19/3/26

Bảo đảm bộ máy chính quyền địa phương nhiệm kỳ 2026-2031 đi vào hoạt động chậm nhất ngày 1/4/2026



Thủ tướng vừa ký Chỉ thị về tổ chức kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 và tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp.


Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký Chỉ thị số 08/CT-TTg ngày 17/3/2026 về tổ chức kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 và tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp.


Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo sâu sắc, toàn diện của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm; sự chỉ đạo thống nhất, quyết liệt của Hội đồng bầu cử Quốc gia và của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự vào cuộc đồng bộ của hệ thống chính trị, sự đoàn kết, đồng lòng của các tầng lớp Nhân dân, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 được tổ chức vào ngày 15/3/2026 đã thành công rất tốt đẹp, bảo đảm dân chủ, minh bạch, công khai, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và Ngày bầu cử thực sự là Ngày hội của toàn dân.


Để tiếp tục triển khai các công việc sau ngày bầu cử, khẩn trương tổ chức kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 và tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp hiệu lực, hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị:


1. Khẩn trương tổ chức kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031


Đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy: Lãnh đạo, chỉ đạo Ủy ban bầu cử, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp xã thực hiện chỉ đạo của Đảng ủy Quốc hội tại Văn bản số 401-CV/ĐUQH ngày 17 tháng 3 năm 2026.


Chuẩn bị tốt công tác nhân sự để tổ chức Kỳ họp thứ nhất Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 theo đúng quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Hướng dẫn số 1563/HD-UBTVQH15 ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các văn bản pháp luật liên quan, bảo đảm bộ máy chính quyền địa phương nhiệm kỳ 2026-2031 đi vào hoạt động chậm nhất ngày 1/4/2026. Trường hợp đặc biệt chưa tổ chức được Kỳ họp thứ nhất trước ngày 31/3/2026 do chưa bố trí được nhân sự giữ chức Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031, đề nghị báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.


Lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn các chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân các cấp; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Ủy viên Ủy ban nhân dân các cấp; chỉ đạo Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chậm nhất ngày 31/3/2026; đồng thời chỉ đạo Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê chuẩn chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chậm nhất ngày 31/3/2026.


Lãnh đạo, chỉ đạo Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh báo cáo về kết quả kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ chậm nhất ngày 3/4/2026.


Giao Bộ Nội vụ: Chủ động phối hợp, hướng dẫn, đôn đốc Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hoàn thiện hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định; phối hợp với Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, chậm nhất 17h ngày 31/3/2026, để bảo đảm bộ máy chính quyền địa phương nhiệm kỳ 2026 - 2031 đi vào hoạt động chậm nhất ngày 01 tháng 4 năm 2026.


Tổng hợp báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả kỳ họp thứ nhất của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, chậm nhất ngày 05 tháng 4 năm 2026.


2. Về tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp


Các bộ, cơ quan ngang bộ: Tiếp tục triển khai nghiêm túc các Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương 2 cấp.


Tiếp tục rà soát toàn bộ nội dung nhiệm vụ đã phân cấp, phân quyền tại các Nghị định của Chính phủ trên lĩnh vực, ngành để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương, kịp thời sửa đổi, bổ sung, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, hiệu quả trong tổ chức thực hiện, báo cáo Chính phủ (qua Bộ Nội vụ để tổng hợp), hoàn thành chậm nhất ngày 15/4/2026.


Chủ động phối hợp với chính quyền địa phương để giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ, nhất là ở cấp xã.


Các bộ: Tài chính, Xây dựng, Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương tiếp tục hướng dẫn chính quyền địa phương, nhất là cấp xã về quy trình, thủ tục giải quyết thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực quản lý, bảo đảm thực hiện thuận lợi, thông suốt, hiệu quả, hoàn thành chậm nhất tháng 6/2026.


Giao Bộ Nội vụ tiếp tục phát huy vai trò cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo của Chính phủ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc vận hành chính quyền địa phương 02 cấp; tổng hợp tình hình, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh; chuẩn bị các nội dung sơ kết 01 năm vận hành chính quyền địa phương 02 cấp (tháng 6 năm 2026). Nghiên cứu tiếp tục bổ sung, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức bộ máy, biên chế, quản lý công chức, viên chức; phối hợp với các bộ, ngành hướng dẫn địa phương tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.


Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Triển khai nghiêm túc các Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn của các Ban, bộ, ngành Trung ương.


Rà soát, đánh giá tính khả thi và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền để đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, tháo gỡ, báo cáo Chính phủ (qua Bộ Nội vụ) chậm nhất ngày 15 tháng 4 năm 2026.


Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính và đơn vị sự nghiệp cấp xã theo các văn bản pháp luật và chỉ đạo của trung ương; đồng thời hoàn thành việc sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập tinh gọn theo Công văn số 59-CV/BCĐ ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW.


Khẩn trương triển khai kết luận của Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại Thông báo số 21-TB/VPTW ngày 07 tháng 3 năm 2026 của Văn phòng Trung ương Đảng. Rà soát, đánh giá tổng thể đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, xây dựng phương án bổ sung biên chế khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ, công chức phù hợp (tháng 4 năm 2026). Tập trung bồi dưỡng kiến thức quản lý cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý sau kiện toàn các chức danh của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031.


