9/2/26

10 nhóm nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIV

 


Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIII và tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011-2025); phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XIV do đồng chí Lê Minh Hưng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương trình bày tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tổ chức ngày 7/2/2026 nêu rõ: Nhiệm kỳ Đại hội XIV, Đảng xác định mục tiêu cốt lõi: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới để Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh."


Thực hiện chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức đảng, mỗi đảng viên, mỗi cơ quan, đơn vị, trước hết là người đứng đầu phải chủ động chuyển từ “nhận thức đúng” thành “tổ chức triển khai có hiệu quả”; từ “quyết tâm cao” thành “kết quả rõ”; kết hợp “chỉ đạo, điều hành” với “kiểm tra, giám sát và chịu trách nhiệm” triển khai 10 Nhóm nhiệm vụ với từng khung thời gian thực hiện, hoàn thành cụ thể./.


Theo TTXVN


8/2/26

Phát huy nội lực

 Để bảo vệ độc lập tự do, chủ quyền đất nước, trước hết chúng ta phải dựa vào sức mình là chính, đồng thời kết hợp, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng tiến bộ và cách mạng trên thế giới. Muốn tự giải phóng, hay tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ từ bên ngoài, điều quan trọng nhất là phải phát huy cao độ sức mạnh nội lực, phát huy tiềm lực của đất nước và dân tộc, xây dựng kinh tế, chính trị, quốc phòng-an ninh trong đó có sức mạnh của truyền thống yêu nước, ý chí kiên cường, ý thức tự lực tự cường và tinh thần đoàn kết của nhân dân...#



Một trong những thành tố của nội lực dân tộc là sức mạnh của lòng yêu nước, của tinh thần dân tộc và ý chí đấu tranh anh dũng vì độc lập tự do. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đã chứng minh lòng yêu nước là một trong những tình cảm thiêng liêng nhất trong mỗi con người Việt Nam, là nguồn lực tinh thần, nền tảng tinh thần, sức mạnh vô địch, giúp cho nhân dân Việt Nam chiến thắng được mọi kẻ thù hung ác, đồng thời đó cũng là bản sắc dân tộc, là phẩm chất tốt đẹp đã tạo nên cốt cách của con người Việt Nam. Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc Việt Nam đã trở thành đạo lý, lẽ sống, phẩm giá của mọi người dân và tạo ra sức mạnh của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Chủ nghĩa dân tộc chân chính là động lực lớn của đất nước.


 

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Biểu tượng của độc lập trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, không ai có thể phủ nhận được vai trò của tinh thần ái quốc của mỗi người dân Việt Nam. Trong hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc, chính tinh thần dân tộc, ý thức về chủ quyền đất nước là động lực để những con người bình dị Việt Nam, nhiều thế hệ nối tiếp nhau hiến dâng xương máu trong các cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước như những người anh hùng vĩ đại nhất.


Họ hy sinh, cống hiến tính mạng mình mà không hề đòi hỏi bất cứ điều gì từ những sự hy sinh cao cả ấy, bởi khi nhân dân Việt Nam cầm vũ khí ra chiến trường, họ chỉ có một mục tiêu duy nhất - đó là chiến đấu để cho nước nhà được độc lập, thống nhất, nhân dân được tự do, hạnh phúc. Lòng yêu nước giúp họ đạt được những mục tiêu cao cả đó. Lòng yêu nước chính là bệ đỡ cho dân tộc Việt Nam chiến thắng mọi khó khăn, vượt qua mọi gian nan, thử thách.


Đặc biệt, trong những lúc hiểm nguy, vận mệnh dân tộc bị đe dọa, thì lòng yêu nước đã gắn kết mỗi con người, cả dân tộc thành một khối thống nhất bền vững và mỗi lần đất nước lâm nguy trước nạn ngoại xâm là một lần lòng yêu nước ấy được khơi dậy, trở thành nguồn gốc của sức mạnh dân tộc.


Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chăm lo giáo dục cho quân và dân ta phát huy lòng yêu nước gắn kết chặt chẽ với yêu chủ nghĩa xã hội; giáo dục, rèn luyện phẩm chất cách mạng, tinh thần chiến đấu, lao động sản xuất; ý thức tổ chức kỷ luật; trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật cao đáp ứng yêu cầu của kháng chiến. Nhờ đó, trước nguy cơ đất nước bị chia cắt lâu dài, trước hiểm họa bị nô dịch, áp bức, mất độc lập tự do, mất chủ quyền quốc gia dân tộc, lòng yêu nước, yêu Tổ quốc của con người Việt Nam bình thường, giản dị trở nên vô cùng mạnh mẽ./

LỪA ĐẢO TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Hình ảnh di lý 68 "doanh nhân thành đạt" về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng để điều tra, xác minh, xử lý theo quy định của pháp luật.




Công an tỉnh Cao Bằng xác định các đối tượng này đã sử dụng mạng xã hội và các “app tình cảm” để làm quen, tạo dựng quan hệ tình cảm với bị hại, sau đó dụ dỗ tham gia đầu tư vào các website đánh bạc, website tài chính giả mạo do các đối tượng tự lập ra nhằm chiếm đoạt tài sản. 


Nhiều nạn nhân bị chiếm đoạt số tiền lên tới hàng chục tỷ đồng, tổng số tiền bị chiếm đoạt ước tính ban đầu khoảng 200 tỷ đồng.


