2/8/26

Phòng, chống mua bán người - Minh chứng phản bác các luận điệu vu cáo

 



Trong dòng chảy sôi động của thời đại, khi quyền con người đang trở thành giá trị phổ quát toàn cầu, Việt Nam – một quốc gia đang phát triển – không chỉ hội nhập mạnh mẽ vào đời sống quốc tế mà còn không ngừng nỗ lực bảo vệ và phát huy giá trị của con người.


Trên không gian mạng, các thế lực thù địch, phản động không ngừng đưa ra các thông tin sai trái, phiến diện, cố tình bóp méo sự thật, hạ thấp những thành tựu mà nước ta đã đạt được trong phòng, chống mua bán người.


Những luận điệu bóp méo sự thật


Lợi dụng một số khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng, chống mua bán người của thế giới và Việt Nam trong những năm qua, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối ở trong nước đã đưa ra các thông tin sai trái, phiến diện, cố tình bóp méo sự thật, hạ thấp những thành tựu, vai trò, uy tín mà Việt Nam đã đạt được để xuyên tạc về tình hình nhân quyền. Có đối tượng chỉ xoáy sâu vào suy diễn, đổ lỗi cho sự gia tăng của tội phạm mua bán người là do sản phẩm của chế độ, lấy những vụ việc nhỏ lẻ để đánh đồng với cả hệ thống... Từ đó, chúng quy kết, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam “vi phạm nhân quyền”, “hạn chế tự do ngôn luận”, “áp bức tôn giáo”, “kìm hãm dân chủ”... trong bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ các nạn nhân của tội phạm mua bán người nói riêng.


Được sự hậu thuẫn, tiếp tay của các cá nhân, tổ chức người Việt lưu vong ở nước ngoài, các hội nhóm với vỏ bọc “bảo vệ nhân quyền” và “phản biện xã hội”, thông qua các hoạt động danh nghĩa lấy tiếng nói, ý chí, nguyện vọng của người dân Việt Nam nói chung, nạn nhân của hoạt động mua bán người nói riêng nhằm chống phá Đảng và Nhà nước. Đồng thời, những đối tượng trên còn có những hành động đi ngược với lợi ích quốc gia dân tộc, chà đạp lên nỗi đau của những nạn nhân, làm lu mờ sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong phòng ngừa, ngăn chặn, giúp đỡ nạn nhân của hoạt động mua bán người, hướng lái dư luận trong nước và quốc tế hiểu sai lệch về quyền con người ở Việt Nam.


Đặc biệt, các hành động xuyên tạc, vu cáo trên còn gây tâm lý tự ti, mặc cảm trong các nạn nhân về mua bán người sau khi được cơ quan chức năng giải cứu và trở về cuộc sống đời thường khiến cho nhiều người không ý thức đúng trách nhiệm của bản thân đối với gia đình và trong bảo vệ nạn nhân cũng như phòng ngừa hoạt động mua bán người. Qua đó, ảnh hưởng tiêu cực tới tinh thần tương thân, tương ái, tinh thần đoàn kết và phối hợp với các cơ quan chức năng trong các hoạt động trong phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động mua bán người ngay tại địa bàn cơ sở.


Loại tội phạm này ngày càng sử dụng các phương thức, thủ đoạn tinh vi, đặc biệt là trên không gian mạng. Các đối tượng thường lợi dụng những người trẻ còn thiếu kinh nghiệm sống hoặc người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, trình độ học vấn thấp đang có nhu cầu tìm việc làm bằng việc đưa ra các lời chào mời về “việc nhẹ, lương cao” ở nước ngoài, sau đó thu giữ giấy tờ, ép buộc lao động cưỡng bức hoặc bóc lột tình dục. Các đường dây mua bán người xuyên quốc gia được tổ chức với quy mô ngày càng lớn, tính chất ngày càng phức tạp, với sự tham gia của cả đối tượng trong nước và nước ngoài, thậm chí một số trường hợp còn có sự câu kết móc nối với một số đối tượng, cá nhân thuộc các tổ chức phản động ở nước ngoài.


Nỗ lực ngăn chặn, đẩy lùi tội phạm mua bán người


Mua bán người được Liên hợp quốc xác định là một trong 4 loại tội phạm nguy hiểm nhất thế giới. Thời gian qua, tình hình mua bán người vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp trên phạm vi toàn cầu với thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong cuộc chiến chống mua bán người, thông qua các chính sách, hành động cụ thể.


Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam đặt con người làm trung tâm trong mọi chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, với trọng tâm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác phòng, chống mua bán người, phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước ASEAN về phòng, chống mua bán người (ACTIP) được thông qua năm 2015. Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 do Chính phủ phê duyệt ngày 9/2/2021, khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm này.


Đặc biệt, ngày 28/11/2024, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Phòng, chống mua bán người, góp phần thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phòng, chống mua bán người; củng cố hành lang pháp lý, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tương thích với các điều ước quốc tế. Trên cơ sở đó, các cơ quan chức năng đã triển khai đồng bộ, toàn diện các biện pháp đấu tranh với tội phạm mua bán người và đạt nhiều kết quả tích cực.


Trong bối cảnh tội phạm mua bán người mang tính xuyên quốc gia, lợi dụng các tuyến di cư và không gian mạng để hoạt động, việc tăng cường phối hợp giữa các lực lượng thực thi pháp luật và mở rộng hợp tác quốc tế đang trở thành một yêu cầu cấp thiết. Ngày 24/12/2024, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết số 79/243, chính thức thông qua toàn văn Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng, trong đó quy định công ước được mở cho các quốc gia ký tại Hà Nội năm 2025 và sau đó tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York đến hết ngày 31/12/2026.