Rà soát, bố trí, xử lý trụ sở, tài sản công của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý; cải tạo, mua sắm tài sản công theo quy định và hướng dẫn của Trung ương, bảo đảm đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị cho cấp xã hoạt động.


Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số và trang thiết bị đầu cuối, bảo đảm kết nối thông suốt giữa các cấp chính quyền từ Trung ương đến cấp xã; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, chuẩn hóa quy trình công việc, bảo đảm giải quyết nhanh gọn, công khai, minh bạch. Tiếp tục đẩy mạnh số hóa tài liệu lưu trữ gắn với vận hành chính quyền địa phương 02 cấp theo hướng đồng bộ, thống nhất.


Báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ (qua Bộ Nội vụ) kết quả tình hình thực hiện vào ngày 25 hàng tháng; tổ chức sơ kết 01 năm vận hành chính quyền địa phương 2 cấp theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.


Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức liên quan chịu trách nhiệm tổ chức quán triệt, triển khai nghiêm túc Chỉ thị này; kịp thời giải quyết theo thẩm quyền hoặc báo cáo những vấn đề vượt thẩm quyền các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện./.


18/3/26

KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ LÃNH ĐẠO TUYỆT ĐỐI CỦA ĐẢNG LÀ NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH MỌI THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH MỚI



Trong suốt tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, thực tiễn đã chứng minh một chân lý mang tính quy luật: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ khi ra đời năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện đối với cách mạng Việt Nam. Nhờ sự lãnh đạo đúng đắn đó, dân tộc Việt Nam đã vượt qua nhiều thử thách lịch sử, giành độc lập, thống nhất đất nước và từng bước đưa đất nước phát triển trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy mỗi bước ngoặt lớn của dân tộc đều gắn liền với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến các cuộc kháng chiến chống xâm lược và công cuộc đổi mới đất nước, vai trò định hướng chiến lược của Đảng luôn giữ vị trí trung tâm. Những thắng lợi đó không chỉ khẳng định bản lĩnh chính trị, trí tuệ và tầm nhìn của Đảng mà còn thể hiện sự gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân – nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam.
Bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, vai trò lãnh đạo của Đảng càng có ý nghĩa quyết định đối với sự ổn định và phát triển của đất nước. Trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, việc giữ vững định hướng phát triển của quốc gia đòi hỏi một lực lượng chính trị đủ bản lĩnh, trí tuệ và uy tín để lãnh đạo. Thực tiễn cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang phát huy tốt vai trò đó thông qua việc hoạch định đường lối phát triển phù hợp với điều kiện của đất nước và xu thế của thời đại.
Công cuộc đổi mới được khởi xướng từ năm 1986 là minh chứng sinh động cho năng lực lãnh đạo của Đảng trong việc đưa ra những quyết sách chiến lược đúng đắn. Từ một nền kinh tế còn nhiều khó khăn, Việt Nam đã từng bước vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế năng động của khu vực, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện và vị thế quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao. Những thành tựu đó càng khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố then chốt bảo đảm cho sự phát triển ổn định và bền vững của quốc gia.
Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đó, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị vẫn không ngừng tìm cách xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Họ đưa ra những luận điệu cho rằng cần “đa nguyên chính trị” hay “đa đảng đối lập” để thay thế vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những quan điểm này không chỉ thiếu cơ sở thực tiễn mà còn đi ngược lại lịch sử và điều kiện phát triển của đất nước. Thực tế cho thấy chính sự đoàn kết thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giúp Việt Nam vượt qua nhiều thử thách lớn trong lịch sử.
Hiến pháp của Việt Nam cũng khẳng định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Điều này phản ánh thực tiễn lịch sử cũng như nguyện vọng của nhân dân về một lực lượng chính trị đủ năng lực và uy tín để dẫn dắt đất nước phát triển. Vai trò lãnh đạo của Đảng không phải là sự áp đặt mà được hình thành và củng cố thông qua quá trình đấu tranh cách mạng, thông qua sự gắn bó mật thiết với nhân dân và thông qua những thành tựu phát triển của đất nước.
Trong tình hình mới, để tiếp tục giữ vững vai trò lãnh đạo, Đảng cần không ngừng tự đổi mới và chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp. Đồng thời, việc phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương và củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân cũng là những yếu tố quan trọng bảo đảm cho vai trò lãnh đạo của Đảng được thực hiện hiệu quả trong thực tiễn.
Có thể khẳng định rằng trong mọi giai đoạn phát triển của đất nước, sự lãnh đạo của Đảng luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Khi Đảng giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, đất nước sẽ tiếp tục vững bước trên con đường phát triển, hiện thực hóa khát vọng xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh

GIÁ TRỊ KHOA HỌC VÀ SỨC SỐNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN TRONG THỰC TIỄN CÁCH MẠNG VIỆT NAM


Trên

trang Thongluan, Nguyễn Gia Kiểng đăng bài viết “Thêm một dịp để nhìn lại chế độ cộng sản” nhằm xuyên tạc, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là sản phẩm của sự nông cạn, thiển cận, bạo lực và để lại hậu quả to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động cần phê phán, bác bỏ:
Một là, chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận khoa học, không phải là sản phẩm của sự nông cạn, thiển cận.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là kết quả của quá trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, sâu sắc và toàn diện về xã hội loài người. C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa có chọn lọc những thành tựu trí tuệ của nhân loại, bao gồm triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. Trên cơ sở đó, các ông đã xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, qua đó giải thích một cách khoa học về quy luật vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Chủ nghĩa Mác không phải là sản phẩm của sự tưởng tượng chủ quan, mà là kết quả của việc phân tích sâu sắc thực tiễn xã hội tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân. C.Mác đã chỉ ra quy luật vận động tất yếu của xã hội loài người từ hình thái kinh tế - xã hội thấp đến cao, và khẳng định sự ra đời của chủ nghĩa xã hội là kết quả của quá trình phát triển lịch sử khách quan.
V.I.Lênin đã phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Ông đã bổ sung và làm rõ nhiều vấn đề quan trọng như: vai trò của đảng cách mạng, vấn đề cách mạng vô sản ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, cũng như khả năng thắng lợi của cách mạng ở một nước hoặc một số nước riêng lẻ. Những phát triển này chứng minh rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết mở, không ngừng được bổ sung và hoàn thiện, chứ không phải là hệ thống tư tưởng cứng nhắc hay thiển cận. Thực chất, chủ nghĩa Mác - Lênin không cổ vũ bạo lực một cách tùy tiện, mà chỉ ra rằng đấu tranh giai cấp là hiện tượng khách quan trong xã hội có đối kháng giai cấp. Bạo lực cách mạng chỉ xuất hiện khi giai cấp thống trị sử dụng bạo lực để duy trì sự áp bức và bóc lột. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh tính đúng đắn và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lênin; là nền tảng tư tưởng cho phong trào công nhân quốc tế, góp phần thúc đẩy sự ra đời của nhiều nhà nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.
Hai là, chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam là minh chứng để bác bỏ luận điệu cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin gây hậu quả tiêu cực. Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ nghĩa Mác - Lênin đã được vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Trước khi có chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào yêu nước Việt Nam tuy diễn ra mạnh mẽ nhưng đều thất bại do thiếu đường lối đúng đắn. Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin con đường cứu nước đúng đắn, đó là con đường giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là thắng lợi vĩ đại của việc vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam. Tiếp đó, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, thống nhất đất nước và tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Những thành tựu to lớn đạt được sau 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là minh chứng rõ ràng cho tính đúng đắn của con đường mà Việt Nam đã lựa chọn.
Tóm lại, chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận khoa học, cách mạng và nhân văn, đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm và chứng minh tính đúng đắn. Vì vậy, việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững của cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới./.

17/3/26

Nhìn thấu âm mưu chống phá đường lối đối ngoại của Việt Nam

 


