệu về người dùng để cung cấp dịch vụ, bảo đảm an ninh, cá nhân hóa nội dung hoặc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý, qua đó, vẫn có thể xác minh danh tính người dùng khi cần thiết. Không thể có người dùng hoàn toàn “ẩn danh” trên mạng xã hội.


Vì vậy, vấn đề quan trọng không phải là có xác thực danh tính hay không, mà còn là dữ liệu được thu thập như thế nào, được sử dụng vào mục đích gì, ai có quyền truy cập và cơ chế bảo vệ dữ liệu ra sao. Định danh điện tử không đồng nghĩa với giám sát toàn diện; kết nối dữ liệu không đồng nghĩa với quyền khai thác dữ liệu vô hạn; xác thực người dùng không đồng nghĩa với tước bỏ quyền tự do biểu đạt.


Phân biệt rõ những vấn đề này sẽ giúp xã hội có cách nhìn thực chất hơn về VNeID, đồng thời góp phần nhận diện những cách diễn giải dựa trên đánh tráo khái niệm, suy diễn hoặc tách một chính sách cụ thể khỏi toàn bộ khuôn khổ pháp luật điều chỉnh nó. Điều này cũng không có nghĩa mọi lo ngại về dữ liệu cá nhân, quyền tự do biểu đạt đều không đáng quan tâm. Ngược lại, càng phát triển định danh số thì càng phải tăng cường bảo vệ dữ liệu, bảo đảm an toàn hệ thống và kiểm soát việc sử dụng thông tin đúng mục đích. Những vấn đề đó cần được giải quyết bằng pháp luật và các cơ chế bảo đảm thực chất.


Chính vì vậy, trên không gian số bảo vệ dữ liệu và bảo đảm quyền riêng tư của người dân luôn phải đi cùng với yêu cầu xác định trách nhiệm, phòng chống lừa đảo và các hành vi lợi dụng không gian mạng để vi phạm pháp luật. Đó mới là cách tiếp cận phù hợp đối với bài toán quản trị số hiện nay của các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng.


Nguyễn Trung (Học viện ANND)

Báo CAND 

#HSV 

#HSVChongDienBienHoaBinh

10/10/26

Đại tướng Lương Tam Quang: Bạo lực ngôn từ, tin giả làm suy thoái đạo đức mạng

 

Bộ trưởng Công an Lương Tam Quang cảnh báo nguy cơ suy thoái đạo đức mạng khi tin giả, bạo lực ngôn từ và văn hóa "ứng xử lệch chuẩn" có xu hướng gia tăng.


Thực trạng trên được Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an chỉ ra trong tham luận gửi đến hội thảo “Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam thành một động lực quan trọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” được tổ chức sáng 10/10.


Đại tướng Lương Tam Quang nhìn nhận, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự bùng nổ mạnh mẽ của kỷ nguyên số, không gian mạng đã trở thành không gian chiến lược mới.


Bên cạnh những cơ hội to lớn để quảng bá hình ảnh đất nước, chúng ta cũng đang phải đối mặt với những thách thức chưa từng có đối với “an ninh văn hóa”.


Trong đó, Bộ trưởng Bộ Công an cảnh báo nguy cơ suy thoái đạo đức mạng thể hiện qua tình trạng suy giảm các chuẩn mực đạo đức, văn hóa ứng xử và lối sống của con người khi tham gia vào không gian mạng, gây ra những hệ lụy tiêu cực cho xã hội và cá nhân.


Theo Đại tướng Lương Tam Quang, tình trạng bạo lực ngôn từ, thông tin giả (tin giả), văn hóa “ứng xử lệch chuẩn” trên không gian mạng có xu hướng gia tăng, đe dọa trực tiếp đến các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của gia đình và xã hội.


