
TƯ DUY CHIẾN LƯỢC MỚI: ĐỘNG LỰC MỚI CHO VỊ THẾ VIỆT NAM
Theo chuyên gia, những điều chỉnh định hướng đối ngoại gần đây cho thấy Việt Nam đang gia tăng mức độ chủ động trước môi trường chiến lược khó lường.


Theo chuyên gia, những điều chỉnh định hướng đối ngoại gần đây cho thấy Việt Nam đang gia tăng mức độ chủ động trước môi trường chiến lược khó lường.

Đàm Vĩnh Hưng vừa quảng cáo một chương trình âm nhạc được anh ta cho là "đặc biệt", dành nhiều tâm huyết, như một lời tri ân gửi đến những người lính đang ngày đêm âm thầm gìn giữ bình yên cho Tổ quốc, với chủ đề “Xuân của lính xa nhà” sau nhiều tháng bị cấm sóng, lại có thể làm dấy lên sự lo ngại của CCB, cán bộ, chiến sĩ Quân đội và gia đình của họ khi biết anh ta từng có nhiều tai tiếng rất phản cảm trong cả nước thời gian qua.
Đàm Vĩnh Hưng là con của một lính ngụy Sài Gòn, từng quấn cờ ngụy vào cổ để hát trên nhiều diễn đàn âm nhạc, nhiều lần giao du với một số thành phần chống cộng.
Đặc biệt, Đàm Vĩnh Hưng đã tự ý đeo một loại huy chương vinh danh chiến công của những sĩ quan, binh lính ngụy từng nợ máu với đồng bào ta - trên trang phục.
Đây là những biểu hiện có tính bản chất của một ca sĩ không tốt, đó là luôn lợi dụng sự nổi tiếng để thực hiện mục tiêu tuyên truyền, cổ súy cho ngụy Sài Gòn, phất cờ chống phá ngầm đất nước này.
Đất nước có hàng vạn nghệ sĩ, diễn viên, ca sĩ yêu nước nồng nàn như Anh Tú, Hòa Minzy, Đen Vâu - Nguyễn Đức Cường, Thanh Nhàn, Tùng Dương, Hà Quỳnh Như... mà các tổ chức vẫn cấp phép một thằng ngụy lai căng kệch cỡm, thiếu chuẩn mực???
Để trong sạch Văn hóa nước nhà, không làm xen lẫn việc thẩm thấu văn hóa "Bộ Đội Cụ Hồ" với loại văn hóa lai căng, hư đốn như Đàm Vĩnh Hưng, chúng ta cần tẩy chay, đấu tranh để loại bỏ khỏi diễn đàn văn hóa, không để những kẻ lưu manh giả danh văn hóa này len lỏi phá hoại đời sống văn hóa nhân dân, không để chúng phát tán, biểu diễn. Mặt khác, đề nghị cơ quan quản lý văn hóa Bộ văn hóa, thể thao và du lịch rà soát xem đơn vị, tổ chức nào đứng ra hợp tác với Đàm Vĩnh Hưng để tổ chức chương trình cần có biện pháp, không thể chấp nhận một kẻ LAI CĂNG, KỆCH CỠM, PHẢN CẢM biểu diễn cho nhân dân và Bộ đội xem.
Chi tiết lai căng, kệch cơm, phản cảm của Đàm Vĩnh Hưng bị Báo Công an Nhân dân vạch trần
Tác giả: Thượng tá, PGS, TS ĐỖ NGỌC HANH, Phó chủ nhiệm Khoa Triết học Mác-Lênin, Trường Sĩ quan Chính trịThượng tá, PGS, TS ĐỖ NGỌC HANH, Phó chủ nhiệm Khoa Triết học Mác-Lênin, Trường Sĩ quan Chính trị
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, ngày hội lớn của toàn dân. Tuy nhiên, lợi dụng quy định bầu cử dân chủ, khách quan và minh bạch của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trước dịp bầu cử diễn ra, các thế lực thù địch sử dụng chiêu trò xuyên tạc tự ứng cử hòng chống phá.
1. Ngày 15-3-2026 tới đây, cử tri cả nước sẽ thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mình là đi bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là sự kiện chính trị lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với cả nước và từng địa phương; được tổ chức vào thời điểm đất nước đã tiến hành thành công công cuộc đổi mới qua 40 năm, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, toàn diện trên tất cả lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng lớn mạnh.
Đặc biệt, cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương hai cấp tạo khí thế mới đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình, giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, thịnh vượng. Cùng với Đại hội XIV của Đảng, cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 là những nhiệm vụ công tác trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong năm 2026; là đợt vận động và sinh hoạt dân chủ sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân để lựa chọn, bầu được những đại biểu ưu tú, đại diện cho nhân dân cả nước tại Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và các đại biểu đại diện cho nhân dân địa phương tại HĐND các cấp, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
Vậy nhưng, trước sự kiện trọng đại của đất nước, những ngày gần đây, trên mạng xã hội, một số phần tử phản động, chống đối cố tình lặp lại điệp khúc “ở Việt Nam không thể tự ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND”! Luận điệu này hoàn toàn không đúng và trái với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Chúng ta có đầy đủ cơ sở để phản bác.