Bộ Công an

TIẾN LÊN! TOÀN THẮNG ẮT VỀ TA!

 


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vừa kết thúc rất thành công là sự kiện chính trị đặc biệt trọng đại, mở ra một kỷ nguyên phát triển mới cho đất nước. Đại hội là sự tập trung cao độ ý chí, nguyện vọng, quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, kết tinh trí tuệ và khát vọng vươn lên của dân tộc. Phương châm của Đại hội: “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển” không chỉ là khẩu hiệu, mà thực sự là lời hiệu triệu, là mệnh lệnh của trách nhiệm trước lịch sử, khẳng định niềm tin tất thắng vào con đường Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.


Với quá trình chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, khoa học và tiếp thu rộng rãi ý kiến đóng góp trong toàn Đảng, toàn dân, văn kiện Đại hội XIV được thông qua thể hiện tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị cao nhất. Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử các kỳ đại hội, Đại hội XIV ban hành Chương trình hành động kèm theo Nghị quyết - một bước đột phá nhằm bảo đảm Nghị quyết đi ngay vào cuộc sống. Từ chủ trương đến kế hoạch và tổ chức thực hiện đều được xác định rõ ràng ai làm, làm khi nào, cần nguồn lực gì và mục tiêu cuối cùng ra sao. Nhờ vậy, Nghị quyết Đại hội XIV thực sự trở thành một cẩm nang hành động của Đảng và cả hệ thống chính trị, là “ngọn đuốc soi đường” trên con đường phát triển mới.


Nghị quyết Đại hội XIV đề ra mục tiêu tổng quát cho giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn đến 2045 hết sức rõ ràng, táo bạo nhưng khả thi: giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển đất nước nhanh và bền vững; nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tăng cường tự chủ, tự cường để tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Quan trọng hơn, Văn kiện Đại hội XIV đã cụ thể hóa ngay tinh thần hành động quyết liệt. Chương trình hành động kèm theo Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu “lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả” đối với mọi nhiệm vụ. Mỗi quyết sách lớn của Đại hội đều được xây dựng thành kế hoạch triển khai thực tế, xác định rõ mục tiêu, giải pháp và tiêu chí đánh giá. Tư tưởng “Dân là gốc” được quán triệt xuyên suốt: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc phát triển, mọi chính sách đều hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; đồng thời đề cao việc tôn trọng, lắng nghe và phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân. Nhờ thế, Nghị quyết Đại hội XIV không dừng ở tầm nhìn và định hướng, mà đã mang trong mình hơi thở của cuộc sống, khơi dậy khát vọng phát triển và động lực hành động mạnh mẽ, sẵn sàng đi vào thực tiễn ngay sau Đại hội.


5/2/26

THAM GIA BẦU CỬ ĐÚNG PHÁP LUẬT LÀ QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CÔNG DÂN



Quyền bầu cử là quyền chính trị cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định nhằm bảo đảm cho mọi công dân có đủ điều kiện thực hiện việc lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực Nhà nước. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân.


Thông qua bầu cử, công dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, thay mặt mình thực hiện quyền lực Nhà nước, góp phần thiết lập bộ máy Nhà nước để tiến hành các hoạt động quản lý xã hội. Vì vậy, thực hiện bầu cử là trách nhiệm của công dân đối với đất nước.


Quyền làm chủ của Nhân dân là bản chất của chế độ ta, là nền tảng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước. Quyền lực đó được Nhân dân thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc lựa chọn những người đại diện xứng đáng vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Bầu cử chính là hình thức tập trung, rõ nét nhất để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình.


Việc tham gia bầu cử đầy đủ, đúng pháp luật không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm của mỗi công dân, góp phần hình thành bộ máy Nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Đây là điều kiện quan trọng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó mọi hoạt động của Nhà nước đều phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.


Nhà nước pháp quyền chỉ thực sự vững mạnh khi quyền làm chủ của Nhân dân được tôn trọng và phát huy đầy đủ. Ngược lại, quyền làm chủ của Nhân dân chỉ được bảo đảm khi Nhà nước được tổ chức và hoạt động minh bạch, kỷ cương, vì lợi ích của Nhân dân. Vì vậy, mỗi cử tri cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, tích cực tham gia bầu cử, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày càng trong sạch, vững mạnh. Bầu cử là hình thức thể hiện tập trung quyền làm chủ, thông qua bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, Nhân dân thực hiện quyền làm chủ bằng việc: Lựa chọn người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình; góp phần xây dựng bộ máy Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Quyền làm chủ gắn liền với trách nhiệm công dân, đó là cần: Tìm hiểu thông tin về ứng cử viên; tham gia bầu cử đầy đủ, đúng quy định của pháp luật; tôn trọng và chấp hành kết quả bầu cử.


4/2/26

TƯ DUY CHIẾN LƯỢC MỚI: ĐỘNG LỰC MỚI CHO VỊ THẾ VIỆT NAM

TƯ DUY CHIẾN LƯỢC MỚI: ĐỘNG LỰC MỚI CHO VỊ THẾ VIỆT NAM

Theo chuyên gia, những điều chỉnh định hướng đối ngoại gần đây cho thấy Việt Nam đang gia tăng mức độ chủ động trước môi trường chiến lược khó lường.