Lễ mở ký diễn ra tại Hà Nội trong 2 ngày 25 và 26/10/2025 với thông điệp "Chống tội phạm mạng - Chia sẻ trách nhiệm - Hướng tới tương lai" là bước tiến góp phần khắc phục tình trạng “vùng xám pháp lý” từng khiến nhiều vụ tấn công mạng xuyên quốc gia không thể truy tố. Giá trị lớn nhất của Công ước không chỉ nằm ở các quy phạm cụ thể, mà ở việc hình thành một “chuẩn mực pháp lý chung” cho cộng đồng quốc tế trong ứng xử với tội phạm mạng, trong đó có tội phạm về mua, bán người.


Tổ chức Di cư quốc tế (IOM) tại Việt Nam đánh giá cao việc Việt Nam thông qua Công ước ACTIP, coi đây là một bước tiến quan trọng trong việc giải quyết các thách thức liên quan đến di cư và mua bán người. Bà Park Mihyung, Trưởng Phái đoàn IOM tại Việt Nam ghi nhận, trong những năm gần đây, Việt Nam rất tích cực thúc đẩy di cư an toàn, cũng như có những nỗ lực nghiêm túc chống mua bán người. Bà Park Mihyung nhấn mạnh, Kế hoạch Hành động quốc gia về phòng, chống mua bán người giai đoạn 2021-2025, với tầm nhìn đến năm 2030, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong cuộc chiến này.


Việc Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Tiến trình COMMIT năm 2025 nói chung và Bộ Công an Việt Nam chủ trì đăng cai tổ chức Hội nghị IMM6 với chủ đề “Tăng cường hợp tác khu vực trong đấu tranh chống mua bán người trong kỷ nguyên số” không chỉ là minh chứng cho tinh thần tăng cường hợp tác, hiểu biết lẫn nhau, mà còn là bước tiến quan trọng nhằm củng cố và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ láng giềng hữu nghị, cùng phát triển bền vững với các nước Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng.


Những năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người được Việt Nam triển khai quyết liệt. Giai đoạn 2012-2022, cả nước đã khởi tố hơn 1.700 vụ án về mua bán người với 3.059 bị can. Cũng trong giai đoạn này, các cơ quan chức năng Việt Nam đã tiếp nhận, hỗ trợ cho gần 8.000 nạn nhân bị mua bán người, bảo đảm các nạn nhân được giải cứu, trao trả hoặc tự trở về đều nhận được hỗ trợ phù hợp để tái hòa nhập cộng đồng.


Năm 2026 đánh dấu tròn 10 năm Việt Nam thực hiện “Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người”. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng, Nhà nước, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, Việt Nam đã khẳng định quyết tâm mạnh mẽ trong hoàn thiện hệ thống pháp luật, triển khai các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, giải quyết nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh tội phạm, kịp thời giải cứu, hỗ trợ hàng ngàn nạn nhân, thúc đẩy hiệu quả hợp tác quốc tế.


Ngày 30/7/2026, Bộ Công an, Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phối hợp UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức Lễ phát động “Chung tay phòng, chống mua bán người”. Đây là một trong những hoạt động hưởng ứng “Ngày thế giới phòng, chống mua bán người” và “Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người 30/7” năm 2026, với chủ đề “Mắc kẹt sau bẫy lừa đảo”, thể hiện nỗ lực cam kết của các cấp, ngành từ Trung ương đến địa phương và hoạt động hợp tác quốc tế trong công tác phòng, chống mua bán người.


Sự nỗ lực nói trên tạo thành sức mạnh to lớn đẩy lùi tội phạm mua bán người, góp phần bảo vệ nhân phẩm con người, giữ gìn cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân và xây dựng một xã hội kỷ cương, an toàn, phát triển.


Liêm Chính - Bình Nguyên 

Báo CAND

1/8/26

Xử lý nghiêm các trường hợp lan truyền thông tin xấu độc trên mạng xã hội


Bên cạnh những tiện ích mang lại, mạng xã hội cũng là môi trường để thông tin sai sự thật, xuyên tạc lan truyền nhanh chóng. Mỗi lượt chia sẻ hay bình luận thiếu kiểm chứng đều có thể vô tình góp phần phát tán thông tin xấu độc.


Thời gian qua, lực lượng chức năng đã xử lý nhiều trường hợp có hành vi chia sẻ, phát tán hoặc bình luận với các nội dung chống phá trên hệ thống truyền thông của Lê Trung Khoa. Một trong những trường hợp điển hình là ông Nguyễn Văn Xiêm, trú tại xã Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Làm việc với cơ quan chức năng, ông Xiêm thừa nhận trong quá trình sử dụng Facebook đã đăng tải, chia sẻ các bài viết có nội dung phản động, xuyên tạc, bôi nhọ lãnh đạo Nhà nước.


"Quá trình sử dụng Facebook, tôi có đăng tải, chia sẻ một số bài viết có nội dung phản động, xuyên tạc, bôi nhọ lãnh đạo nhà nước", ông Xiêm khai nhận. Đối tượng cũng cho biết, bản thân thường xuyên bình luận với thái độ tiêu cực dưới nhiều bài viết và khẳng định không có ai sử dụng, chỉ đạo hay trả tiền thực hiện các hành vi này.


Theo tài liệu của cơ quan chức năng, sử dụng tài khoản Facebook "Thích Chơi Đàn", ông Xiêm nhiều lần chia sẻ bài viết, video từ hệ thống truyền thông của Lê Trung Khoa và để lại nhiều bình luận mang tính cổ súy, góp phần lan truyền các nội dung chống phá. Những hành vi này của ông Xiêm nhanh chóng bị phát hiện và xử lý theo quy định.


Theo thống kê của Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05), Bộ Công an, trong các trường hợp bị xử lý vì chia sẻ, cổ vũ hoặc phát tán nội dung chống phá trên hệ thống mạng xã hội của Lê Trung Khoa từ cuối năm 2025 đến nay, 93% vi phạm do thiếu hiểu biết, nhẹ dạ, cả tin và bị dẫn dắt bởi thông tin sai lệch; 7% còn lại có biểu hiện cực đoan, chống đối, tiếp tay có chủ đích và đã bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.