Ngay từ Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam (năm 1946) cho đến tất cả những bản Hiến pháp sau này đều quy định rất rõ: Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử, từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Việc thực hiện các quyền này được cụ thể hóa tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, quy định: Công dân Việt Nam đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Người ứng cử ĐBQH phải đáp ứng các tiêu chuẩn của ĐBQH quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội.
Người ứng cử đại biểu HĐND phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu HĐND quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Điểm b, khoản 1, Điều 36, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND quy định rõ: Người tự ứng cử nộp hai bộ hồ sơ ứng cử tại ủy ban bầu cử ở tỉnh nơi mình cư trú hoặc công tác thường xuyên. Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 16-5-2025 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, nêu rõ: “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật”.
Thực tế đã minh chứng, trong các nhiệm kỳ vừa qua, có nhiều người tự ứng cử được cử tri nơi cư trú tín nhiệm cao, vượt qua các vòng hiệp thương để vào danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và được cử tri nơi ứng cử tín nhiệm bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND. Danh sách cụ thể những người tự ứng cử đủ tiêu chuẩn và danh sách những người tự ứng cử được bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND các nhiệm kỳ đều công khai, minh bạch trên các phương tiện thông tin đại chúng. Rõ ràng “ở Việt Nam không thể tự ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND” là luận điệu xuyên tạc, vu khống trắng trợn quyền tự ứng cử ở Việt Nam.
2. Ở chiều ngược lại, thực tế trước mỗi kỳ bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, triệt để lợi dụng quyền tự ứng cử, trên các trang mạng xã hội, internet, các thế lực thù địch, phản động còn ráo riết lập ra các hội, nhóm mạo danh “dân chủ”, hô hào ký tên ủng hộ, tung hô, cổ xúy cho những đối tượng tự xưng là “nhà dân chủ” ra ứng cử nhằm gây rối, phá hoại công tác chuẩn bị nhân sự của các địa phương, cơ quan chức năng và Quốc hội. Đằng sau chiêu trò “tự ứng cử” của các phần tử thù địch, phản động là “nếu trúng cử sẽ biến Quốc hội, HĐND trở thành diễn đàn cho chúng thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, gây rối hoạt động của cơ quan dân cử”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” ngay trong cơ quan dân cử, làm nước ta tự suy yếu từ bên trong. Tuy nhiên, hy vọng hão huyền của chúng không thể che mắt, đánh lừa được cử tri nước ta. Bất kỳ cuộc bầu cử nào, chiêu trò “tự ứng cử” đều bị cử tri nơi cư trú vạch mặt thẳng thừng.
Cần phải biết, những người tham gia ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định. Việc lựa chọn những ứng cử viên để bầu vào Quốc hội, HĐND các cấp được tiến hành theo đúng quy định tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp. Chỉ thị số 46-CT/TW cũng nêu rõ: “Không đưa vào danh sách ứng cử người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, bảo thủ, tư tưởng bè phái, cục bộ, địa phương; các đối tượng đang bị thanh tra, kiểm tra dấu hiệu vi phạm, đã bị các cơ quan có thẩm quyền kết luận không trung thực; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra những vụ, việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, mất đoàn kết nghiêm trọng”. Hơn nữa, người ứng cử ĐBQH phải đáp ứng tiêu chuẩn của ĐBQH theo quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội; người ứng cử đại biểu HĐND phải đáp ứng tiêu chuẩn của đại biểu HĐND được quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương.
Theo đó, chỉ những người ứng cử đáp ứng đủ tiêu chuẩn mới có tên trong danh sách sau Hội nghị Hiệp thương lần thứ ba. Theo quy định, cử tri nơi cư trú hoặc cử tri nơi công tác sẽ nhận xét người ứng cử có đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không và trực tiếp biểu quyết nhất trí hay không nhất trí để người đó ứng cử ĐBQH, HĐND. Kết quả của hội nghị cử tri là một trong những căn cứ quan trọng để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương và quyết định điền tên người ứng cử vào danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không. Đây là quy trình rất chặt chẽ, dân chủ, nhằm sàng lọc và loại bỏ những người ứng cử không đủ tiêu chuẩn làm ĐBQH, đại biểu HĐND từ trước khi bầu cử.