Quan điểm, lập trường của Việt Nam đối với các sự kiện, vấn đề quốc tế, mà gần nhất là cuộc xung đột quân sự ở khu vực Trung Đông, là sự tiếp nối của chính sách đối ngoại nhất quán. Điều này hoàn toàn trái ngược với hình ảnh mềm yếu, bị động và thiếu bản lĩnh mà các đối tượng phản động, bất mãn cố tình dựng lên nhằm kích động tâm lý hoài nghi trong nhân dân đối với chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Phản ứng trước tình hình xung đột bùng phát và leo thang tại Trung Đông, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã hai lần ra tuyên bố vào các ngày 28-2 và 3-3, trong đó nhấn mạnh một số điểm: Việt Nam quan ngại sâu sắc về tình hình xung đột leo thang phức tạp tại khu vực Trung Đông, đe dọa nghiêm trọng tính mạng và an toàn của người dân, hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới; đồng thời phản đối các hành vi sử dụng vũ lực tấn công vào các quốc gia có chủ quyền, đặc biệt vào các hạ tầng cơ sở dân sự khiến nhiều người dân thiệt mạng. Việt Nam cũng kêu gọi các bên liên quan kiềm chế tối đa, chấm dứt ngay các hành động leo thang căng thẳng, bảo vệ dân thường và các hạ tầng cơ sở thiết yếu, giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, Hiến chương và các nghị quyết liên quan của Liên hợp quốc, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho các đàm phán hòa bình vì an ninh, an toàn, hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Vậy mà trên mạng xã hội, các thế lực phản động, bất mãn lợi dụng sự việc này để công kích rằng ngoại giao Việt Nam rập khuôn, cứng nhắc, lúc nào cũng chỉ biết “quan ngại sâu sắc”, hay quan điểm không rõ ràng, không có lập trường, thậm chí là “ba phải”. Chẳng phải khi chiến sự Trung Đông nổ ra, giọng điệu suy diễn đầy tính chủ quan này mới xuất hiện mà thực tế đã trở thành một trong những chiêu trò thường xuyên được áp dụng sau mỗi lần Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đưa ra tuyên bố về các vấn đề quốc tế.
Trước hết, “quan ngại sâu sắc” là cách diễn đạt thường được sử dụng trong các tuyên bố hay thông điệp ngoại giao của các quốc gia, thể hiện sự quan tâm, lo ngại hoặc cũng có thể coi là lời cảnh báo của các quốc gia này đối với diễn biến và hậu quả của các sự kiện, vấn đề quốc tế có tính chất nghiêm trọng. Dĩ nhiên, mức độ phản ứng của mỗi thông điệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như vai trò hoặc sự liên quan của quốc gia đó với từng vấn đề cụ thể.
Rõ ràng, Việt Nam không phải là một bên liên quan hay trực tiếp tham chiến trong cuộc xung đột đang diễn ra ở Trung Đông. Bởi vậy, bày tỏ sự quan ngại về việc sử dụng vũ lực, kêu gọi các nước tuân thủ luật pháp quốc tế, giảm căng thẳng, quay trở lại bàn đàm phán và thúc đẩy đối thoại là cách tiếp cận thận trọng dựa trên luật pháp quốc tế, thể hiện tinh thần trách nhiệm với cộng đồng quốc tế thông qua nói lên tiếng nói ủng hộ hòa bình, phù hợp với vai trò của một quốc gia đứng ngoài xung đột và luôn yêu chuộng hòa bình. Thực tế cũng cho thấy sau khi chiến sự nổ ra ở Trung Đông, nhiều quốc gia từ khắp châu Âu đến châu Á đã đưa ra thông điệp tương tự như Việt Nam.
Cũng phải khẳng định rằng, tuyên bố vừa qua hay những lần trước đây của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đều là thông điệp được cân nhắc kỹ lưỡng, dựa trên quan điểm, đường lối đối ngoại nhất quán và trên cơ sở đánh giá tác động nhiều chiều, chứ không phải là “nói cho có”. Bởi ai cũng hiểu rằng trong các mối bang giao quốc tế, mọi phát ngôn, lời nói đều có sức nặng về mặt chính trị và ngoại giao.
Những thông điệp nói trên được đưa ra trên cơ sở bám sát đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Điều này đã được khẳng định không chỉ trong các văn kiện của Đảng mà còn qua thực tiễn triển khai các hoạt động đối ngoại của đất nước.
Riêng với tuyên bố về tình hình Trung Đông phần nào phản ánh một trong những nguyên tắc cốt lõi được nêu trong chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam là “không liên kết với nước này để chống nước kia”. Nói cách khác, Việt Nam không chọn phe trong các xung đột hay cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, mà đứng về phía chính nghĩa, công lý và luật pháp quốc tế, đúng với tinh thần được nêu trong phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính khi đến thăm Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế Mỹ (CSIS) hồi tháng 5-2022: Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, tất cả cùng có lợi, cùng thắng.
Phân tích, đánh giá một cách khách quan sẽ thấy, việc kiên trì và nhất quán thực hiện các nguyên tắc nói trên đã giúp Việt Nam giữ được thế cân bằng trong quan hệ quốc tế và quan trọng hơn là không bị cuốn vào các cuộc xung đột, cạnh tranh và vòng xoáy đối đầu giữa các cường quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước và đóng góp ngày càng nhiều hơn cho sự ổn định, thịnh vượng của khu vực cũng như thế giới.
Việc Việt Nam bày tỏ mối quan ngại về các vấn đề nghiêm trọng của đời sống quốc tế không phải là né tránh, mà trái lại, đã thể hiện bản lĩnh, trí tuệ của ngoại giao Việt Nam khi xử lý các vấn đề quốc tế. Thực tiễn lịch sử các mối quan hệ quốc tế đã chứng minh rằng những phát ngôn mang tính cảm xúc nhất thời hay một lời nói “vạ miệng” có thể làm sứt mẻ mối quan hệ giữa các quốc gia, dẫn dắt họ tới tình trạng đối đầu, thậm chí là chiến tranh, gây ra những tổn thất to lớn về người và hậu quả lâu dài về chính trị, an ninh kinh tế, phát triển...
Những lời suy diễn, công kích nhằm vào các phát ngôn ngoại giao của Việt Nam không phân tích quan điểm của Việt Nam trước các vấn đề quốc tế, mà chủ yếu nhằm thao túng tâm lý dư luận, dẫn dắt họ tới kết luận rằng Việt Nam đang triển khai một đường lối ngoại giao bị động, không rõ ràng, từ đó gây mất niềm tin trong quần chúng nhân dân.
Nhìn thấu và tỉnh táo trước chiêu trò chống phá ấy là cách để mỗi người dân, mỗi cư dân mạng chúng ta góp phần thiết thực vào việc bảo vệ đường lối đối ngoại và môi trường hòa bình, ổn định của đất nước hiện nay.
Báo QĐND

15/3/26

CHỦ NHẬT NGÀY 15/3/2026 - NGÀY HỘI TOÀN DÂN!

 



Với tầm vóc và ý nghĩa lịch sử to lớn của cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, mỗi lá phiếu mà đồng chí trao đi chính là một lời khẳng định đanh thép cho quyền làm chủ của Nhân dân. 


Đó còn là sự góp sức, đồng lòng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, một "nhịp đập chung" hướng về mục tiêu cao cả: Xây dựng một đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, và hạnh phúc!


Hãy cùng nhau thể hiện lòng yêu nước và trách nhiệm của mỗi công dân. Hãy đi bầu cử để mỗi lá phiếu là một gạch nối vững chắc cho tương lai! 🇻🇳🇻🇳🇻🇳


13/3/26

SỨC MẠNH TỪ LÁ PHIẾU CỦA NIỀM TIN



Hàng trăm triệu trái tim Việt Nam đang cùng hướng về ngày hội lớn của toàn dân: Ngày bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. 