Cơ quan chức năng cho biết, đối tượng Lê Trung Khoa lợi dụng danh nghĩa "Tổng biên tập" của mô hình tòa soạn tư nhân mang tên "Thời báo" tại Đức để tạo dựng vỏ bọc "báo chí độc lập", "tự do ngôn luận". Thông qua mạng lưới gồm 12 kênh truyền thông với khoảng 3 triệu lượt theo dõi, đối tượng đã phát tán hàng nghìn bài viết, video có nội dung bịa đặt, xuyên tạc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước. Chính sự ngụy trang dưới hình thức báo chí đã khiến không ít người mất cảnh giác, vô tình chia sẻ hoặc tương tác với các nội dung vi phạm mà không nhận thức đầy đủ hậu quả pháp lý.


Trong tháng 11 và 12/2025, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã lần lượt khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phát lệnh truy nã và hoàn tất kết luận điều tra đối với Lê Trung Khoa về hành vi quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự. Ngày 8/12/2025, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành cáo trạng truy tố đối tượng.


Đánh giá về xu hướng lợi dụng mạng xã hội hiện nay, Thiếu tá Nguyễn Công Tuấn, Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an, cho biết các đối tượng đang thay đổi phương thức hoạt động theo hướng ngày càng tinh vi.


Trong năm 2025, Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đã phối hợp giám sát 15 triệu tài khoản Facebook, 273 nghìn website và blog, 55 nghìn kênh YouTube cùng hơn 100 nghìn kênh TikTok. Đợt cao điểm vừa qua, lực lượng chức năng đã xử phạt hành chính 86 trường hợp, với tổng số tiền 639,5 triệu đồng vì đăng tải, chia sẻ thông tin sai sự thật trên mạng xã hội. Đáng chú ý, trong số này có 56 đảng viên, cán bộ có hành vi tiếp tay lan truyền thông tin xấu độc.


Điển hình, trong năm 2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố, bắt tạm giam Bành Bảo Ngọc, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang và Vũ Thị Hương, giáo viên Trường trung học cơ sở Tô Châu, tỉnh An Giang. Do bức xúc với kết quả giải quyết đơn thư, cả hai đã sử dụng Facebook chia sẻ nhiều bài viết, video từ hệ thống "Thời báo" và bị khởi tố về tội "Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân" theo Điều 331 Bộ luật Hình sự.


Thiếu tá Nguyễn Công Tuấn cho biết: "Bộ Công an xác định phương châm là chủ động phát hiện từ sớm, ngăn chặn từ xa, xử lý tận gốc các hành vi lợi dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia; đồng thời tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để phát hiện các tài khoản, hội nhóm phát tán thông tin sai sự thật, xuyên tạc và kích động".


Cơ quan chức năng cũng khuyến cáo người dân cần nâng cao ý thức trách nhiệm khi sử dụng mạng xã hội; không chia sẻ, bình luận hoặc tương tác với các nội dung xấu độc; nhận thức rõ hành vi giúp sức phát tán thông tin chống phá có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời chủ động thông báo cho cơ quan chức năng khi phát hiện các tài khoản, tổ chức phát tán thông tin sai sự thật.


Một số bài viết có nội dung xuyên tạc, chống phá được phát tán trên mạng xã hội.


Không gian mạng mang đến nhiều cơ hội kết nối và tiếp cận thông tin, nhưng cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao về trách nhiệm của mỗi người sử dụng. Một cộng đồng số văn minh không được xây dựng từ những lượt tương tác theo cảm tính, mà từ ý thức tôn trọng sự thật, tuân thủ pháp luật và chủ động sàng lọc thông tin. Mỗi người khi tham gia mạng xã hội cần cảnh giác cao, không để sự tò mò mà vô tình trở thành mắt xích trong quá trình phát tán thông tin xấu độc, góp phần giữ gìn môi trường thông tin an toàn, lành mạnh trên không gian mạng.

NHÃ NGUYÊN

#HSV 

#HSVCHONGDIENBIENHOABINH

30/7/26

Từ “giữ mình” đến “dám làm, dám chịu trách nhiệm”

 



Tác giả: Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN SÁU, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam


Ngày 26-7-2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy định số 207-QĐ/TW “Về những điều đảng viên không được làm”, thay thế Quy định số 37-QĐ/TW và yêu cầu mới của Chỉ thị 07-CT/TW ngày 13-7-2026 của Bộ Chính trị: Chuyển từ “học tập” sang “học tập, thực hành”, từ nhận thức sang hành động, từ tự giác tu dưỡng sang kiểm tra bằng sản phẩm, hiệu quả công việc và sự hài lòng của nhân dân.


Người đảng viên phải biết rõ giới hạn mình không được vượt qua và phải biết mình cần làm gì để xứng đáng với vai trò tiên phong


Trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, có một yêu cầu tưởng như rất giản dị nhưng lại có ý nghĩa nền tảng: Người đảng viên phải biết rõ giới hạn mình không được vượt qua, đồng thời phải biết mình cần làm gì để xứng đáng với vai trò tiên phong, gương mẫu.


Nếu “19 điều đảng viên không được làm” xác lập những ranh giới về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và kỷ luật mà mỗi đảng viên tuyệt đối không được vượt qua, thì Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13-7-2026 của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” đặt ra một yêu cầu ở tầm cao hơn: Không chỉ học mà phải thực hành; không chỉ giữ mình mà phải hành động; không chỉ tránh sai phạm mà phải tạo ra kết quả, giá trị và niềm tin.


Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, mối quan hệ ấy càng có ý nghĩa đặc biệt. Bởi, quân đội là lực lượng chiến đấu, lực lượng chính trị đặc biệt của Đảng, có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Trong môi trường quân sự, một biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, một hành vi thiếu kỷ luật, một quyết định thiếu trách nhiệm hay một biểu hiện vụ lợi không chỉ gây tổn hại đến cá nhân mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh chiến đấu, đoàn kết và uy tín của đơn vị.