Những phần tử chống đối, phá hoại bầu cử biết rất rõ mình không thể đáp ứng đủ tiêu chuẩn của ĐBQH, đại biểu HĐND, đặc biệt là các tiêu chuẩn như: Trung thành với Hiến pháp, gương mẫu chấp hành pháp luật... Cần nhấn mạnh thêm rằng, nguyên tắc nghị sĩ (đại biểu Quốc hội) phải trung thành với Hiến pháp, tuân thủ pháp luật được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Vì thế, các thế lực phản động không thể qua mắt các quy trình về hiệp thương, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú. Riêng điều này đã thể hiện rõ sự kệch cỡm của chúng về những bản “tập hợp ký tên”. Khi không vượt qua được hội nghị cử tri nơi cư trú, chúng lu loa xuyên tạc rằng “hội nghị cử tri chỉ là nơi đấu tố, lên án để loại chúng ngay từ vòng đầu”.
3. Để ngày bầu cử sắp tới thực sự trở thành ngày hội của toàn dân, các cấp, ngành, địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử; thấy rõ trách nhiệm của mỗi lá phiếu đối với tương lai đất nước. Các địa phương cần phát động phong trào thi đua, tổ chức diễn đàn, tiếp xúc cử tri, hội thi tìm hiểu pháp luật về bầu cử, tạo không khí phấn khởi, đồng thuận trong xã hội gắn với triển khai thực hiện nhiệm vụ của đất nước, bộ, ngành, địa phương, đơn vị và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, nhất là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Chú trọng tuyên truyền các quy định của pháp luật về bầu cử, tuyên truyền công tác chuẩn bị bầu cử và không khí dân chủ, đúng pháp luật trong bầu cử, nhất là ý thức tự giác trong thực hiện quyền lợi và trách nhiệm của cử tri.
Toàn hệ thống chính trị tập trung cao nhất cho công tác chuẩn bị, bảo đảm tổ chức cuộc bầu cử diễn ra dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và thực sự trở thành ngày hội của nhân dân. Trong đó, công tác nhân sự phải được tiến hành công khai, minh bạch, lắng nghe ý kiến rộng rãi từ cơ sở; gắn với quy hoạch cán bộ, kết quả đại hội đảng các cấp và yêu cầu tinh gọn bộ máy. Sàng lọc kỹ lưỡng, kiên quyết loại bỏ ngay từ đầu những người không đủ tiêu chuẩn cả về phẩm chất và năng lực. Cùng với đó, chủ động phản bác thông tin sai sự thật, nhất là những thông tin liên quan đến công tác bầu cử bằng lập luận khoa học, thực tiễn, thuyết phục. Kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc phá hoại cuộc bầu cử, lợi dụng bầu cử, “tự ứng cử” để kích động, gây rối, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng và Nhà nước.
Báo QĐND
Các cử tri đang đăng ký thường trú tại địa bàn được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi mình thường trú và mỗi công dân chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở nơi mình thường trú hoặc tạm trú.
Căn cứ vào quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Quốc hội khóa XV đã ban hành Nghị quyết số 199/2025/QH15 ngày 21/5/2025 quyết định rõ Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 là Chủ nhật, ngày 15/3/2026.
Việc lập danh sách cử tri và việc niêm yết danh sách cử tri được tiến hành như thế nào?
Danh sách cử tri do ủy ban nhân dân cấp xã lập theo từng khu vực bỏ phiếu (theo Mẫu số 31/HĐBC). Danh sách cử tri trong đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị lập theo đơn vị vũ trang nhân dân để đưa vào danh sách cử tri của khu vực bỏ phiếu nơi đơn vị đóng quân.
Mọi công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 (theo Mẫu số 10/HĐBC), trừ những người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự.
Mỗi công dân chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở nơi mình thường trú hoặc tạm trú.
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo cho cử tri ở địa phương về việc lập danh sách cử tri theo từng khu vực bỏ phiếu. Các cử tri đang đăng ký thường trú tại địa bàn được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi mình thường trú; trường hợp cử tri có nguyện vọng bỏ phiếu ở nơi khác thì cần thông báo lại để ủy ban nhân dân cấp xã không ghi tên vào danh sách cử tri ở địa phương.
Trong quá trình lập danh sách cử tri, ủy ban nhân dân cấp xã chỉ ghi vào danh sách những cử tri đang đăng ký tạm trú ở địa phương mình nếu cử tri đó thể hiện rõ nguyện vọng được tham gia bỏ phiếu tại nơi mình tạm trú (có thể bằng văn bản hoặc trực tiếp bằng lời nói với người có trách nhiệm, ví dụ như trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố hoặc cán bộ phụ trách công tác lập danh sách cử tri của ủy ban nhân dân cấp xã…).
Chậm nhất là ngày 3/2/2026 (40 ngày trước ngày bầu cử), ủy ban nhân dân cấp xã đã lập danh sách cử tri phải niêm yết danh sách đó tại trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã và tại những địa điểm công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi danh sách cử tri và việc niêm yết để Nhân dân kiểm tra.