🗳️ Mỗi lá phiếu cử tri cầm trên tay là quyền công dân, mỗi hòm phiếu là một “cột mốc” chủ quyền quốc gia.


❤ Mỗi lá phiếu của cử tri sẽ thể hiện ý chí, tinh thần, vai trò quan trọng góp phần củng cố sức mạnh quốc phòng của quốc gia.


11/3/26

Những điều cử tri cần biết trước ngày bầu cử 15.3.2026

Theo quy định của pháp luật về bầu cử, công dân Việt Nam đủ điều kiện sẽ thực hiện quyền bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 vào ngày 15.3.2026. Dưới đây là những điều cử tri cần biết trước ngày bầu cử.

Các điều kiện của cử tri
Cử tri là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quốc tịch Việt Nam, đủ 18 tuổi trở lên tính đến ngày bầu cử và không thuộc các trường hợp bị pháp luật hạn chế quyền bầu cử.
Quốc tịch Việt Nam của cử tri được chứng minh thông qua một trong các loại giấy tờ như: giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, căn cước điện tử, hộ chiếu Việt Nam hoặc các giấy tờ khác do Chính phủ quy định.
Trường hợp giấy khai sinh không thể hiện rõ quốc tịch Việt Nam thì phải kèm theo giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha hoặc mẹ. Ngoài ra, quốc tịch còn có thể được xác nhận thông qua các quyết định của cơ quan có thẩm quyền như quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam, hoặc các quyết định liên quan đến việc nhận con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài được nhận làm con nuôi tại Việt Nam.
Về độ tuổi bầu cử, tuổi của công dân được tính từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong giấy khai sinh đến ngày bầu cử đã được ấn định là 15.3.2026. Trường hợp không có giấy khai sinh, cơ quan chức năng sẽ căn cứ vào thông tin ghi trong căn cước công dân hoặc hộ chiếu để xác định tuổi.
Nếu không xác định được ngày sinh thì lấy ngày 1 của tháng sinh làm căn cứ; nếu không xác định được cả ngày và tháng sinh thì lấy ngày 1.1 của năm sinh để tính tuổi thực hiện quyền bầu cử và ứng cử.
Những trường hợp không được thực hiện quyền bầu cử
Theo quy định, một số trường hợp không được thực hiện quyền bầu cử gồm:
Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án hoặc quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo.
Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án.
Người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
Những quy định này nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền bầu cử của công dân được tiến hành đúng pháp luật, minh bạch và dân chủ trong ngày bầu cử 15.3.2026.
Thủ tục trước khi bỏ phiếu
Khi cử tri đã đủ điều kiện thực hiện quyền bầu cử, cần nắm rõ các thủ tục trước khi tiến hành bỏ phiếu.
Trong ngày bầu cử, trước khi bắt đầu việc bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri nhằm bảo đảm tính công khai, khách quan và thực hiện nguyên tắc nhân dân kiểm tra. Đây cũng là hình thức để cử tri trực tiếp giám sát quá trình bầu cử.
Đúng giờ bắt đầu bỏ phiếu theo quy định, Tổ trưởng Tổ bầu cử mời 2 cử tri có mặt tại phòng bỏ phiếu – không phải là người có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội hoặc ứng cử đại biểu HĐND tại đơn vị bầu cử – chứng kiến việc kiểm tra hòm phiếu.
Sau khi kiểm tra và xác nhận hòm phiếu không có gì bên trong, hòm phiếu được đóng lại và niêm phong bằng giấy có đóng dấu của Tổ bầu cử, cuộc bỏ phiếu mới chính thức bắt đầu.
Quy định đối với việc bỏ phiếu
Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định nguyên tắc bỏ phiếu như sau:
Mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và một phiếu bầu đại biểu HĐND tương ứng với mỗi cấp HĐND.
Cử tri phải tự mình đi bầu, không được nhờ người khác bầu cử thay.
Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử.
Nếu viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác.
Sau khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào Thẻ cử tri.
Mọi người tham gia bỏ phiếu phải tuân thủ nội quy phòng bỏ phiếu.
Cách thức ghi phiếu bầu cử
Khi đến phòng bỏ phiếu, cử tri xuất trình Thẻ cử tri để nhận phiếu bầu đại biểu Quốc hội và phiếu bầu đại biểu HĐND các cấp.
Tổ bầu cử có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể cách bỏ phiếu. Nếu cử tri không tín nhiệm người ứng cử nào, cần gạch ngang cả họ và tên người ứng cử đó (gạch đè lên hàng chữ họ và tên). Phiếu bầu không được khoanh tròn, không đánh dấu, không viết thêm, không ghi tên người ngoài danh sách ứng cử, không bầu quá số đại biểu được ấn định trong phiếu bầu và không để nguyên phiếu bầu đối với phiếu có số dư người ứng cử.
Trường hợp phiếu gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang nhưng đã gạch hết họ và tên người ứng cử vẫn được tính là phiếu hợp lệ.
Nếu người ứng cử có hai tên (tên khai sinh và tên thường gọi) hoặc có chức vị, pháp danh, pháp hiệu tôn giáo, khi không tín nhiệm cử tri cần gạch tất cả các tên đó. Tuy nhiên, nếu chỉ gạch một dòng tên thì phiếu bầu vẫn được tính là hợp lệ.
Trường hợp bên cạnh họ tên người ứng cử có ngày tháng năm sinh trong ngoặc đơn để phân biệt người trùng tên, khi không tín nhiệm cần gạch cả họ tên và ngày tháng năm sinh. Tuy nhiên, nếu chỉ gạch họ tên mà không gạch ngày sinh thì phiếu bầu vẫn hợp lệ.
Nếu cử tri gạch hỏng phiếu, Tổ bầu cử phải thu hồi phiếu cũ rồi mới phát phiếu mới.
Đối với cử tri không thể tự viết phiếu, có thể nhờ người khác viết hộ nhưng phải bảo đảm giữ bí mật phiếu bầu. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không thể tự bỏ phiếu, có thể nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.
Sau khi bỏ phiếu, thành viên Tổ bầu cử sẽ đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào mặt trước Thẻ cử tri. Cử tri được giữ lại thẻ và không được sử dụng thẻ đã đóng dấu để yêu cầu bỏ phiếu lần nữa.
Thời gian bỏ phiếu
Trong ngày bầu cử đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định, công bố, việc bỏ phiếu sẽ được bắt đầu từ 7 giờ đến 19 giờ cùng ngày. Tùy tình hình thực tế địa phương, việc bỏ phiếu có thể bắt đầu sớm hơn nhưng không trước 5 giờ sáng, hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không quá 21 giờ cùng ngày.
Trường hợp gần đến giờ kết thúc việc bỏ phiếu theo quy định mà vẫn còn cử tri chưa thực hiện xong việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử có trách nhiệm thông báo đến các cử tri còn ở trong khu vực phòng bỏ phiếu về việc chuẩn bị kết thúc thời gian bỏ phiếu và đề nghị cử tri khẩn trương hoàn thành việc bỏ phiếu. Tổ bầu cử thực hiện việc đóng hòm phiếu vào đúng thời gian đã quy định, không phụ thuộc vào việc cử tri đã bỏ phiếu hết hay chưa.
Việc bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục. Trong trường hợp có sự kiện bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu liên quan trực tiếp đến cuộc bầu cử, kịp thời báo cáo cho Ban bầu cử, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để việc bỏ phiếu được tiếp tục.
Sau khi kết thúc giờ bỏ phiếu, Tổ bầu cử tiến hành mở hòm phiếu và kiểm phiếu theo quy định.