Các biểu hiện được Bộ trưởng Bộ Công an chỉ rõ gồm: phát ngôn lệch chuẩn và bạo lực mạng lăng mạ, miệt thị, lan truyền thông tin sai lệch hoặc bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự người khác; thờ ơ, vô cảm trước cái sai, “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”, hoặc hùa theo đám đông kích động trên mạng xã hội; chia sẻ nội dung chưa kiểm chứng, lan truyền tin giả, thông tin giật gân, hoặc xuyên tạc các chủ trương, đường lối để câu view, câu like.


“Lệ thuộc và tha hóa nhân cách, đánh mất bản chất con người, phó mặc các giá trị đạo đức truyền thống cho sự chi phối của thuật toán và thế giới ảo...”, Bộ trưởng nêu hệ quả.


Một thách thức khác được Đại tướng Lương Tam Quang đề cập là sự xâm lăng của văn hóa độc hại: các sản phẩm, thông điệp hoặc tư tưởng văn hóa ngoại lai xấu độc, phản cảm thâm nhập và lũng đoạn đời sống tinh thần của Nhân dân, nhằm làm xói mòn bản sắc dân tộc, phai nhạt lý tưởng và chuyển hóa các giá trị truyền thống.


Theo Bộ trưởng, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên lợi dụng mạng xã hội để truyền bá các tư tưởng sai trái, lối sống thực dụng, ích kỷ, sùng ngoại, ra sức tuyên truyền, xuyên tạc lịch sử và bôi nhọ lãnh tụ.


Chúng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình hòng làm phai nhạt bản sắc văn hóa Việt Nam, làm lung lay niềm tin của thế hệ trẻ vào chế độ.


“Chúng tận dụng thuật toán mạng xã hội, các nền tảng xuyên biên giới để phát tán video lệch chuẩn, ‘rác phẩm’, trào lưu sống gấp và thực dụng hoặc lồng ghép quan điểm sai trái, bóp méo lịch sử hoặc tôn sùng văn hóa ngoại lai như chuẩn mực duy nhất trong các sản phẩm giải trí, phim ảnh và cổ vũ các hiện tượng mạng phản cảm, lối sống buông thả, coi nhẹ đạo đức truyền thống và thuần phong mỹ tục”, Đại tướng nêu.


Bộ trưởng Bộ Công an cũng chỉ rõ thách thức tội phạm công nghệ cao xâm phạm an ninh văn hóa qua hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông và các thiết bị điện tử để phát tán lối sống lệch chuẩn, thông tin sai sự thật, hoặc phá hoại các giá trị tư tưởng, bản sắc dân tộc và quyền sở hữu trí tuệ.


Đại tướng Lương Tam Quang cho rằng, đây là một phương thức tấn công nguy hiểm mới thuộc nhóm an ninh phi truyền thống, tác động trực tiếp đến nền tảng tinh thần của xã hội.


Các hành vi truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, cờ bạc trực tuyến, lừa đảo xuyên quốc gia không chỉ phá hoại kinh tế mà còn tàn phá nghiêm trọng môi trường văn hóa lành mạnh của Nhân dân.


Theo Bộ trưởng Lương Tam Quang, thủ đoạn và các hành vi chủ yếu là truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, phát tán phim ảnh, văn bản kích dục hoặc cổ xúy lối sống trụy lạc, bạo lực qua các nhóm kín mạng xã hội; xâm phạm bản quyền nghệ thuật, sử dụng website lậu (như mạng lưới CakhiaTV, RakhoiTV vừa bị triệt phá năm 2026) để trình chiếu trái phép phim ảnh, giải trí thể thao nhằm trục lợi.


Đặc biệt, các đối tượng còn bôi nhọ, xuyên tạc lịch sử, ứng dụng công nghệ AI tạo video Deepfake, cắt ghép hình ảnh, giả mạo giọng nói của các lãnh đạo, danh nhân văn hóa nhằm hạ bệ uy tín; kích động, bài xích văn hóa, phát tán thông tin sai sự thật gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động thù hằn tôn giáo hoặc bài xích phong tục tập quán truyền thống.