Việc lập, niêm yết danh sách cử tri và việc thay đổi, bổ sung, cập nhật danh sách cử tri được thực hiện theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Thông tư số 21/2025/TT-BNV ngày 12/10/2025 của Bộ Nội vụ và Quyết định số 8202/QĐ-BCA-C06 ngày 7/10/2025 của Bộ Công an
Lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước đã chứng minh, trong bất kỳ giai đoạn, triều đại hay chế độ nào, việc dùng người luôn là công việc hệ trọng liên quan trực tiếp tới sự an-nguy, thịnh-suy của một quốc gia.
Vì thế, ngay từ khi nước Việt Nam mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi việc phát hiện, rèn luyện, sử dụng cán bộ là khâu trọng yếu. Và theo Người, phẩm chất đầu tiên của một cán bộ tốt là phải giữ được 4 đức tính: Cần, kiệm, liêm, chính.
Cần, kiệm, liêm, chính- là cốt lõi đạo đức cách mạng
Tấm gương cần, kiệm, liêm, chính của Chủ tịch Hồ Chí Minh được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khái quát: "Bốn chữ Cần, Kiệm, Liêm, Chính-là cốt lõi đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Đạo đức ấy của Bác là “tinh hoa của dân tộc”, là “lương tâm của thời đại”. Bác Hồ là tấm gương sáng ngời về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Bác là điển hình của sự nhất quán giữa lời nói và việc làm, giữa tư tưởng và lối sống, suốt đời vì nước vì dân". Cũng về điều này, đồng chí Trường Chinh trong bài viết đăng trên Báo Nhân Dân, số 8, ngày 13-5-1951 viết: "Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đó là đại cương đạo đức của Hồ Chủ tịch, mà toàn dân ta, trước hết đồng chí chúng ta cần phải học tập và thực hành".
Chủ tịch Hồ Chí Minh là gương sáng, là hiện thân của đức tính “cần, kiệm, liêm, chính”. Thực hành tiết kiệm; giữ liêm khiết, trong sạch trở thành phong cách riêng của Người ở mọi lúc, mọi nơi. Người sống trung thực, chân thành với chính mình và với người khác. Đời sống của Người thanh cao và giản dị, trọn đời vì nước, vì dân "giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khổ không thể lay chuyển, uy lực không thể khuất phục", bởi vì Người trước sau một lòng "trung với nước, hiếu với dân", là vì Người luôn nêu gương "chí công vô tư", cả đời gương mẫu thực hành cần, kiệm, liêm, chính.
Tại sao cán bộ, nhân dân, mọi tầng lớp trong xã hội lại phải cần, kiệm, liêm, chính? Bác dạy rằng: Muốn giàu có thì mỗi cá nhân, mỗi gia đình cho đến cả nước phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, kết quả sẽ là những thứ gì cũng sẽ đầy đủ, dư dật. Cần tức là tăng năng suất trong công tác, bất kỳ là công tác gì. Kiệm tức là không lãng phí thì giờ, của cải của mình và của dân. Liêm tức là không tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân. Chính tức là việc phải dù nhỏ cũng làm, việc trái dù nhỏ cũng tránh. 4 điều này luôn phải đi liền với nhau và khái quát ở tầm cao là sự chí công vô tư. Suy rộng ra, đã là người cán bộ thì làm việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã... có khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau. Những cán bộ nào không làm được như vậy, sa vào chủ nghĩa cá nhân, chỉ thấy lợi ích riêng của mình, không thấy lợi ích của tập thể, thấy vật chất muốn hưởng thụ, có công việc không dám xung phong, cán bộ đó ắt đã biến chất. Từ sự biến chất ấy sẽ đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm như quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, tham ô, lãng phí... và như vậy, chủ nghĩa cá nhân chính là kẻ thù của nhân dân, kẻ thù của cần, kiệm, liêm, chính.
Người cán bộ cần, kiệm, liêm, chính thì tài năng thêm phát triển
Có thể thấy rõ việc Bác dạy cán bộ, đảng viên và Bác gương mẫu thực hành cần, kiệm, liêm, chính là Bác muốn rèn luyện đạo đức cho mỗi người cán bộ. “Cán bộ là gốc của mọi công việc”. Mà cái gốc của người cán bộ như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong bài viết "Về một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng" đã chỉ rõ: "Người cán bộ phải vừa có Đức vừa có Tài, trong đó Đức là gốc". Nhìn rộng ra, người cán bộ có đức thì nhất định phải là người cán bộ cần, kiệm, liêm, chính; và người cán bộ cần, kiệm, liêm, chính là người cán bộ có đạo đức. Người cán bộ có đức sẽ làm cho tài năng thêm phát triển, bởi người thực sự có đức bao giờ cũng khiêm tốn, chịu khó học tập, phấn đấu nâng cao tài năng của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng giao cho.