10/3/26

Công tác chẩn bị cho bầu cử




Công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XVI và đại biểu Hội đồng Nhân dân Việt Nam các cấp nhiệm kỳ 2026–2031 tại Lâm Đồng đến nay cơ bản đã hoàn tất. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng đã triển khai đồng bộ các nhiệm vụ như tuyên truyền về ý nghĩa cuộc bầu cử, rà soát danh sách cử tri, chuẩn bị khu vực bỏ phiếu và cơ sở vật chất theo đúng quy định.


Bên cạnh đó, các đơn vị lực lượng vũ trang duy trì nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng để bảo đảm an ninh, an toàn trên địa bàn. Với sự chuẩn bị chu đáo, quyết tâm tổ chức thành công ngày bầu cử dân chủ, đúng pháp luật và an toàn tuyệt đối.


“Mỗi lá phiếu là trách nhiệm, là niềm tin và khát vọng xây dựng quê hương ngày càng phát triển.”


9/3/26

THÁO GỠ ĐIỂM NGHẼN VỀ THỂ CHẾ: QUYẾT TÂM CHÍNH TRỊ VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG


                                           

Vừa qua, trên trang Vietnamthoibao, Phạm Đình Bá có bài viết “Khi điểm ghẽn thể chế lộ diện ở trung tâm quyền lực” để phủ nhận, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thể chế. Bài viết cho rằng, sau Đại hội XIV, trung tâm quyền lực là vai trò áp đảo của các nhân vật xuất thân từ ngành công an trong bộ máy lãnh đạo, dẫn đến việc quyết định mọi lĩnh vực. Đây là luận điệu hoàn toàn sai trái, cần phê phán, bác bỏ:

Một là, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế - vì sự phát triển bền vững, không phải kịch bản chính trị. 

Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế trước hết và chủ yếu là nhằm hoàn thiện phương thức quản lý, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, phát huy tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân và khai thác tối đa các nguồn lực cho phát triển đất nước trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng Cộng sản Việt Nam nhiều lần khẳng định: Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là yêu cầu tất yếu của công cuộc đổi mới. Trong đó, cải cách thể chế không phải là sự phủ định con đường xã hội chủ nghĩa mà chính là điều kiện để con đường ấy được thực hiện một cách hiệu quả, phù hợp với quy luật phát triển và bối cảnh mới. Việc sửa đổi, bổ sung luật pháp, đổi mới phương thức lãnh đạo và quản lý, tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực không làm suy yếu hệ thống chính trị mà ngược lại, củng cố nền tảng chính trị - xã hội, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Phát triển bền vững, cải cách thể chế hướng tới ba mục tiêu cơ bản: (1) nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng nguồn lực; (2) bảo đảm công bằng xã hội và bao trùm; (3) bảo vệ môi trường và lợi ích lâu dài của các thế hệ tương lai. Những mục tiêu này không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn có giá trị nhân văn sâu sắc, phản ánh bản chất tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng. Vì vậy, cải cách thể chế không phải là “kịch bản chính trị” mang tính đối phó hay nhượng bộ, mà là sự lựa chọn chủ động, tự giác và có cơ sở khoa học nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển quốc gia; đồng thời thể hiện bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trước nhân dân và lịch sử.