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV diễn ra trong thời điểm đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội đan xen thách thức từ môi trường quốc tế đang tái cấu trúc. Một dấu ấn nổi bật của kỳ đại hội này là việc tiếp tục khẳng định mạnh mẽ vai trò của đối ngoại trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia. Lần đầu tiên, ngoại giao được đặt ngang tầm với quốc phòng và an ninh, trở thành nhiệm vụ cốt lõi, thường xuyên của Đảng và toàn bộ hệ thống chính trị - một bước đi cho thấy tư duy chủ động hội nhập và nâng cao vị thế quốc gia.
Trong bài phân tích đăng trên Nikkei Asia, ông Derek Grossman, Giáo sư Khoa học chính trị và Quan hệ quốc tế tại Đại học Nam California nhận định, sự điều chỉnh này phản ánh quyết tâm của Việt Nam trong việc mở rộng không gian chiến lược, củng cố nền tảng tự chủ và tăng khả năng thích ứng trước những biến động của trật tự khu vực và toàn cầu.
Ngoại giao được đặt ở vị trí trung tâm
Một trong những thông điệp đáng chú ý từ Đại hội XIV là việc nhấn mạnh vai trò “trọng yếu, thường xuyên” của công tác đối ngoại. Theo ông Grossman, cách diễn đạt này cho thấy ngoại giao ngày càng được nhìn nhận không chỉ là một công cụ chính sách, mà là trụ cột bảo đảm an ninh quốc gia. Trong điều kiện cạnh tranh Mỹ - Trung tiếp diễn và khó đoán định, việc duy trì mạng lưới quan hệ rộng mở trở thành yếu tố then chốt để Việt Nam bảo vệ không gian chiến lược của mình.
Cách tiếp cận này phản ánh nhận thức rằng các sức ép địa chính trị có thể buộc những quốc gia tầm trung phải đối mặt với lựa chọn khó khăn. Với Việt Nam, ngoại giao hiệu quả giúp giảm thiểu nguy cơ bị cuốn vào quỹ đạo của bất kỳ cường quốc nào.
Từ “ngoại giao cây tre” đến mở rộng mạng lưới đối tác
Việt Nam từ lâu theo đuổi chính sách linh hoạt, thường được mô tả bằng hình ảnh “cây tre” - mềm dẻo nhưng kiên định. Chiến lược này giúp đất nước duy trì quan hệ với nhiều nước, kể cả trong bối cảnh căng thẳng quốc tế gia tăng.
Theo ông Grossman, điểm mới hiện nay không nằm ở bản chất chiến lược mà ở mức độ mở rộng nhanh và phạm vi địa lý rộng hơn. Việt Nam đã gia tăng đáng kể số lượng các nước được xác định là “đối tác chiến lược toàn diện” - cấp độ cao nhất trong hệ thống quan hệ đối ngoại. Danh sách này hiện bao gồm nhiều nền kinh tế phát triển và cường quốc như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Pháp và Anh, bên cạnh các đối tác truyền thống.
Song song, Việt Nam mở rộng tiếp xúc với các khu vực ngoài Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và tham gia thêm các cơ chế hợp tác mới. Theo phân tích của ông Grossman, điều này cho thấy Việt Nam sẵn sàng chấp nhận mức độ rủi ro ngoại giao cao hơn để đổi lấy nhiều lựa chọn chiến lược hơn trong dài hạn.
Đa dạng hóa nhưng vẫn duy trì cân bằng với các cường quốc
Mở rộng quan hệ không đồng nghĩa với tách rời các cường quốc. Việt Nam tiếp tục duy trì hợp tác quốc phòng với Mỹ trên nhiều lĩnh vực, đồng thời vẫn giữ các kênh trao đổi quân sự với Trung Quốc. Hai hướng đi song song này phản ánh chính sách nhất quán là “thêm bạn, bớt thù”, đồng thời “hợp tác và đấu tranh” tùy từng vấn đề cụ thể.
Những định hướng được nêu tại Đại hội XIV về tăng trưởng nhanh hơn, hiện đại hóa và đổi mới sáng tạo cũng có ý nghĩa đối ngoại. Năng lực kinh tế và công nghệ gia tăng sẽ tạo điều kiện để Việt Nam hành động chủ động hơn trên trường quốc tế. Vị thế đang lên của Việt Nam trong các đánh giá sức mạnh khu vực phản ánh xu hướng này.
Chủ động để bảo vệ tự chủ
Nhìn tổng thể, theo ông Derek Grossman, cách tiếp cận hiện nay cho thấy Việt Nam không chỉ phản ứng trước biến động quốc tế mà đang chủ động định hình môi trường chiến lược xung quanh mình. Việc mở rộng nhanh mạng lưới đối tác sau Đại hội XIV cho thấy các nhà lãnh đạo Việt Nam đánh giá rằng môi trường chiến lược hiện nay đòi hỏi mức độ chủ động cao hơn so với trước.
Trong bối cảnh này, việc đặt ngoại giao vào vị trí trung tâm, mở rộng mạng lưới đối tác và duy trì thế cân bằng linh hoạt giúp Việt Nam gia tăng “dư địa chiến lược” trong một trật tự thế giới nhiều bất định. Khi được triển khai nhất quán, chiến lược này không chỉ góp phần bảo vệ quyền tự chủ quốc gia, mà còn tạo nền tảng để Việt Nam nâng cao vai trò và tiếng nói của mình trong các cấu trúc khu vực và toàn cầu đang định hình lại./.
Đang tải lên: Đã tải 40287/40287 byte lên.