“19 điều không được làm” - hàng rào bảo vệ phẩm chất người đảng viên


Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26-7-2026 về những điều đảng viên không được làm tiếp tục xác định 19 nhóm hành vi mà đảng viên phải tuyệt đối tránh; đồng thời nhấn mạnh rằng quy định này không hạn chế tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, lợi ích quốc gia - dân tộc. Quy định 207 cũng thay thế Quy định số 37-QĐ/TW năm 2021. Đây là điểm cần nhận thức thật đúng. Kỷ luật không phải là chiếc phanh làm tê liệt sáng tạo; kỷ luật là hàng rào bảo đảm cho sáng tạo đi đúng hướng. Không được vụ lợi, nhưng phải dám hành động vì lợi ích chung. Không được lạm quyền, nhưng phải dám quyết định trong phạm vi trách nhiệm.


Chỉ thị 07: Bước chuyển từ “học tập” sang “thực hành”


Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, Bộ Chính trị chỉ rõ một số nơi việc học tập và làm theo Bác còn hình thức, thiếu chiều sâu, chưa chú trọng đúng mức thực hành phương pháp Hồ Chí Minh; chưa tạo chuyển biến thực chất từ nhận thức sang hành động; một bộ phận cán bộ còn né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu bản lĩnh đổi mới, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.


Chính vì vậy, Chỉ thị 07-CT/TW không chỉ tiếp tục yêu cầu “học tập”, mà nhấn mạnh “học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh”. Đây là một bước phát triển rất đáng chú ý. Bởi vì, tư tưởng Hồ Chí Minh không phải để học thuộc lòng; đạo đức Hồ Chí Minh không phải để nói trong hội nghị; phương pháp Hồ Chí Minh không phải để trưng bày trong khẩu hiệu; phong cách Hồ Chí Minh không phải để mô tả trong báo cáo.


Cán bộ chỉ huy phải là “điểm tựa nêu gương”


Trong quân đội, cấp dưới nhìn cấp trên không chỉ qua lời nói mà trước hết qua hành động. Người chỉ huy nói về kỷ luật nhưng bản thân tùy tiện thì kỷ luật khó nghiêm. Nói về tiết kiệm nhưng sử dụng nguồn lực thiếu hiệu quả thì không thể thuyết phục bộ đội. Yêu cầu cấp dưới dám nhận nhiệm vụ nhưng bản thân lại né tránh trách nhiệm thì khó tạo ra tinh thần dấn thân. Yêu cầu chiến sĩ đoàn kết nhưng người chỉ huy lại biểu hiện cục bộ, thiên vị thì đoàn kết sẽ bị tổn thương.


Bởi vậy, Chỉ thị 07 yêu cầu trách nhiệm nêu gương phải trở thành một phương thức lãnh đạo quan trọng; tập trung vào bản lĩnh chính trị, tư duy đổi mới, năng lực tổ chức thực hiện, đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi và tinh thần phục vụ Nhân dân.


Đối với cán bộ Quân đội, nêu gương trước hết là nêu gương trong nhiệm vụ. Khi huấn luyện phải cùng bộ đội sát thao trường. Khi hành quân phải cùng bộ đội chia sẻ gian khổ. Khi đơn vị khó khăn phải có mặt trước. Khi nhiệm vụ nguy hiểm phải là người tiên phong. Khi có khuyết điểm phải nhận trách nhiệm trước. Khi cấp dưới lập công phải biết ghi nhận, biểu dương. Đó không phải những hành động mang tính biểu diễn. Đó chính là phương pháp lãnh đạo bằng nêu gương.


“Không né tránh” là một yêu cầu đặc biệt đối với cán bộ Quân đội. Trong môi trường quân sự, né tránh trách nhiệm có thể gây hậu quả lớn. Một quyết định chậm trong huấn luyện có thể ảnh hưởng đến chất lượng sẵn sàng chiến đấu. Một tham mưu thiếu quyết đoán có thể làm lỡ thời cơ. Một cán bộ chỉ huy ngại va chạm có thể để khuyết điểm kéo dài. Một tổ chức đảng thiếu quyết liệt trong kiểm tra, giám sát có thể để vi phạm nhỏ phát triển thành vi phạm lớn. Do đó, thực hành Chỉ thị 07 trong Quân đội trước hết phải được thể hiện bằng tinh thần trách nhiệm cao nhất đối với nhiệm vụ được giao.


 “Cần, kiệm, liêm, chính” phải được thể hiện ngay trong quản lý quân đội


19 điều Đảng viên không được làm dành một vị trí quan trọng cho phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, sử dụng sai nguồn lực, nhận quà để tác động đến quyết định và can thiệp vì lợi ích cá nhân. Quy định 207 cũng nhấn mạnh trách nhiệm đối với việc quản lý, khai thác, sử dụng nguồn lực, tài chính, tài sản. Đối với Quân đội, điều này có ý nghĩa thiết thực. Quản lý vũ khí, trang bị kỹ thuật; quản lý đất quốc phòng; quản lý tài chính, tài sản; mua sắm, đầu tư; bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; quản lý doanh trại, vật chất; tổ chức huấn luyện, diễn tập… đều liên quan trực tiếp đến nguồn lực Nhà nước và sức mạnh chiến đấu của đơn vị. Do đó, thực hành “cần, kiệm, liêm, chính” không phải điều gì xa vời.