Điều này phù hợp với định hướng của Đảng ta về công tác cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược. Khi đề cập đến công tác cán bộ, theo nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan: Trong tình hình mới có nhiều thay đổi, công tác rèn luyện cán bộ của chúng ta còn nhiều sơ hở, liên quan tới cả cán bộ cấp cao, có cả cấp Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương, bộ trưởng... Để đào tạo được đội ngũ cán bộ chiến lược mẫu mực, cần cả "tâm" và "tầm". Tâm và tầm thực chất chính là đạo đức và tài năng. Càng là cán bộ cấp cao thì càng đòi hỏi cao hơn về hai yếu tố này. Bởi vì, người cán bộ cấp cao, cán bộ chiến lược điều cần nhất là sự trong sạch (trong sạch ắt phải là người cần, kiệm, liêm, chính), vì không trong sạch thì không thể nói được ai, chỉ đạo được cái gì. Còn tài năng chính là việc nhìn xa trông rộng. Cán bộ chiến lược khác người thường ở chỗ, người thường chỉ nhìn cái cụ thể, còn cán bộ chiến lược phải có hiểu biết rộng, từ đó đề ra những quyết sách mang tính chiến lược của quốc gia.
Như vậy có thể thấy, tư tưởng của Bác về cần, kiệm, liêm, chính không chỉ dừng ở những chi tiết cụ thể, mà từ những điều cụ thể ấy, nó bao hàm ý nghĩa lớn lao hơn rất nhiều, đó là tương lai, là sinh mệnh của đất nước. Điều ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị nhân văn và tính thời sự, có ý nghĩa thiết thực đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn dân.
Cần, kiệm, liêm, chính thời nào cũng vậy, đó là sự chăm chỉ, khoa học, có tính toán cẩn thận để sao cho tiết kiệm sức người, sức của, tiết kiệm thời gian... mà năng suất lao động, hiệu quả cao. Đi ngược lại là lãng phí vật tư, thời gian, tiền bạc của nhân dân, của đất nước mà công việc không hoàn thành, làm nghèo đất nước, kìm hãm sự phát triển của xã hội và gây bất bình trong nhân dân. Còn về liêm, chính, Bác dạy rằng, cán bộ đương nhiên là có quyền, nếu có quyền mà lợi dụng để tham ô, đục khoét thì làm sao mà lãnh đạo cơ quan, làm sao mà nói để dân tin được. Cán bộ thời nào cũng thế, nếu không giữ được mình trong sạch, sa vào hưởng thụ, tham lam là có tội với nước, với dân. Vì thế, với người cán bộ của Đảng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính không chỉ là trách nhiệm mà còn là bổn phận, nghĩa vụ, trước hết là nghĩa vụ của mỗi công dân; không chỉ tạo nên giá trị chân chính cho mỗi người mà còn hun đúc nên giá trị cao quý cho cả một dân tộc, một quốc gia.
Ngày nay, cần, kiệm, liêm, chính được phát triển lên tầm cao mới, đi vào đời sống thực tiễn sẽ có vai trò, tác dụng và ý nghĩa vô cùng to lớn, tạo nên thương hiệu một quốc gia. Có thể lấy ví dụ về những thương hiệu quốc tế về cần, kiệm, liêm, chính, như: Nước Đức được mệnh danh là đất nước của những công dân cần cù, khoa học, chính xác; Singapore nổi tiếng với nền hành chính sạch, quan chức liêm khiết; Nhật Bản nổi tiếng với sự tiết kiệm, sáng tạo... Nhìn ra thế giới mới thấy những lời Bác dạy vẹn nguyên tính thời sự: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm sỉ, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”.
Chỉ có trong sạch thì Đảng mới vững mạnh
Trong bối cảnh đất nước và quốc tế hiện nay, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính càng đặc biệt đúng trong công tác giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên trước nguy cơ không ít cán bộ sa vào ăn chơi, hưởng thụ quá sức lao động, quan liêu, tham nhũng... Và để thỏa mãn những ham muốn thấp hèn của bản thân, họ đã tìm mọi cách để đục khoét ngân sách nhà nước. Những đại án nghìn tỷ, chục nghìn tỷ đang để lại hậu quả mà phải mất rất nhiều năm để khắc phục, nhưng nỗi đau về niềm tin mà nhân dân dành cho Đảng thì phải rất lâu, rất khó để lấy lại.