3/2/26

ĐỪNG ĐỂ VĂN HÓA LAI CĂNG, KỆCH CỠM, PHẢN CẢM CỦA ĐÀM VĨNH HƯNG XÂM NHẬP PHÁ HOẠI VĂN HÓA "BỘ ĐỘI CỤ HỒ" TRONG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM.

Đàm Vĩnh Hưng vừa quảng cáo một  chương trình âm nhạc được anh ta cho là "đặc biệt", dành nhiều tâm huyết, như một lời tri ân gửi đến những người lính đang ngày đêm âm thầm gìn giữ bình yên cho Tổ quốc, với chủ đề “Xuân của lính xa nhà” sau nhiều tháng bị cấm sóng, lại có thể làm dấy lên sự lo ngại của CCB, cán bộ, chiến sĩ Quân đội và gia đình của họ khi biết anh ta từng có nhiều tai tiếng rất phản cảm trong cả nước thời gian qua.


Đàm Vĩnh Hưng là con của một lính ngụy Sài Gòn, từng quấn cờ ngụy vào cổ để hát trên nhiều diễn đàn âm nhạc, nhiều lần giao du với một số thành phần chống cộng.


Đặc biệt, Đàm Vĩnh Hưng đã tự ý đeo một loại huy chương vinh danh chiến công của những sĩ quan, binh lính ngụy từng nợ máu với đồng bào ta - trên trang phục.


Đây là những biểu hiện có tính bản chất của một ca sĩ không tốt, đó là luôn lợi dụng sự nổi tiếng để thực hiện mục tiêu tuyên truyền, cổ súy cho ngụy Sài Gòn, phất cờ chống phá ngầm đất nước này.


Đất nước có hàng vạn nghệ sĩ, diễn viên, ca sĩ yêu nước nồng nàn như Anh Tú, Hòa Minzy, Đen Vâu - Nguyễn Đức Cường, Thanh Nhàn, Tùng Dương, Hà Quỳnh Như... mà các tổ chức vẫn cấp phép một thằng ngụy lai căng kệch cỡm, thiếu chuẩn mực???


Để trong sạch Văn hóa nước nhà, không làm xen lẫn việc thẩm thấu văn hóa "Bộ Đội Cụ Hồ" với loại văn hóa lai căng, hư đốn như Đàm Vĩnh Hưng, chúng ta cần tẩy chay, đấu tranh để loại bỏ khỏi diễn đàn văn hóa, không để những kẻ lưu manh giả danh văn hóa này len lỏi phá hoại đời sống văn hóa nhân dân, không để chúng phát tán, biểu diễn. Mặt khác, đề nghị cơ quan quản lý văn hóa Bộ văn hóa, thể thao và du lịch rà soát xem đơn vị, tổ chức nào đứng ra hợp tác với Đàm Vĩnh Hưng để tổ chức chương trình cần có biện pháp, không thể chấp nhận một kẻ LAI CĂNG, KỆCH CỠM, PHẢN CẢM biểu diễn cho nhân dân và Bộ đội xem.

Chi tiết lai căng, kệch cơm, phản cảm của Đàm Vĩnh Hưng bị Báo Công an Nhân dân vạch trần

2/2/26

KỶ NIỆM 96 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930 – 03/02/2026)

 


Ngày 03 tháng 02 năm 1930 là một mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước, mở ra bước ngoặt vĩ đại cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Từ đây, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam có một chính đảng chân chính lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc đi theo con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Trải qua 96 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; là những chiến công hiển hách trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước; là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Trong suốt chặng đường vẻ vang ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Đảng không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Với niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức, chung sức, đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc

Cảnh giác trước chiêu trò xuyên tạc tự ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp


Tác giả: Thượng tá, PGS, TS ĐỖ NGỌC HANH, Phó chủ nhiệm Khoa Triết học Mác-Lênin, Trường Sĩ quan Chính trịThượng tá, PGS, TS ĐỖ NGỌC HANH, Phó chủ nhiệm Khoa Triết học Mác-Lênin, Trường Sĩ quan Chính trị


Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, ngày hội lớn của toàn dân. Tuy nhiên, lợi dụng quy định bầu cử dân chủ, khách quan và minh bạch của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trước dịp bầu cử diễn ra, các thế lực thù địch sử dụng chiêu trò xuyên tạc tự ứng cử hòng chống phá.


1. Ngày 15-3-2026 tới đây, cử tri cả nước sẽ thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mình là đi bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là sự kiện chính trị lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với cả nước và từng địa phương; được tổ chức vào thời điểm đất nước đã tiến hành thành công công cuộc đổi mới qua 40 năm, đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, toàn diện trên tất cả lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng lớn mạnh.