Hai là, thực tiễn tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế của Đảng, Nhà nước ta thời gian vừa qua. 

Thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế là một trong những khâu đột phá chiến lược nhằm tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Nhiều chủ trương lớn, quyết sách quan trọng đã được ban hành và tổ chức thực hiện đồng bộ, thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ trong lãnh đạo, quản lý và điều hành phát triển. Công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật được đẩy mạnh theo hướng đồng bộ, thống nhất và khả thi hơn. Quốc hội đã ban hành, sửa đổi nhiều luật quan trọng liên quan đến đầu tư, kinh doanh, đất đai, đấu thầu, quy hoạch, xây dựng, tài chính, ngân sách, khoa học, công nghệ… nhằm tháo gỡ tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định pháp luật, tạo môi trường pháp lý thông thoáng, minh bạch cho người dân và doanh nghiệp. Chính phủ tăng cường rà soát, cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thúc đẩy cải cách hành chính và chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh giản biên chế, đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập được triển khai quyết liệt, gắn với phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và nâng cao trách nhiệm người đứng đầu. Phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương được đẩy mạnh, nhất là trong lĩnh vực đầu tư công, quản lý ngân sách, đất đai, quy hoạch và tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, qua đó phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương và cơ sở. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, nhiệm vụ tiếp tục hoàn thiện thể chế vẫn còn rất nặng nề, đòi hỏi sự quyết tâm cao hơn nữa của cả hệ thống chính trị để đáp ứng khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng trong kỷ nguyên phát triển mới. 

Tóm lại, mục tiêu cuối cùng của cải cách thể chế không gì khác hơn là nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường, đồng thời củng cố vững chắc nền tảng chính trị - xã hội của đất nước. Đây không phải là “kịch bản chính trị” hay sự thay đổi mô hình quyền lực như Phạm Đình Bá xuyên tạc, mà là quá trình hoàn thiện phương thức quản lý và tổ chức xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của phát triển bền vững trong bối cảnh mới./.

#Choplua

7/3/26

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BÔI NHỌ ỨNG CỬ VIÊN TRƯỚC THỀM BẦU CỬ

 


Những ngày gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện bài viết của một số tài khoản cá nhân với nội dung mang tính xuyên tạc, bôi nhọ và xúc phạm lực lượng Công an nhân dân, đặc biệt nhắm vào cán bộ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031. Bài viết sử dụng những lời lẽ miệt thị, quy chụp như “học dốt”, “chạy nghĩa vụ”, “không có năng lực”… nhằm hạ thấp uy tín cá nhân của cán bộ và cố tình tạo dư luận tiêu cực trước thềm bầu cử. Đây là hành vi thiếu trách nhiệm, mang tính kích động và có dấu hiệu bịa đặt, vu khống, gây ảnh hưởng đến danh dự cá nhân cũng như uy tín của lực lượng Công an nhân dân.


Thực tế cho thấy, để trở thành một cán bộ trong lực lượng Công an nhân dân không phải là con đường dễ dàng như những gì các đối tượng cố tình xuyên tạc. Mỗi cán bộ đều phải trải qua quá trình tuyển chọn nghiêm ngặt, học tập, rèn luyện và phấn đấu lâu dài. Không ít người xuất phát từ chiến sĩ nghĩa vụ, sau đó tiếp tục học tập, thi tuyển vào các trường Công an nhân dân, vừa công tác vừa học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị. Quá trình công tác của mỗi cán bộ đều được đánh giá, kiểm tra, rèn luyện qua nhiều vị trí, nhiều môi trường thực tiễn, chỉ những người có phẩm chất, năng lực, tinh thần trách nhiệm và được đơn vị cũng như nhân dân tín nhiệm mới được xem xét đưa vào quy hoạch, giới thiệu ứng cử.


Cũng cần khẳng định rằng, việc giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy trình chặt chẽ của pháp luật, với nhiều bước hiệp thương, lấy ý kiến cử tri nơi công tác và nơi cư trú, có sự tham gia của tổ chức Đảng, chính quyền và Mặt trận Tổ quốc. Vì vậy, việc một số cá nhân trên mạng xã hội cố tình cắt ghép thông tin, bóp méo lý lịch, bôi nhọ quá trình công tác của cán bộ là hành vi lợi dụng không gian mạng để tung tin sai sự thật, gây hoài nghi trong dư luận và làm ảnh hưởng đến sự minh bạch của công tác bầu cử.


Không khó để nhận ra rằng những luận điệu này không chỉ nhằm vào một cá nhân cụ thể mà còn nhắm tới mục đích sâu xa hơn là hạ thấp uy tín của lực lượng Công an, gây mất niềm tin của nhân dân vào công tác cán bộ và quy trình bầu cử. Đây là thủ đoạn quen thuộc của các đối tượng xấu, thường được tung ra trước các sự kiện chính trị quan trọng nhằm kích động dư luận, gây chia rẽ và làm nhiễu loạn thông tin trên không gian mạng.