Xác định rõ nguy cơ này, từ Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đến Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII), Đảng ta rất coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh việc chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên. Trong bối cảnh có biến động rất đáng lo ngại về mặt đạo đức, lối sống và nhận thức của không ít cán bộ, đảng viên, mới thấy thấm thía hết ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn lao trong việc triển khai Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân gắn với rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành “cần, kiệm, liêm, chính” nhằm tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Thực tiễn đã chỉ ra, một xã hội muốn phát triển tất yếu phải chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đồng thời phải giáo dục mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Việc tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức đối với cán bộ, đảng viên là vấn đề cấp thiết. Như lời Bác dạy, cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính quan trọng của con người, giống như trời có bốn mùa xuân-hạ-thu-đông; đất có 4 phương đông-tây-nam-bắc... Thiếu một mùa thì không thành trời, thiếu một phương thì không thành đất, thiếu một đức thì không thành người. Điều này được Bác nhắc lại trong bản Di chúc bất hủ: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư...”./.
Báo Quân đội nhân dân
Một trong những phẩm giá quan trọng hàng đầu của người đảng viên là trung thực. Trung thực không chỉ là một trong những đức tính cao đẹp của người Việt Nam đã được xác định tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII), mà “trung thực với Đảng” còn là trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận của người cộng sản đã được quy định trong Điều lệ Đảng. Bởi đảng viên là đại diện tiêu biểu về trí tuệ, đạo đức, lương tâm và danh dự của giai cấp, dân tộc và nhân dân.
Đảng viên có đức tính trung thực trước hết phải không tự dối bản thân và càng không thể dối đồng chí, đồng đội, tổ chức. Trung thực là sống có trước, có sau, có tình, có nghĩa, thấy điều lợi thì làm, thấy điều hại thì tránh. Đảng viên sống, làm việc trung thực phải biết phân biệt đúng-sai, nhận rõ phải-trái, phân minh hay-dở, hiểu rõ thiện-ác và hiểu được đâu là niềm tin chân chính, đâu là dối trá.
Đảng viên có tấm lòng trung thực luôn nghĩ, nói và làm những điều hay lẽ phải, hợp lòng người, phù hợp luân thường đạo lý và chuẩn mực tốt đẹp của cộng đồng, xã hội. Đảng viên trung thực thấy cái tốt, cái đúng thì giữ gìn, bảo vệ và cổ vũ, khích lệ để phát huy; thấy cái sai, cái xấu, cái ác thì phê phán, đấu tranh để ngăn ngừa, hạn chế. Đảng viên có tính trung thực luôn sống tử tế, đàng hoàng, không phải ra luồn vào cúi để cầu mong hưởng lợi lộc, công danh phú quý cho bản thân.
Không chỉ vậy, đảng viên trung thực phải là người biết mình khi có ưu điểm thì phát huy, có khuyết điểm thì thành tâm sửa chữa, khắc phục, không bao giờ tự thỏa mãn với chính mình. Đảng viên trung thực luôn có ý thức phấn đấu vươn lên, ham học hỏi và cầu tiến bộ. Tính kiêu căng, ngạo mạn, khoe khoang, phô trương cũng như sự tham lam, ích kỷ, kèn cựa, vụ lợi hoàn toàn đối lập với đức tính trung thực của đảng viên chân chính.
Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống với nhiều mối quan hệ đa chiều, phức tạp hiện nay, không ít người tự “đánh bóng” bằng vẻ ngoài “hào hoa phong nhã” để che đậy bao sự nhỏ nhen, ích kỷ, nhân danh trung thực để làm điều gian trá. Có người “đội lốt lông công” để lừa thầy phản bạn, bêu xấu và hạ bệ nhau. Một số đảng viên lại sống với nhau “bằng mặt mà không bằng lòng”, bên ngoài thì tỏ vẻ cởi mở, chan hòa nhưng bên trong thì ngấm ngầm giữ miếng, nghi kỵ, thậm chí hãm hại lẫn nhau.
Thái độ thiếu trung thực kiểu đó như một thứ gặm nhấm làm hủy hoại tình thương yêu, đoàn kết thực sự giữa con người với con người. Đây chính là nguyên nhân làm sứt mẻ các mối quan hệ, khiến cho những người lúc đầu là bạn bè, đồng chí, về sau trở thành “đối địch, đối thủ” của nhau. Những hiện tượng gây bè kéo cánh, cục bộ địa phương, tham ô, hối lộ, sách nhiễu có phần bắt nguồn vừa sâu xa, vừa trực tiếp từ sự thiếu trung thực. Thực tế cho thấy, không cán bộ, đảng viên nào có đức tính trung thực lại thiếu thái độ công tâm với tổ chức, cộng đồng, xã hội. Và càng không đảng viên nào có tấm lòng trung thực lại đi bôi nhọ nhân cách đồng chí, đồng đội; đục khoét tài sản của Nhà nước và “ăn cắp” mồ hôi, công sức của nhân dân.
Trong 3 yếu tố chân-thiện-mỹ thì cái thật, cái đúng của con người luôn được đặt ở nấc thang giá trị hàng đầu. Vì cái thật, cái đúng luôn là tiền đề để xây dựng và lan tỏa cái tốt, cái đẹp. Mặt khác, bản chất cái tốt, cái đẹp luôn hàm chứa trong nó cái chân thật đích thực. Lòng tự trọng, tự tôn của mỗi đảng viên chân chính đều có xuất phát điểm từ đức tính trung thực.