Từ Bộ đội Cụ Hồ đến chuẩn mực hành động trong giai đoạn mới


Giá trị Bộ đội Cụ Hồ không phải một danh hiệu bất biến, mà là một hệ chuẩn mực phải được tiếp tục bồi đắp trong điều kiện mới. Nếu trước đây, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ được khẳng định trong chiến đấu, trong gian khổ, hy sinh, thì hôm nay giá trị ấy còn phải được thể hiện trong làm chủ khoa học, công nghệ; chuyển đổi số; quản trị hiện đại; bảo vệ chủ quyền trên không gian mạng; xây dựng chính quy; quản lý bộ đội; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; thực hiện nhiệm vụ dân vận và tham gia giúp dân phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn.


Một cán bộ Quân đội thực hành Chỉ thị 07 phải vừa có “tâm trong”, “trí sáng”, “chí lớn”, vừa có năng lực hành động trong môi trường chiến tranh công nghệ cao.


Biến 19 Điều thành “19 lần tự soi”


Để Chỉ thị 07 thực sự đi vào đời sống quân đội, mỗi cán bộ, đảng viên cần biến 19 điều thành 19 câu hỏi tự soi.


Có giữ vững nguyên tắc tổ chức đảng không?


Có trung thành, kiên định về tư tưởng không?


Có nêu gương không?


Có chủ nghĩa cá nhân không?


Có cục bộ, bè phái không?


Có xa rời bộ đội, xa rời nhân dân không?


Có nói không đi đôi với làm không?


Có né tránh trách nhiệm không?


Có lãng phí nguồn lực không?


Có lợi dụng chức vụ, quyền hạn không?


Có để quan hệ cá nhân chi phối công việc không?


Có trung thực trong báo cáo không?


Có nghiêm túc trong quản lý tài chính, tài sản, vũ khí, trang bị không?


Có giữ bí mật quân sự không?


Có sử dụng mạng xã hội đúng quy định không?


Có dám đấu tranh với cái sai không?


Có bảo vệ người đúng, bảo vệ lợi ích chung không?


Có đặt lợi ích của Đảng, Tổ quốc, Quân đội và nhân dân lên trên lợi ích cá nhân không? Và câu hỏi cuối cùng: Việc mình làm hôm nay có làm tăng thêm sức mạnh chiến đấu, sức mạnh chính trị và niềm tin của bộ đội, nhân dân đối với Quân đội hay không? Nếu mỗi cán bộ, đảng viên thực sự tự hỏi mình như vậy, 19 điều không còn là văn bản nằm trong tủ hồ sơ mà trở thành cơ chế tự kiểm soát từ bên trong.


Từ “không vi phạm” đến “xứng đáng”


Mục tiêu cuối cùng của việc thực hiện 19 điều không phải tạo ra những người chỉ biết sợ vi phạm. Mục tiêu của Chỉ thị 07 cũng không phải tạo ra những bản đăng ký học tập đẹp đẽ. Điều cần xây dựng là những người đảng viên có kỷ luật nhưng giàu trách nhiệm; có nguyên tắc nhưng năng động; vừa có đạo đức vừa có năng lực; có bản lĩnh nhưng khiêm tốn; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.


Đối với Quân đội, đó phải là những cán bộ, đảng viên sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ; đặt nhiệm vụ lên trên lợi ích cá nhân; đặt danh dự người quân nhân cách mạng lên trên mọi cám dỗ; đặt lợi ích của Tổ quốc, Đảng, Quân đội và nhân dân lên trên hết, trước hết. Đó chính là sự thống nhất giữa “19 điều không được làm” và Chỉ thị 07.


19 điều tạo nên hàng rào kỷ luật. Chỉ thị 07 tạo nên động lực hành động. Nêu gương tạo nên sức lan tỏa. Kết quả nhiệm vụ tạo nên giá trị. Niềm tin của nhân dân khẳng định phẩm chất. Trong Quân đội, sự kết hợp ấy càng phải trở thành sức mạnh tự thân của mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên.


Thực hiện tốt 19 điều đảng viên không được làm, gắn với thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 07, vì thế không chỉ là yêu cầu về xây dựng Đảng trong Quân đội. Sâu xa hơn, đó là xây dựng con người - nhân tố quyết định sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn mới. Và thước đo cuối cùng không phải là người cán bộ đã nói bao nhiêu về Bác, đã viết bao nhiêu bản đăng ký, mà là: Khi Tổ quốc cần, có dám nhận nhiệm vụ không; khi đơn vị khó, có dám đi đầu không; khi quyền lợi cá nhân đứng trước lợi ích chung, có biết đặt lợi ích chung lên trên không; khi có khuyết điểm, có dám nhận trách nhiệm không; khi đứng trước thử thách, có giữ vững phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ không.


Đó mới là thực hành. Đó mới là nêu gương.


Đó cũng chính là cách thiết thực nhất để mỗi cán bộ, đảng viên Quân đội biến “19 điều không được làm” thành hàng rào tự giữ mình, tấm gương tự soi, động lực tự rèn và sức mạnh hành động, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.


Báo QĐND

Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV. Ảnh: TTXVN 

HSV 

#HSVCHONGDIENBIENHOABINH

27/7/26

KỶ NIỆM NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SỸ

 


🇻🇳 Cách đây 79 năm, ngày 27 tháng 7 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn ngày 27 tháng 7 là Ngày Thương binh toàn quốc, sau này là Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Từ đó đến nay, ngày 27 tháng 7 đã trở thành biểu tượng thiêng liêng của đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cây" – một truyền thống tốt đẹp được gìn giữ và phát huy qua nhiều thế hệ người Việt Nam.


Trong những năm tháng chiến tranh gian khổ, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã không tiếc máu xương, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc. Có những người mãi mãi nằm lại nơi chiến trường khi tuổi đời còn rất trẻ. Có những người trở về mang trên mình thương tật suốt đời, để lại một phần thân thể nơi chiến địa nhưng vẫn tiếp tục cống hiến, lao động, xây dựng quê hương. 🎖️


✨ Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những vết thương vẫn còn hiện hữu. Đó là nỗi đau âm ỉ mỗi khi trái gió trở trời của các bác thương binh, bệnh binh. Đó là những giọt nước mắt lặng thầm của những người mẹ, người vợ khi nhìn lên di ảnh của người thân. Những hy sinh ấy là vô giá, không gì có thể bù đắp được. Sự hy sinh ấy đã viết nên những trang sử vàng chói lọi của dân tộc Việt Nam anh hùng.