Để ứng phó, Đại tướng Lương Tam Quang đề xuất xây dựng chiến lược phát triển an ninh văn hóa gắn với an ninh quốc gia.


“Văn hóa chính là nền tảng tinh thần, là ‘sức mạnh mềm’ bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự ổn định chính trị vững chắc của đất nước, do đó cần xem an ninh văn hóa là một bộ phận khăng khít, không thể tách rời của an ninh quốc gia”, Bộ trưởng nêu quan điểm.


Chiến lược cần hướng đến phòng ngừa xã hội từ sớm, từ xa, từ cơ sở và xây dựng “hệ miễn dịch văn hóa” mạnh mẽ cho mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ trước các luồng văn hóa ngoại lai độc hại. Chiến lược phát triển an ninh văn hóa phải bắt đầu từ con người cụ thể, từ cấp cơ sở, phải từ thế trận “an ninh văn hóa lòng dân”, trên cơ sở đó mới hình thành phòng tuyến “an ninh văn hóa khu vực” và “an ninh văn hóa quốc gia”.


Đại tướng Lương Tam Quang cũng nhấn mạnh chiến lược an ninh văn hóa phải bao gồm cả xây và chống, bảo tồn, phát huy, có kế thừa, có loại bỏ cái cũ, cái lạc hậu và thường xuyên bổ sung cái mới phù hợp với quy luật phát triển.


Bộ Công an sẽ nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ hiện đại để rà quét, phát hiện, xử lý thông tin giả, sai sự thật, xuyên tạc; đồng thời xây dựng đội ngũ chuyên gia có bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn và năng lực làm chủ công nghệ AI và các phần mềm phục vụ công tác trên không gian mạng.

VTC News

#HSV

9/10/26

Không để dư luận xã hội bị tin giả thao túng

 


Sự lan truyền của một số thông tin sai lệch đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về sự minh bạch thông tin, trách nhiệm và bản lĩnh của người sử dụng mạng xã hội.


Gắn kết công tác dư luận xã hội với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng


Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Cần đánh giá dư luận xã hội về đổi mới sách giáo khoa

Tập trung kiểm toán vấn đề 'nóng' mà cử tri, dư luận xã hội quan tâm


Cảnh giác với “tiếng ồn” trên không gian mạng


Sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng số đã mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận thông tin, nhưng đồng thời cũng khiến quá trình hình thành, lan truyền và tác động của dư luận xã hội trở nên phức tạp hơn, nhất là những sự việc nhạy cảm, vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi của người dân hoặc các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước.


Theo Báo cáo Digital 2026: Vietnam của DataReportal, các chỉ số về kết nối số tiếp tục duy trì ở mức rất cao. Việt Nam hiện có 137 triệu kết nối di động, 85,6 triệu người dùng internet và khoảng 79 triệu người dùng mạng xã hội. Điều này đồng nghĩa phần lớn người dân đã tham gia vào hệ sinh thái số, từ việc truy cập thông tin, giải trí, mua sắm cho đến tương tác với thương hiệu. Đặc biệt, tỷ lệ người dùng internet đạt 84,2% dân số và tỷ lệ người dùng mạng xã hội đạt 77,6% dân số cho thấy môi trường số tại Việt Nam đã bước sang giai đoạn trưởng thành thay vì chỉ đơn thuần tăng trưởng về quy mô.


Với một chiếc điện thoại thông minh, bất kỳ ai cũng có thể ghi lại sự việc, đăng tải hình ảnh, video, đưa ra nhận xét và tiếp cận hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người trong thời gian ngắn. Những vấn đề trước đây chủ yếu được phản ánh qua báo chí hoặc các kênh thông tin chính thức nay có thể được đưa ra thảo luận rộng rãi, tạo điều kiện để tiếng nói của người dân được lắng nghe nhanh chóng hơn, đồng thời thúc đẩy các cơ quan chức năng quan tâm, giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.