Xã hội nào cũng vậy, khi đức tính trung thực được coi trọng sẽ góp phần làm lành mạnh các quan hệ xã hội và kiến tạo nền tảng của một xã hội công bằng, bình đẳng, nhân văn. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, nâng cao đức tính trung thực của cán bộ, đảng viên sẽ hạn chế, kiểm soát, phòng ngừa được lòng tham lam, tính ích kỷ và sự bon chen, cạnh tranh không lành mạnh, đồng thời góp phần hiện thực hóa chủ trương xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” như dự thảo văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh.
Báo QĐND
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 là sự kiện chính trị quan trọng, thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân và góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 20262031 có ý nghĩa chính trị như thế nào?
Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận.
Bầu cử là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung và thành lập cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương nói riêng.
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 được tổ chức cùng một ngày trên phạm vi cả nước, trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở nước ta sau 40 năm đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực đời sống, xã hội; đồng thời tích cực triển khai việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tổ chức lại địa giới hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp bảo đảm tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả để tiến vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, diễn ra ngay sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, là bước cụ thể hóa nghị quyết gắn liền với công tác cán bộ của Đảng, liên quan đến trách nhiệm của các cấp, các ngành; là nơi để cử tri phát huy quyền làm chủ của công dân, lựa chọn bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình trong Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.
Sau thành công rất toàn diện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, bài viết Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta! của Tổng Bí thư Tô Lâm không chỉ là lời hiệu triệu hành động, mà còn là một bản tuyên ngôn về sức mạnh nội sinh của dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.
Ẩn sâu trong thông điệp về hành động quyết liệt và đột phá thể chế là một trục giá trị xuyên suốt: Văn hóa, con người, niềm tin xã hội. Chính từ nền tảng ấy, khát vọng Việt Nam hùng cường mới có điểm tựa bền vững để hiện thực hóa.
Lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo cao nhất
Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào một giai đoạn đặc biệt quan trọng của lịch sử phát triển. Sau gần bốn mươi năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thế và lực của quốc gia không ngừng được nâng cao.
Nhưng cùng với thời cơ rộng mở là những thách thức ngày càng phức tạp: Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, biến động địa chính trị, cách mạng công nghiệp mới, ch.uyển đ.ổi s.ố toàn diện và những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển nhanh.
Trong bối cảnh ấy, Đại hội XIV không chỉ tổng kết một nhiệm kỳ, mà xác lập một tâm thế mới cho dân tộc, tâm thế bước vào kỷ nguyên phát triển với khát vọng lớn hơn, yêu cầu cao hơn và trách nhiệm nặng nề hơn.
Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm được công bố ngay sau thành công của Đại hội, vì thế không đơn thuần là lời động viên tinh thần, mà là một bản hiệu triệu có chiều sâu tư tưởng.
Thông điệp “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!” gợi nhắc khí phách lịch sử của dân tộc trong những thời khắc quyết định, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu mới của thời bình: Chiến thắng không còn đo bằng chiến công quân sự, mà bằng năng lực phát triển, bằng chất lượng cuộc sống, bằng vị thế văn hóa và sức mạnh mềm của quốc gia.
Điều đáng chú ý là trong mạch lập luận về hành động quyết liệt và đột phá phát triển, bài viết của Tổng Bí thư luôn gắn kết chặt chẽ với yếu tố con người và nền tảng văn hóa. Khi nhấn mạnh yêu cầu “lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả”, đó không chỉ là một công thức quản trị hiện đại, mà còn là lời kêu gọi xây dựng một văn hóa hành động, nơi lời nói gắn với việc làm, trách nhiệm gắn với kết quả, danh dự cá nhân gắn với lợi ích của Nhân dân và đất nước.
Văn hóa ở đây không phải là một lĩnh vực riêng biệt đứng bên cạnh kinh tế hay chính trị, mà là hệ giá trị chi phối cách chúng ta suy nghĩ, hành xử và tổ chức xã hội. Một xã hội có văn hóa trách nhiệm cao sẽ không chấp nhận tình trạng “nói nhiều làm ít”; một nền quản trị có văn hóa liêm chính sẽ không dung thứ cho quan liêu, hình thức; một đội ngũ cán bộ thấm nhuần văn hóa phụng sự sẽ luôn tự hỏi mình đã làm được gì cho nhân dân, thay vì tìm cách né tránh trách nhiệm.
Chính vì vậy, lời nhấn mạnh của Tổng Bí thư về việc lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo cao nhất của hiệu quả thực thi chính sách là một biểu hiện sinh động của việc đưa văn hóa phục vụ vào trung tâm của quản trị quốc gia.