Mỗi mùa Tháng Bảy về là một lần nhắc nhở chúng ta sống xứng đáng hơn với những gì cha ông đã đánh đổi bằng máu xương.


Xin được nghiêng mình trước anh linh các Anh hùng liệt sĩ.

Xin được gửi tới các đồng chí thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, người có công với cách mạng cùng toàn thể các gia đình chính sách lời thăm hỏi ân cần, lòng biết ơn sâu sắc và những tình cảm trân trọng nhất.


⭐️ Kính chúc các đồng chí cùng gia đình luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, tiếp tục là những tấm gương sáng về ý chí, nghị lực và lòng yêu nước để các thế hệ hôm nay và mai sau noi theo.


Đời đời nhớ ơn các Anh hùng liệt sĩ!


26/7/26

GIỮ GÌN KỶ LUẬT PHÁT NGÔN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG – TRÁCH NHIỆM CỦA MỖI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN




Trong thời đại chuyển đổi số, mạng xã hội đã trở thành kênh thông tin, trao đổi và kết nối phổ biến. Tuy nhiên, bên cạnh những tiện ích mang lại, không gian mạng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ về tin giả, thông tin xấu độc và các hành vi vi phạm pháp luật.


Đối với cán bộ, đảng viên, việc giữ gìn kỷ luật phát ngôn và sử dụng mạng xã hội đúng quy định không chỉ là yêu cầu về trách nhiệm cá nhân mà còn góp phần giữ vững uy tín của Đảng, Nhà nước và củng cố niềm tin của Nhân dân.


Mỗi cán bộ, đảng viên cần tuyệt đối không:

Đăng tải, chia sẻ thông tin sai sự thật, chưa được kiểm chứng.

Xúc phạm, bôi nhọ, công kích tổ chức, cá nhân.

Tiết lộ hoặc cung cấp thông tin nội bộ, bí mật Nhà nước.

Đăng tải, chia sẻ nội dung xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước.

Bình luận, chia sẻ thiếu chuẩn mực, gây hiểu lầm hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến cơ quan, tổ chức.


💡 Hãy luôn ghi nhớ:

Trước khi nói – Hãy suy nghĩ.

Trước khi đăng – Hãy kiểm chứng.

Trước khi chia sẻ – Hãy cân nhắc trách nhiệm.

Mỗi lượt thích, bình luận hay chia sẻ đều thể hiện trách nhiệm và bản lĩnh của người cán bộ, đảng viên. Hãy sử dụng mạng xã hội một cách văn minh, đúng pháp luật, góp phần xây dựng môi trường thông tin lành mạnh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.

"Kỷ luật phát ngôn trên không gian mạng là trách nhiệm, là danh dự và là ý thức của mỗi cán bộ, đảng viên."                          

23/7/26

Hội nghị tri ân người có công với cách mạng: Ấm áp nghĩa tình

 Nhân dịp Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), Bộ Nội vụ phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt Nam và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị tri ân người có công với cách mạng toàn quốc năm 2026 và phát động phong trào đẩy mạnh chăm lo người có công với cách mạng, hướng tới Kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/20227).




Hội nghị có sự tham gia của 310 đại biểu là người có công và thân nhân liệt sĩ, đến từ 34 tỉnh, thành phố trên cả nước, cùng các đại biểu đến từ các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Nội vụ và Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với những người đã hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Xúc động ký ức ngày tiễn con ra trận


Bày tỏ sự xúc động, Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Điểm (Hà Nội) - người có hai con trai là liệt sĩ Nguyễn Ngọc Lý và Nguyễn Công Kỳ bồi hồi nhớ lại ngày động viên các con lên đường. Ngày ấy, các anh đều hứa quyết tâm chiến đấu đến cùng để bảo vệ Tổ quốc. Chiến tranh nay đã lùi xa, dẫu nỗi đau mất mát vẫn còn đó, nhưng Mẹ luôn cảm thấy ấm lòng trước sự quan tâm, động viên kịp thời và thường xuyên từ các cấp chính quyền cùng đoàn thể.


Cùng chung niềm cảm xúc ấy, Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Căn (tỉnh Bắc Ninh) nhớ lại những ngày động viên hai người con nối tiếp ra chiến trường. “Thằng lớn đi rồi về lại tái ngũ, thằng nhỏ vừa học xong lớp 10, ở nhà đúng 5 ngày là tiếp bước lên đường chiến đấu”. Trong niềm xúc động, Mẹ bày tỏ sự trân trọng và biết ơn sâu sắc khi những cống hiến, hy sinh của gia đình luôn được Đảng, Nhà nước ghi nhận và tri ân chu đáo.


Cũng tại Hội nghị tri ân, Mẹ Việt Nam Anh hùng Trần Thị Thi (92 tuổi, quê An Giang) người có 4 thân nhân là liệt sĩ, gồm chồng, con trai, anh và em ruột, đã vượt hàng ngàn cây số, lần đầu tiên đi máy bay ra Hà Nội tham dự sự kiện. Dù tuổi cao sức yếu, Mẹ vẫn không giấu được niềm xúc động trước sự chăm lo, phụng dưỡng chu đáo từ bữa ăn đến giấc ngủ. Nghẹn ngào chia sẻ, Mẹ cho biết: “Đất nước hòa bình, thống nhất, được Đảng, Nhà nước quan tâm chăm lo đàng hoàng Mẹ mừng lắm. Thấy con cháu hôm nay được sống trong hòa bình, Mẹ cảm thấy vô cùng mãn nguyện”.