Đặc biệt, cuộc cách mạng về tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương hai cấp tạo khí thế mới đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình, giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, thịnh vượng. Cùng với Đại hội XIV của Đảng, cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 là những nhiệm vụ công tác trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong năm 2026; là đợt vận động và sinh hoạt dân chủ sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân để lựa chọn, bầu được những đại biểu ưu tú, đại diện cho nhân dân cả nước tại Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và các đại biểu đại diện cho nhân dân địa phương tại HĐND các cấp, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.


Vậy nhưng, trước sự kiện trọng đại của đất nước, những ngày gần đây, trên mạng xã hội, một số phần tử phản động, chống đối cố tình lặp lại điệp khúc “ở Việt Nam không thể tự ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND”! Luận điệu này hoàn toàn không đúng và trái với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam. Chúng ta có đầy đủ cơ sở để phản bác.


Ngay từ Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam (năm 1946) cho đến tất cả những bản Hiến pháp sau này đều quy định rất rõ: Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử, từ đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Việc thực hiện các quyền này được cụ thể hóa tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, quy định: Công dân Việt Nam đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND. Người ứng cử ĐBQH phải đáp ứng các tiêu chuẩn của ĐBQH quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội.


Người ứng cử đại biểu HĐND phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu HĐND quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Điểm b, khoản 1, Điều 36, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND quy định rõ: Người tự ứng cử nộp hai bộ hồ sơ ứng cử tại ủy ban bầu cử ở tỉnh nơi mình cư trú hoặc công tác thường xuyên. Chỉ thị số 46-CT/TW, ngày 16-5-2025 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử ĐBQH khóa XVI và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, nêu rõ: “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật”.


Thực tế đã minh chứng, trong các nhiệm kỳ vừa qua, có nhiều người tự ứng cử được cử tri nơi cư trú tín nhiệm cao, vượt qua các vòng hiệp thương để vào danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND và được cử tri nơi ứng cử tín nhiệm bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND. Danh sách cụ thể những người tự ứng cử đủ tiêu chuẩn và danh sách những người tự ứng cử được bầu làm ĐBQH, đại biểu HĐND các nhiệm kỳ đều công khai, minh bạch trên các phương tiện thông tin đại chúng. Rõ ràng “ở Việt Nam không thể tự ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND” là luận điệu xuyên tạc, vu khống trắng trợn quyền tự ứng cử ở Việt Nam.


2. Ở chiều ngược lại, thực tế trước mỗi kỳ bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, triệt để lợi dụng quyền tự ứng cử, trên các trang mạng xã hội, internet, các thế lực thù địch, phản động còn ráo riết lập ra các hội, nhóm mạo danh “dân chủ”, hô hào ký tên ủng hộ, tung hô, cổ xúy cho những đối tượng tự xưng là “nhà dân chủ” ra ứng cử nhằm gây rối, phá hoại công tác chuẩn bị nhân sự của các địa phương, cơ quan chức năng và Quốc hội. Đằng sau chiêu trò “tự ứng cử” của các phần tử thù địch, phản động là “nếu trúng cử sẽ biến Quốc hội, HĐND trở thành diễn đàn cho chúng thực hiện các hoạt động chống phá Đảng, chống phá Nhà nước, gây rối hoạt động của cơ quan dân cử”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” ngay trong cơ quan dân cử, làm nước ta tự suy yếu từ bên trong. Tuy nhiên, hy vọng hão huyền của chúng không thể che mắt, đánh lừa được cử tri nước ta. Bất kỳ cuộc bầu cử nào, chiêu trò “tự ứng cử” đều bị cử tri nơi cư trú vạch mặt thẳng thừng.


Cần phải biết, những người tham gia ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định. Việc lựa chọn những ứng cử viên để bầu vào Quốc hội, HĐND các cấp được tiến hành theo đúng quy định tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp. Chỉ thị số 46-CT/TW cũng nêu rõ: “Không đưa vào danh sách ứng cử người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, bảo thủ, tư tưởng bè phái, cục bộ, địa phương; các đối tượng đang bị thanh tra, kiểm tra dấu hiệu vi phạm, đã bị các cơ quan có thẩm quyền kết luận không trung thực; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra những vụ, việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, mất đoàn kết nghiêm trọng”. Hơn nữa, người ứng cử ĐBQH phải đáp ứng tiêu chuẩn của ĐBQH theo quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội; người ứng cử đại biểu HĐND phải đáp ứng tiêu chuẩn của đại biểu HĐND được quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương.


Theo đó, chỉ những người ứng cử đáp ứng đủ tiêu chuẩn mới có tên trong danh sách sau Hội nghị Hiệp thương lần thứ ba. Theo quy định, cử tri nơi cư trú hoặc cử tri nơi công tác sẽ nhận xét người ứng cử có đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không và trực tiếp biểu quyết nhất trí hay không nhất trí để người đó ứng cử ĐBQH, HĐND. Kết quả của hội nghị cử tri là một trong những căn cứ quan trọng để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiệp thương và quyết định điền tên người ứng cử vào danh sách người đủ tiêu chuẩn ứng cử hay không. Đây là quy trình rất chặt chẽ, dân chủ, nhằm sàng lọc và loại bỏ những người ứng cử không đủ tiêu chuẩn làm ĐBQH, đại biểu HĐND từ trước khi bầu cử.