Người dân cần tỉnh táo trước những thông tin chưa được kiểm chứng trên mạng xã hội. Uy tín của một cán bộ không được đánh giá bằng những lời vu khống trên Facebook, mà phải nhìn vào quá trình công tác, sự cống hiến thực tế và sự tín nhiệm của tổ chức, đơn vị cũng như nhân dân. Những cán bộ Công an ngày đêm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự, giữ gìn cuộc sống bình yên cho nhân dân xứng đáng được tôn trọng và đánh giá khách quan, công bằng.


Việc tung tin bôi nhọ, xúc phạm danh dự cá nhân và xuyên tạc quy trình bầu cử không chỉ là hành vi thiếu văn hóa trên không gian mạng mà còn làm lộ rõ động cơ chống phá, gây nhiễu thông tin của những kẻ đứng sau các bài viết kích động. Mỗi người dân cần nâng cao cảnh giác, không chia sẻ hay tiếp tay lan truyền những nội dung sai sự thật, đồng thời chủ động lên tiếng phản bác các luận điệu xuyên tạc để góp phần bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh và giữ vững niềm tin vào các hoạt động chính trị quan trọng của đất nước.


Bác tin đồn ngày nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và 30/4, 1/5 kéo dài 9 ngày liên tục

Trước những thông tin đang lan truyền rộng rãi trên các nền tảng mạng xã hội về việc hoán đổi ngày làm việc để kéo dài kỳ nghỉ lễ trong tháng 4 và tháng 5 năm 2026, Bộ Nội vụ đã chính thức lên tiếng nhằm định hướng dư luận và làm rõ lịch nghỉ lễ theo quy định pháp luật hiện hành.

Theo ghi nhận, gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin cho rằng cơ quan chức năng đang xem xét phương án hoán đổi ngày làm việc để người lao động có thể nghỉ liên tiếp 9 ngày. Theo kịch bản lan truyền này, kỳ nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương sẽ được kết nối trực tiếp với dịp kỷ niệm Ngày Giải phóng miền Nam (30/4) và Quốc tế Lao động (1/5).
Tuy nhiên, đại diện Cục Việc làm thuộc Bộ Nội vụ đã khẳng định đây là thông tin không chính xác. Hiện tại chưa có bất kỳ đề xuất nào về việc điều chỉnh lịch nghỉ lễ để kéo dài kỳ nghỉ lên 9 ngày như các tin đồn đang chia sẻ. Số ngày nghỉ của người lao động trong các dịp lễ này vẫn sẽ thực hiện nghiêm túc theo các quy định đã được ban hành trong Bộ luật Lao động.
Dựa trên các quy định hiện hành và lịch vạn niên năm 2026, dịp Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 Âm lịch), ngày lễ chính thức rơi vào Chủ nhật (ngày 26/4/2026 Dương lịch), do trùng vào ngày nghỉ cuối tuần, người lao động sẽ được nghỉ bù vào thứ Hai, ngày 27/4. Như vậy, tính cả hai ngày nghỉ cuối tuần trước đó, kỳ nghỉ Giỗ Tổ sẽ kéo dài 3 ngày liên tục, từ thứ Bảy (ngày 25/4) đến hết thứ Hai (ngày 27/4).
Dịp lễ 30/4 và 1/5: Ngày 30/4/2026 và 1/5/2026 rơi vào thứ Năm và thứ Sáu. Đối với những đơn vị, doanh nghiệp có chế độ nghỉ thứ Bảy và Chủ nhật, người lao động sẽ được nghỉ liên tiếp 4 ngày, từ ngày 30/4 đến hết ngày 3/5. Đáng chú ý, mặc dù hai kỳ nghỉ này diễn ra khá gần nhau, nhưng giữa chúng vẫn có 2 ngày làm việc bình thường (thứ Ba ngày 28/4 và thứ Tư ngày 29/4).
Sau khi kết thúc đợt nghỉ Giỗ Tổ, người lao động sẽ quay lại làm việc trong 2 ngày này trước khi bắt đầu kỳ nghỉ lễ tiếp theo.
Bên cạnh việc làm rõ lịch nghỉ, Bộ Nội vụ cũng cho biết, theo Bộ luật Lao động 2019, doanh nghiệp chỉ được sử dụng người lao động làm thêm giờ vào ngày lễ khi có sự đồng ý của họ (trừ một số trường hợp đặc biệt theo luật định).
Về chế độ tiền lương, người lao động đi làm vào ngày nghỉ lễ, Tết sẽ được hưởng mức lương ít nhất bằng 300% mức lương bình thường (chưa kể tiền lương ngày lễ đối với người hưởng lương ngày).
Nếu làm việc vào ban đêm hoặc làm thêm giờ vào ban đêm trong dịp này, người lao động còn được trả thêm từ 20% đến 30% tùy theo đơn giá tiền lương của ngày làm việc bình thường hoặc ngày nghỉ lễ.
Bộ Nội vụ khuyến cáo người dân cần cập nhật thông tin từ các nguồn chính thống, tránh bị ảnh hưởng bởi những tin đồn thất thiệt gây xáo trộn kế hoạch làm việc và sinh hoạt.

Báo Công an nhân dân
Hai kỳ nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và 30/4-1/5 vẫn thực hiện theo quy định hiện hành.