"Sáng mãi phẩm chất “Bộ đội cụ Hồ”


Tại hội nghị, ông Đoàn Ngọc Châu (sinh năm 1951) đến tỉnh Lai Châu, mặc dù là thương binh hạng 3/4, nạn nhân chất độc da cam/dioxin nhưng ômg vẫn giữ nguyên vẹn sự tinh anh và khí chất của người lính Lữ đoàn 203 xe tăng năm xưa. Nhập ngũ từ đầu năm 1972, trực tiếp tham gia huấn luyện, chiến đấu, ông nghĩ việc được trở về đã là một may mắn lớn. "Khi lên đường chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, chúng tôi không đòi hỏi hay suy nghĩ riêng tư gì cả. Nhận được sự quan tâm chu đáo của Đảng và Nhà nước, chúng tôi vô cùng cảm động. Những người lính chúng tôi thấy sự hy sinh của mình và đồng đội là vô cùng có ý nghĩa", ông Đoàn Ngọc Châu xúc động nói.


Chia sẻ về những năm tháng gian khó, ông Châu bồi hồi nhớ lại những bữa cơm độn, những ngày nằm dưới hầm bí mật... Ở tuổi 75, ông bày tỏ tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và công cuộc đổi mới đất nước, đặc biệt là chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Ông nhấn mạnh, trong thời đại truyền thông số hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên và cựu chiến binh càng phải nêu cao tính gương mẫu, phát ngôn và hành động chuẩn mực để làm gương cho thế hệ trẻ.


Cùng chung xúc động trong ngày hội ngộ là Đại tá Hán Văn Quảng, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 923, nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 372 và nguyên Phó Tham mưu trưởng Quân chủng Phòng không - Không quân. Ông Hán Văn Quảng đã từng kinh qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và bảo vệ chủ quyền biển đảo.


Đại tá Quảng không khỏi nghẹn ngào khi nhớ về những người đồng đội đã vĩnh viễn nằm lại nơi chiến trường. "Những ngày này đối với tôi vô cùng thiêng liêng. Bao nhiêu xương máu của đồng đội đã đổ xuống, các anh chị đã hy sinh, không trở về nữa; được gặp lại những anh em là thương, bệnh binh đang được Đảng, Nhà nước quan tâm chăm sóc, tôi rất mừng và cảm động. Đất nước chúng ta có được hòa bình, ấm no như hôm nay là nhờ sự hy sinh to lớn đó" - ông Hán Văn Quảng xúc động nói...


Những lời tâm sự, chia sẻ mộc mạc của các Mẹ Việt Nam Anh hùng, các thương binh, bệnh binh chính là minh chứng sinh động nhất cho đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Sự tri ân hôm nay không dừng lại ở trách nhiệm, mà là tình cảm thiêng liêng từ trái tim, nơi tiếp nối và thắp sáng ngọn lửa yêu nước, niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau trên hành trình xây dựng đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc.

Hải Ngọc (TTXVN) 

#HSV

#HSVTHUONGBINHLIETSI

Âm mưu, hoạt động của tổ chức HRM

 Tổ chức Human Rights Watch (HRW) lại lên tiếng yêu cầu Nhà nước ta thả ngay năm nhân vật mà họ gọi là bất đồng chính kiến gồm Nguyễn Thành Nam , Trần Việt Anh , Nguyễn Thúy Hằng , Đào Bá Đoàn, Nguyễn Văn Yên . Một tổ chức phi chính phủ ở Mỹ lại thường xuyên can thiệp vào công việc nội bộ các nước trong đó có Việt Nam ta . Mà hễ họ can thiệp thì người dân Việt Nam đều tin 100% là những kẻ đó có tội và tin cơ quan an ninh điều tra của chúng ta khởi tố đúng người đúng tội . Như vậy là quan trọng thực sự rồi mong cơ quan điều tra mở rộng vụ án để không sót người sót tội nhất là như ông bà ta nói cháy nhà lòi ra mặt chuột , chuột nhỏ đã lòi vậy có còn chuột cống không ? Dân ta chờ xem ?



21/7/26

Không để thông tin sai lệch bóp méo hành trình tri ân các anh hùng liệt sĩ



Thời gian qua, cả nước đẩy mạnh Chiến dịch cao điểm 500 ngày đêm hoàn thành mục tiêu tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin với sự tham gia của hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang cùng các nhà khoa học, chính quyền địa phương và thân nhân liệt sĩ. Họ nỗ lực trong một hành trình đặc biệt để tìm lại tên tuổi, quê hương và đưa những người con đã ngã xuống trở về với đất mẹ.


Đó không chỉ là một nhiệm vụ chính trị mà còn là mệnh lệnh từ trái tim, là sự tiếp nối truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc Việt Nam. Mỗi hài cốt được tìm thấy, mỗi danh tính được xác định là thêm một gia đình được xoa dịu nỗi đau kéo dài hàng chục năm, thêm một minh chứng cho trách nhiệm của Đảng, Nhà nước đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.


Cố tình lợi dụng hình ảnh cựu chiến binh để kích động tâm lý đối đầu


Thế nhưng, cũng như nhiều chủ trương, chính sách lớn khác của Đảng, Nhà nước, Chiến dịch 500 ngày đêm cũng trở thành mục tiêu chống phá của các đối tượng chống đối chính trị ở trong và ngoài nước. Chúng tung ra nhiều bài viết, video và bình luận trên không gian mạng với những luận điệu như: “Đảng “làm màu” tri ân người đã khuất”, “người lính chỉ có giá trị khi đã chết”, “tìm kiếm liệt sĩ chỉ là màn diễn chính trị”...


Đây là luận điệu hết sức nguy hiểm, cố tính đánh tráo bản chất vấn đề, từ đó kích động tâm lý bất mãn, khoét sâu mâu thuẫn xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, biến hoạt động tri ân thiêng liêng thành cái cớ để công kích Đảng, Nhà nước.