Những phần tử chống đối, phá hoại bầu cử biết rất rõ mình không thể đáp ứng đủ tiêu chuẩn của ĐBQH, đại biểu HĐND, đặc biệt là các tiêu chuẩn như: Trung thành với Hiến pháp, gương mẫu chấp hành pháp luật... Cần nhấn mạnh thêm rằng, nguyên tắc nghị sĩ (đại biểu Quốc hội) phải trung thành với Hiến pháp, tuân thủ pháp luật được áp dụng phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới. Vì thế, các thế lực phản động không thể qua mắt các quy trình về hiệp thương, tổ chức lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú. Riêng điều này đã thể hiện rõ sự kệch cỡm của chúng về những bản “tập hợp ký tên”. Khi không vượt qua được hội nghị cử tri nơi cư trú, chúng lu loa xuyên tạc rằng “hội nghị cử tri chỉ là nơi đấu tố, lên án để loại chúng ngay từ vòng đầu”.


3. Để ngày bầu cử sắp tới thực sự trở thành ngày hội của toàn dân, các cấp, ngành, địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử; thấy rõ trách nhiệm của mỗi lá phiếu đối với tương lai đất nước. Các địa phương cần phát động phong trào thi đua, tổ chức diễn đàn, tiếp xúc cử tri, hội thi tìm hiểu pháp luật về bầu cử, tạo không khí phấn khởi, đồng thuận trong xã hội gắn với triển khai thực hiện nhiệm vụ của đất nước, bộ, ngành, địa phương, đơn vị và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, nhất là Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Chú trọng tuyên truyền các quy định của pháp luật về bầu cử, tuyên truyền công tác chuẩn bị bầu cử và không khí dân chủ, đúng pháp luật trong bầu cử, nhất là ý thức tự giác trong thực hiện quyền lợi và trách nhiệm của cử tri.


Toàn hệ thống chính trị tập trung cao nhất cho công tác chuẩn bị, bảo đảm tổ chức cuộc bầu cử diễn ra dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và thực sự trở thành ngày hội của nhân dân. Trong đó, công tác nhân sự phải được tiến hành công khai, minh bạch, lắng nghe ý kiến rộng rãi từ cơ sở; gắn với quy hoạch cán bộ, kết quả đại hội đảng các cấp và yêu cầu tinh gọn bộ máy. Sàng lọc kỹ lưỡng, kiên quyết loại bỏ ngay từ đầu những người không đủ tiêu chuẩn cả về phẩm chất và năng lực. Cùng với đó, chủ động phản bác thông tin sai sự thật, nhất là những thông tin liên quan đến công tác bầu cử bằng lập luận khoa học, thực tiễn, thuyết phục. Kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc phá hoại cuộc bầu cử, lợi dụng bầu cử, “tự ứng cử” để kích động, gây rối, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng và Nhà nước.

Báo QĐND 

1/2/26

Bầu cử Quốc hội và HĐND: Niêm yết danh sách cử tri được tiến hành như thế nào?

 

Các cử tri đang đăng ký thường trú tại địa bàn được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi mình thường trú và mỗi công dân chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở nơi mình thường trú hoặc tạm trú.


Căn cứ vào quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Quốc hội khóa XV đã ban hành Nghị quyết số 199/2025/QH15 ngày 21/5/2025 quyết định rõ Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 là Chủ nhật, ngày 15/3/2026.


Việc lập danh sách cử tri và việc niêm yết danh sách cử tri được tiến hành như thế nào?

Danh sách cử tri do ủy ban nhân dân cấp xã lập theo từng khu vực bỏ phiếu (theo Mẫu số 31/HĐBC). Danh sách cử tri trong đơn vị vũ trang nhân dân do chỉ huy đơn vị lập theo đơn vị vũ trang nhân dân để đưa vào danh sách cử tri của khu vực bỏ phiếu nơi đơn vị đóng quân.


Mọi công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 (theo Mẫu số 10/HĐBC), trừ những người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự.


Mỗi công dân chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở nơi mình thường trú hoặc tạm trú.


Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo cho cử tri ở địa phương về việc lập danh sách cử tri theo từng khu vực bỏ phiếu. Các cử tri đang đăng ký thường trú tại địa bàn được ghi tên vào danh sách cử tri tại nơi mình thường trú; trường hợp cử tri có nguyện vọng bỏ phiếu ở nơi khác thì cần thông báo lại để ủy ban nhân dân cấp xã không ghi tên vào danh sách cử tri ở địa phương.


Trong quá trình lập danh sách cử tri, ủy ban nhân dân cấp xã chỉ ghi vào danh sách những cử tri đang đăng ký tạm trú ở địa phương mình nếu cử tri đó thể hiện rõ nguyện vọng được tham gia bỏ phiếu tại nơi mình tạm trú (có thể bằng văn bản hoặc trực tiếp bằng lời nói với người có trách nhiệm, ví dụ như trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố hoặc cán bộ phụ trách công tác lập danh sách cử tri của ủy ban nhân dân cấp xã…).


Chậm nhất là ngày 3/2/2026 (40 ngày trước ngày bầu cử), ủy ban nhân dân cấp xã đã lập danh sách cử tri phải niêm yết danh sách đó tại trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã và tại những địa điểm công cộng của khu vực bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi danh sách cử tri và việc niêm yết để Nhân dân kiểm tra.