Cần khẳng định rằng, sự đa dạng của ý kiến xã hội là biểu hiện bình thường của đời sống. Tuy nhiên, không thể đánh đồng ý kiến phản biện với thông tin xấu độc, càng không thể coi mọi sự phê phán đối với những hạn chế trong quản lý, điều hành là hành vi gây mất ổn định. Vấn đề đáng lo ngại nằm ở chỗ, những nhu cầu thông tin chính đáng ấy có thể bị lợi dụng để xuyên tạc bản chất sự việc, kích động tâm lý đám đông và dẫn dắt nhận thức xã hội theo những mục đích đã được tính toán.


Thực tế, hành vi thao túng dư luận không nhất thiết bắt đầu bằng những thông tin hoàn toàn bịa đặt. Đôi khi, chỉ cần cắt bỏ phần giải thích quan trọng trong phát ngôn của người có trách nhiệm, sử dụng số liệu đúng nhưng đặt sai bối cảnh, đưa hình ảnh của sự việc cũ gắn với diễn biến mới hoặc lựa chọn, cắt ghép một đoạn video ngắn có khả năng gây phẫn nộ, người phát tán đã có thể khiến công chúng hiểu sai bản chất vấn đề. Những chi tiết có thật trở thành vỏ bọc tạo độ tin cậy, trong khi thông tin cần thiết để đánh giá khách quan lại bị cố tình che giấu.


Nguy hiểm hơn, sự phát triển của mạng xã hội cho phép các nội dung sai lệch được khuếch đại bằng lượng tương tác rất lớn, tạo ra cảm giác rằng cách nhìn được lan truyền nhiều nhất cũng chính là quan điểm được xã hội thừa nhận. Hàng trăm tài khoản cùng chia sẻ, hàng nghìn bình luận có nội dung tương tự xuất hiện liên tiếp, những người có ảnh hưởng tiếp tục tham gia và chỉ sau thời gian ngắn, thông tin chưa được kiểm chứng đã có thể trở thành chủ đề chi phối các cuộc tranh luận.


Đặt trong điều kiện Việt Nam, nguy cơ thao túng dư luận cần được nhận diện trước hết ở những vấn đề gần gũi với đời sống người dân như đất đai, giải phóng mặt bằng, môi trường, thiên tai, việc làm, thu nhập, xử lý sai phạm hoặc những vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra, xác minh. Đây đều là những lĩnh vực có thể phát sinh các quan điểm khác nhau và đòi hỏi sự giải thích thấu đáo, kịp thời. Nếu những băn khoăn chính đáng chậm được giải đáp, thông tin thiếu kiểm chứng rất dễ xuất hiện, còn những đối tượng có dụng ý xấu sẽ có thêm cơ hội bóp méo sự việc, khoét sâu bất đồng và kích động tâm lý xã hội.


Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, những biểu hiện ấy càng cần được xem xét thận trọng, bởi các thông tin sai lệch liên quan đến chủ trương, chính sách, hoạt động của cơ quan công quyền hoặc các vấn đề xã hội nhạy cảm có thể bị lợi dụng nhằm xuyên tạc đường lối của Đảng, phủ nhận thành tựu phát triển đất nước, làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Để nhận diện đúng những hành vi có chủ đích, trước hết phải phân biệt được phản ánh có căn cứ với sự xuyên tạc, ý kiến phản biện với hành vi kích động, những bức xúc cần giải quyết với các thông tin được tổ chức phát tán nhằm gây bất ổn.


Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu: “Phải coi không gian mạng là địa bàn trọng yếu của công tác tư tưởng và là kênh lắng nghe Nhân dân. Phải phân biệt băn khoăn, phản biện, thông tin chưa đầy đủ với tin giả, xuyên tạc, thao túng có tổ chức; không quy chụp ý kiến khác biệt; không để thông tin giả mạo, độc hại, lệch chuẩn dẫn dắt”.