Điểm tựa tinh thần để chúng ta tin tưởng vào một tương lai phát triển
Trong chiều sâu của thông điệp ấy là tư tưởng “Dân là gốc”, một giá trị cốt lõi của truyền thống chính trị Việt Nam được phát triển và nâng tầm trong điều kiện mới. Khi người dân được đặt ở vị trí trung tâm của mọi chính sách, khi quyền làm chủ của nhân dân được tôn trọng và phát huy, thì đó không chỉ là yêu cầu chính trị, mà còn là điều kiện văn hóa để xã hội đạt tới đồng thuận và bền vững.
Niềm tin xã hội, vốn là một dạng “vốn văn hóa” đặc biệt chỉ được bồi đắp khi người dân cảm nhận rõ sự công bằng, minh bạch và hiệu quả của bộ máy công quyền.
Bài viết cũng gợi mở một cách nhìn rất đáng suy ngẫm về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, xã hội. Khi nhấn mạnh giáo dục, y tế, văn hóa phải được quan tâm đầu tư ngang tầm với tăng trưởng kinh tế, Tổng Bí thư đã khẳng định rõ một quan điểm phát triển toàn diện: Tăng trưởng chỉ có ý nghĩa khi con người được phát triển toàn diện, khi xã hội được củng cố về đạo đức, nhân cách và bản sắc. Văn hóa trong ý nghĩa đó không chỉ là di sản hay lễ hội, mà là lối sống, là chuẩn mực ứng xử, là tinh thần thượng tôn pháp luật, là khát vọng vươn lên bằng tri thức và sáng tạo.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng, văn hóa càng trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng để đất nước giữ vững bản sắc và nâng cao sức mạnh mềm. Một quốc gia có bản sắc văn hóa rõ nét, có con người năng động, sáng tạo và có trách nhiệm xã hội cao sẽ có lợi thế lớn trong cạnh tranh quốc tế. Chính vì vậy, thông điệp “tiến lên” trong bài viết của Tổng Bí thư không chỉ là tiến lên về tốc độ tăng trưởng, mà còn là tiến lên về chất lượng văn hóa của phát triển, nơi con người Việt Nam được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược quốc gia.
Từ góc nhìn văn hóa, giai đoạn 5-10 năm tới mà bài viết nhấn mạnh như một giai đoạn bản lề không chỉ là bản lề về kinh tế, mà còn là bản lề về hệ giá trị xã hội. Đây là thời điểm quyết định xem chúng ta xây dựng được một xã hội phát triển dựa trên sáng tạo, liêm chính, trách nhiệm và nhân văn, hay để những biểu hiện tiêu cực của chủ nghĩa thực dụng, chạy theo lợi ích ngắn hạn làm xói mòn nền tảng tinh thần. Việc chuyển hóa Nghị quyết Đại hội XIV thành hành động cụ thể vì vậy không chỉ là vấn đề kỹ thuật quản lý, mà là quá trình hình thành một văn hóa phát triển mới cho dân tộc.
Ở đoạn kết, khi Tổng Bí thư nhắc lại lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”, đó không chỉ là sự nối dài mạch nguồn lịch sử, mà còn là lời nhắc nhở về sức mạnh tinh thần đã giúp dân tộc Việt Nam vượt qua mọi thử thách trong quá khứ.
Hôm nay, sức mạnh ấy cần được khơi dậy trong một hình thái mới: Tinh thần đổi mới sáng tạo, ý thức kỷ luật, khát vọng cống hiến và niềm tin vào tương lai chung của đất nước. Tiến lên trong kỷ nguyên mới, vì thế, trước hết là tiến lên về văn hóa: Văn hóa trách nhiệm trong công vụ, văn hóa liêm chính trong quản trị, văn hóa sáng tạo trong lao động, văn hóa nhân ái trong đời sống xã hội. Khi nền tảng văn hóa ấy được củng cố, mọi mục tiêu kinh tế - xã hội dù cao đến đâu cũng sẽ có điểm tựa vững chắc để trở thành hiện thực.
Và khi mỗi người dân cảm thấy mình là chủ thể của phát triển, được tôn trọng, được trao cơ hội và được sống trong một môi trường văn hóa lành mạnh, thì khát vọng Việt Nam hùng cường mà Đại hội XIV xác lập sẽ không còn là viễn cảnh xa xôi, mà là con đường đang mở ra từng ngày dưới bước chân của cả dân tộc.
Tiến lên từ nền tảng văn hóa của khát vọng dân tộc, đó chính là chiều sâu bền vững của thông điệp mà Tổng Bí thư gửi gắm sau Đại hội XIV, và cũng là điểm tựa tinh thần để chúng ta tin tưởng vào một tương lai phát triển, nhân văn và thịnh vượng của đất nước trong thế kỷ XXI./.