Việc lập, niêm yết danh sách cử tri và việc thay đổi, bổ sung, cập nhật danh sách cử tri được thực hiện theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Thông tư số 21/2025/TT-BNV ngày 12/10/2025 của Bộ Nội vụ và Quyết định số 8202/QĐ-BCA-C06 ngày 7/10/2025 của Bộ Công an

31/1/26

CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH LÀ TƯƠNG LAI, LÀ SINH MỆNH CỦA ĐẤT NƯỚC

 


Lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước đã chứng minh, trong bất kỳ giai đoạn, triều đại hay chế độ nào, việc dùng người luôn là công việc hệ trọng liên quan trực tiếp tới sự an-nguy, thịnh-suy của một quốc gia.


Vì thế, ngay từ khi nước Việt Nam mới giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi việc phát hiện, rèn luyện, sử dụng cán bộ là khâu trọng yếu. Và theo Người, phẩm chất đầu tiên của một cán bộ tốt là phải giữ được 4 đức tính: Cần, kiệm, liêm, chính.


Cần, kiệm, liêm, chính- là cốt lõi đạo đức cách mạng


Tấm gương cần, kiệm, liêm, chính của Chủ tịch Hồ Chí Minh được cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khái quát: "Bốn chữ Cần, Kiệm, Liêm, Chính-là cốt lõi đạo đức cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Đạo đức ấy của Bác là “tinh hoa của dân tộc”, là “lương tâm của thời đại”. Bác Hồ là tấm gương sáng ngời về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Bác là điển hình của sự nhất quán giữa lời nói và việc làm, giữa tư tưởng và lối sống, suốt đời vì nước vì dân". Cũng về điều này, đồng chí Trường Chinh trong bài viết đăng trên Báo Nhân Dân, số 8, ngày 13-5-1951 viết: "Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, đó là đại cương đạo đức của Hồ Chủ tịch, mà toàn dân ta, trước hết đồng chí chúng ta cần phải học tập và thực hành".


Chủ tịch Hồ Chí Minh là gương sáng, là hiện thân của đức tính “cần, kiệm, liêm, chính”. Thực hành tiết kiệm; giữ liêm khiết, trong sạch trở thành phong cách riêng của Người ở mọi lúc, mọi nơi. Người sống trung thực, chân thành với chính mình và với người khác. Đời sống của Người thanh cao và giản dị, trọn đời vì nước, vì dân "giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khổ không thể lay chuyển, uy lực không thể khuất phục", bởi vì Người trước sau một lòng "trung với nước, hiếu với dân", là vì Người luôn nêu gương "chí công vô tư", cả đời gương mẫu thực hành cần, kiệm, liêm, chính.


Tại sao cán bộ, nhân dân, mọi tầng lớp trong xã hội lại phải cần, kiệm, liêm, chính? Bác dạy rằng: Muốn giàu có thì mỗi cá nhân, mỗi gia đình cho đến cả nước phải tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, kết quả sẽ là những thứ gì cũng sẽ đầy đủ, dư dật. Cần tức là tăng năng suất trong công tác, bất kỳ là công tác gì. Kiệm tức là không lãng phí thì giờ, của cải của mình và của dân. Liêm tức là không tham ô và luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của nhân dân. Chính tức là việc phải dù nhỏ cũng làm, việc trái dù nhỏ cũng tránh. 4 điều này luôn phải đi liền với nhau và khái quát ở tầm cao là sự chí công vô tư. Suy rộng ra, đã là người cán bộ thì làm việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân đã... có khó nhọc thì mình nên đi trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau. Những cán bộ nào không làm được như vậy, sa vào chủ nghĩa cá nhân, chỉ thấy lợi ích riêng của mình, không thấy lợi ích của tập thể, thấy vật chất muốn hưởng thụ, có công việc không dám xung phong, cán bộ đó ắt đã biến chất. Từ sự biến chất ấy sẽ đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm như quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, tham ô, lãng phí... và như vậy, chủ nghĩa cá nhân chính là kẻ thù của nhân dân, kẻ thù của cần, kiệm, liêm, chính.


Người cán bộ cần, kiệm, liêm, chính thì tài năng thêm phát triển


Có thể thấy rõ việc Bác dạy cán bộ, đảng viên và Bác gương mẫu thực hành cần, kiệm, liêm, chính là Bác muốn rèn luyện đạo đức cho mỗi người cán bộ. “Cán bộ là gốc của mọi công việc”. Mà cái gốc của người cán bộ như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trong bài viết "Về một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng" đã chỉ rõ: "Người cán bộ phải vừa có Đức vừa có Tài, trong đó Đức là gốc". Nhìn rộng ra, người cán bộ có đức thì nhất định phải là người cán bộ cần, kiệm, liêm, chính; và người cán bộ cần, kiệm, liêm, chính là người cán bộ có đạo đức. Người cán bộ có đức sẽ làm cho tài năng thêm phát triển, bởi người thực sự có đức bao giờ cũng khiêm tốn, chịu khó học tập, phấn đấu nâng cao tài năng của mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng giao cho.