Hoàn thiện hành lang pháp lý


Trước những thách thức ngày càng lớn, yêu cầu đặt ra là phải có cơ chế pháp lý đủ rõ để nhận diện, ngăn chặn và xử lý thông tin giả, thông tin sai sự thật, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Trong bối cảnh đó, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 328/2026/NĐ-CP quy định về phòng, chống tin giả, tin sai sự thật, có hiệu lực thi hành từ ngày 5/10/2026, mang ý nghĩa thiết thực đối với công tác quản lý thông tin trên không gian mạng.


Điểm đáng chú ý của nghị định là xác lập tương đối cụ thể các khái niệm, nguyên tắc, biện pháp phòng, chống tin giả, tin sai sự thật và trách nhiệm của những chủ thể có liên quan, qua đó tạo cơ sở để việc phát hiện, kiểm chứng, cảnh báo và xử lý thông tin được tiến hành theo trình tự, thẩm quyền thay vì phụ thuộc vào những đánh giá cảm tính.


Theo Điều 3 của nghị định, tin giả là thông tin không có thật hoặc có một phần sự thật xâm hại đến an ninh, uy tín, hình ảnh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cộng đồng hoặc tác động tiêu cực đến niềm tin, định hướng tin sai sự thật, thông tin sai lệch, thông tin vu khống, thông tin xuyên tạc. Nghị định đồng thời phân biệt tin giả với tin sai sự thật là thông tin có thể là tin giả, tin sai sự thật.


Việc phân định khái niệm có ý nghĩa quan trọng, bởi trong thực tiễn không phải mọi thông tin thiếu chính xác đều có cùng tính chất, mức độ nguy hại và cũng không phải mọi nhận định khác biệt đều có thể bị coi là tin giả. Kiểm chứng thông tin phải được thực hiện trên cơ sở nội dung cụ thể, nguồn gốc, chứng cứ và các quy định pháp luật có liên quan, bảo đảm xử lý đúng hành vi vi phạm, tránh những cách hiểu tùy tiện ảnh hưởng đến quyền phản ánh, góp ý và tiếp cận thông tin của công dân.


Nghị định quy định các bước phát hiện, kiểm chứng, xác minh, làm rõ thông tin; gắn nhãn; công bố, cảnh báo và ngăn chặn, gỡ bỏ tin giả, tin sai sự thật. Đáng chú ý, việc gắn nhãn được thực hiện đối với thông tin đã được cơ quan có thẩm quyền kiểm chứng, xác minh, làm rõ, với hình thức hiển thị cảnh báo hoặc biểu tượng nhận diện có nội dung cho biết đây là thông tin giả, tin sai sự thật. Cơ chế này góp phần cung cấp dấu hiệu cảnh báo trực tiếp cho người tiếp nhận, hạn chế nguy cơ tiếp tục chia sẻ những nội dung đã được xác định là không chính xác.


Đặc biệt, nghị định đề cập trường hợp tin giả, tin sai sự thật do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra nhưng chưa được gắn nhãn. Quy định này cho thấy việc phòng, chống thông tin giả đã được đặt trong bối cảnh phát triển công nghệ mới, khi các sản phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo lập có thể gây nhầm lẫn với hình ảnh, âm thanh và sự kiện có thật.


Một nội dung quan trọng khác, trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội và các chủ thể cung cấp dịch vụ thông tin xuyên biên giới. Theo Điều 22, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng xã hội có trách nhiệm thực hiện biện pháp kiểm soát để phòng, chống tin giả, tin sai sự thật; thiết lập cơ chế phát hiện, tiếp nhận và xử lý nội dung vi phạm; bảo đảm an ninh, an toàn hoạt động thông tin, truyền thông; phối hợp, cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.


Giữ thế chủ động bằng sự thật và trách nhiệm


Sẽ khó ngăn chặn hiệu quả việc thao túng dư luận nếu công tác phòng, chống chỉ tập trung vào phát hiện và xử lý từng thông tin sai lệch sau khi chúng đã lan truyền rộng rãi. Trong môi trường số, một nội dung bị gỡ bỏ vẫn có thể tiếp tục xuất hiện dưới hình thức khác, tài khoản vi phạm bị khóa có thể được thay thế, còn nhận thức sai đã hình thành trong công chúng thường không dễ thay đổi chỉ bằng thông báo đính chính.


Bởi vậy, yêu cầu quan trọng hàng đầu là chuyển mạnh công tác thông tin từ thế bị động giải thích, xử lý sang chủ động cung cấp, làm rõ và định hướng trên cơ sở sự thật. Với các vấn đề đang được xã hội quan tâm, nhất là vụ việc nhạy cảm liên quan đến quyền lợi của người dân, cơ quan có trách nhiệm cần công khai kịp thời những thông tin được xác minh, giải thích rõ nội dung còn đang được kiểm tra, những vấn đề chưa thể kết luận và tiến độ giải quyết theo thẩm quyền.


Công khai thông tin không đồng nghĩa với việc phải đưa ra kết luận khi chưa có đủ chứng cứ, nhưng sự chậm trễ kéo dài hoặc cách trả lời chung chung, thiếu trọng tâm rất dễ khiến những khoảng trống thông tin bị lấp đầy bằng đồn đoán. Công chúng có thể chấp nhận việc cơ quan chức năng cần thêm thời gian để làm rõ một sự việc. Trong nhiều trường hợp, việc giải thích thẳng thắn những điều đã biết, chưa biết và trách nhiệm giải quyết có sức thuyết phục hơn những lời khẳng định mang tính trấn an nhưng thiếu căn cứ cụ thể.


Muốn làm được điều đó, cần nâng cao trách nhiệm phát ngôn, khả năng dự báo và xử lý tình huống truyền thông của các cơ quan, tổ chức. Những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh kế, quyền lợi của người dân phải được nhận diện sớm về nguy cơ phát sinh tranh luận, chuẩn bị đầy đủ dữ kiện và có đầu mối cung cấp thông tin rõ ràng. Khi xảy ra vụ việc phức tạp, sự phối hợp giữa cơ quan chuyên môn, đơn vị quản lý địa bàn và bộ phận truyền thông phải được thực hiện kịp thời, thống nhất, tránh tình trạng mỗi nơi giải thích một cách hoặc đùn đẩy trách nhiệm phát ngôn.


Cùng với cơ quan quản lý, báo chí chính thống phải phát huy mạnh mẽ vai trò kiểm chứng, giải thích và cung cấp thông tin có giá trị. Đặc biệt, báo chí cần tăng cường các sản phẩm truyền thông chính sách, kiểm chứng thông tin, phân tích những vấn đề được dư luận quan tâm bằng phương pháp thể hiện dễ tiếp cận nhưng phải bảo đảm tính chính xác, khách quan. Các hình thức như hỏi - đáp, đồ họa dữ liệu, video giải thích hoặc đối thoại với người có trách nhiệm chỉ có giá trị khi thực sự giải quyết những thắc mắc của công chúng, thay vì đơn thuần thay đổi cách trình bày của những nội dung đã được công bố.


Sức thuyết phục của thông tin chính thống phải được xây dựng ngay trong quá trình phản ánh đời sống, giải thích chủ trương, chính sách, làm rõ những thành tựu phát triển đất nước và thẳng thắn nhận diện các hạn chế, yếu kém cần khắc phục.


Theo Nghị định số 328/2026/NĐ-CP: Tin giả, tin sai sự thật là thông tin không có thật hoặc có một phần sự thật xâm hại đến an ninh, uy tín, hình ảnh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, gồm các loại thông tin: Thông tin giả, thông tin sai sự thật, thông tin sai lệch, thông tin giả mạo, thông tin bịa đặt, thông tin vu khống, thông tin xuyên tạc.

Hà Trang

#HSV #congthuong