Điều này phù hợp với định hướng của Đảng ta về công tác cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược. Khi đề cập đến công tác cán bộ, theo nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan: Trong tình hình mới có nhiều thay đổi, công tác rèn luyện cán bộ của chúng ta còn nhiều sơ hở, liên quan tới cả cán bộ cấp cao, có cả cấp Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương, bộ trưởng... Để đào tạo được đội ngũ cán bộ chiến lược mẫu mực, cần cả "tâm" và "tầm". Tâm và tầm thực chất chính là đạo đức và tài năng. Càng là cán bộ cấp cao thì càng đòi hỏi cao hơn về hai yếu tố này. Bởi vì, người cán bộ cấp cao, cán bộ chiến lược điều cần nhất là sự trong sạch (trong sạch ắt phải là người cần, kiệm, liêm, chính), vì không trong sạch thì không thể nói được ai, chỉ đạo được cái gì. Còn tài năng chính là việc nhìn xa trông rộng. Cán bộ chiến lược khác người thường ở chỗ, người thường chỉ nhìn cái cụ thể, còn cán bộ chiến lược phải có hiểu biết rộng, từ đó đề ra những quyết sách mang tính chiến lược của quốc gia.


Như vậy có thể thấy, tư tưởng của Bác về cần, kiệm, liêm, chính không chỉ dừng ở những chi tiết cụ thể, mà từ những điều cụ thể ấy, nó bao hàm ý nghĩa lớn lao hơn rất nhiều, đó là tương lai, là sinh mệnh của đất nước. Điều ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị nhân văn và tính thời sự, có ý nghĩa thiết thực đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn dân.


Cần, kiệm, liêm, chính thời nào cũng vậy, đó là sự chăm chỉ, khoa học, có tính toán cẩn thận để sao cho tiết kiệm sức người, sức của, tiết kiệm thời gian... mà năng suất lao động, hiệu quả cao. Đi ngược lại là lãng phí vật tư, thời gian, tiền bạc của nhân dân, của đất nước mà công việc không hoàn thành, làm nghèo đất nước, kìm hãm sự phát triển của xã hội và gây bất bình trong nhân dân. Còn về liêm, chính, Bác dạy rằng, cán bộ đương nhiên là có quyền, nếu có quyền mà lợi dụng để tham ô, đục khoét thì làm sao mà lãnh đạo cơ quan, làm sao mà nói để dân tin được. Cán bộ thời nào cũng thế, nếu không giữ được mình trong sạch, sa vào hưởng thụ, tham lam là có tội với nước, với dân. Vì thế, với người cán bộ của Đảng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính không chỉ là trách nhiệm mà còn là bổn phận, nghĩa vụ, trước hết là nghĩa vụ của mỗi công dân; không chỉ tạo nên giá trị chân chính cho mỗi người mà còn hun đúc nên giá trị cao quý cho cả một dân tộc, một quốc gia.


Ngày nay, cần, kiệm, liêm, chính được phát triển lên tầm cao mới, đi vào đời sống thực tiễn sẽ có vai trò, tác dụng và ý nghĩa vô cùng to lớn, tạo nên thương hiệu một quốc gia. Có thể lấy ví dụ về những thương hiệu quốc tế về cần, kiệm, liêm, chính, như: Nước Đức được mệnh danh là đất nước của những công dân cần cù, khoa học, chính xác; Singapore nổi tiếng với nền hành chính sạch, quan chức liêm khiết; Nhật Bản nổi tiếng với sự tiết kiệm, sáng tạo... Nhìn ra thế giới mới thấy những lời Bác dạy vẹn nguyên tính thời sự: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm sỉ, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”.


Chỉ có trong sạch thì Đảng mới vững mạnh


Trong bối cảnh đất nước và quốc tế hiện nay, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính càng đặc biệt đúng trong công tác giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên trước nguy cơ không ít cán bộ sa vào ăn chơi, hưởng thụ quá sức lao động, quan liêu, tham nhũng... Và để thỏa mãn những ham muốn thấp hèn của bản thân, họ đã tìm mọi cách để đục khoét ngân sách nhà nước. Những đại án nghìn tỷ, chục nghìn tỷ đang để lại hậu quả mà phải mất rất nhiều năm để khắc phục, nhưng nỗi đau về niềm tin mà nhân dân dành cho Đảng thì phải rất lâu, rất khó để lấy lại.


Xác định rõ nguy cơ này, từ Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đến Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII), Đảng ta rất coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh việc chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên. Trong bối cảnh có biến động rất đáng lo ngại về mặt đạo đức, lối sống và nhận thức của không ít cán bộ, đảng viên, mới thấy thấm thía hết ý nghĩa lý luận và thực tiễn lớn lao trong việc triển khai Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân gắn với rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành “cần, kiệm, liêm, chính” nhằm tạo sự chuyển biến trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên.


Thực tiễn đã chỉ ra, một xã hội muốn phát triển tất yếu phải chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đồng thời phải giáo dục mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên phải thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Việc tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức đối với cán bộ, đảng viên là vấn đề cấp thiết. Như lời Bác dạy, cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức tính quan trọng của con người, giống như trời có bốn mùa xuân-hạ-thu-đông; đất có 4 phương đông-tây-nam-bắc... Thiếu một mùa thì không thành trời, thiếu một phương thì không thành đất, thiếu một đức thì không thành người. Điều này được Bác nhắc lại trong bản Di chúc bất hủ: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư...”./. 

Báo Quân đội nhân dân