Nhằm hiện thực hóa âm mưu, ý đồ trên, chúng đã sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, trong đó đáng chú ý là việc lợi dụng hình ảnh cựu chiến binh và người có công với cách mạng nhằm đánh tráo bản chất vấn đề, tung “hỏa mù” với vỏ bọc ngụy trang “bảo vệ quyền lợi cựu chiến binh” gắn với những vụ việc khiếu kiện về đất đai. Từ đó cắt ghép hình ảnh, bóp méo sự thật, gán ghép với các luận điệu sai trái để dẫn dắt dư luận đi đến những nhận định sai lệch.


Với chiêu trò “tát bùn sang ao”, các đối tượng đã cố tình đánh tráo bản chất giữa hai vấn đề hoàn toàn khác nhau, dẫn dắt dư luận theo hướng tiêu cực. Bởi vì các vụ việc khiếu nại, tranh chấp đất đai hay những vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách đối với từng cá nhân thuộc lĩnh vực hoàn toàn khác, được giải quyết theo quy định của pháp luật, trên cơ sở hồ sơ, chứng cứ và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Mỗi vụ việc đều có tính chất, nguyên nhân và cơ chế xử lý riêng, không thể lấy một vài trường hợp cụ thể để quy chụp thành bản chất của cả hệ thống chính sách.


Trong khi đó, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ trong Chiến dịch 500 ngày đêm là hoạt động ở lĩnh vực hoàn toàn khác, mang ý nghĩa chính trị, lịch sử và nhân văn sâu sắc, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, đồng thời đáp ứng nguyện vọng tha thiết của hàng vạn gia đình liệt sĩ sau nhiều thập kỷ mong mỏi.


Thế nhưng, với “miệng lưỡi diều hâu” của những kẻ “bán trời không văn tự”, các đối tượng đã cố tình đặt hai vấn đề không có mối liên hệ bản chất cạnh nhau, dựng lên sự đối lập giả tạo giữa “tri ân người đã khuất” và “đối xử với người còn sống”, từ đó dẫn dắt dư luận đi đến những luận điểm sai trái rằng Đảng, Nhà nước quan tâm người đã hy sinh để “làm màu” mà bỏ mặc người có công còn sống.


Đây là thủ đoạn hết sức nguy hiểm, tác động trực tiếp đến tâm tư, tình cảm của một bộ phận nhỏ cựu chiến binh và thân nhân của họ đang vướng phải những vấn đề nhạy cảm liên quan đến chính sách đất đai. Theo đó, mục tiêu của chúng không phải là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có công mà là lợi dụng uy tín, sự hy sinh và những cống hiến to lớn của lực lượng cựu chiến binh để gieo rắc tâm lý hoài nghi, kích động bất mãn, từng bước chia rẽ mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với những người đã cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.


Lật tẩy chiêu bài “hướng tới tương lai” để phủ nhận quá khứ


Nhằm phá hoại tư tưởng, các đối tượng còn cố tình lèo lái, đưa ra các luận điệu dưới dạng các góp ý mĩ miều như “cần khép lại quá khứ, không nên nhắc lại chiến tranh”, “việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ chỉ làm khơi lại đau thương, tốn kém ngân sách”. Thủ đoạn này được ngụy trang bằng chiêu bài “hướng tới tương lai”, “hòa giải” hay “phát triển”, nhưng ẩn sau đó là âm mưu từng bước xóa nhòa ký ức lịch sử, làm phai nhạt truyền thống yêu nước và cắt đứt sợi dây kết nối giữa các thế hệ người Việt Nam với những hy sinh to lớn của cha ông.


    Không ai phủ nhận rằng dân tộc Việt Nam luôn hướng tới tương lai, mong muốn hòa bình, hợp tác và phát triển. Tuy nhiên, khép lại quá khứ không đồng nghĩa với lãng quên lịch sử; hàn gắn vết thương chiến tranh càng không có nghĩa là phủ nhận sự hy sinh của những người đã ngã xuống. Một dân tộc đánh mất ký ức lịch sử sẽ rất dễ đánh mất bản lĩnh chính trị, bản sắc văn hóa và khả năng bảo vệ những giá trị mà các thế hệ đi trước đã phải đánh đổi bằng máu xương.


Hơn nữa, cần thống nhất nhận thức đó là việc tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ không phải là sự “khơi lại đau thương”, mà là hành trình khép lại những nỗi đau còn dang dở. Đó là trách nhiệm của Nhà nước đối với những người đã hiến dâng tuổi xuân và sinh mạng cho độc lập, tự do của Tổ quốc; đồng thời là sự tri ân đối với hàng trăm nghìn gia đình vẫn mòn mỏi chờ ngày đón người thân trở về sau nhiều thập kỷ. Mỗi hài cốt được tìm thấy, mỗi danh tính được xác định không chỉ làm vơi đi nỗi đau của một gia đình mà còn góp phần xoa dịu những mất mát do chiến tranh để lại.


Đáng chú ý, các đối tượng cố tình quy kết hoạt động này là “lãng phí ngân sách”, nhưng lại né tránh một thực tế rằng đầu tư cho công tác đền ơn đáp nghĩa không thể nhìn bằng thước đo lợi ích kinh tế đơn thuần. Giá trị của lòng biết ơn, của sự công bằng với lịch sử, của niềm tin xã hội và sự cố kết dân tộc không thể quy đổi thành những con số chi phí. Một quốc gia có trách nhiệm không thể để những người đã hy sinh vì Tổ quốc mãi nằm vô danh chỉ vì những phép tính thiển cận về ngân sách.


Rõ ràng, mục tiêu mà chúng hướng tới không phải là tiết kiệm nguồn lực quốc gia mà là làm phai nhạt ký ức lịch sử, phủ nhận ý nghĩa chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và từng bước xóa bỏ nền tảng tinh thần của xã hội Việt Nam. Khi thế hệ trẻ không còn hiểu cái giá của độc lập, không còn trân trọng sự hy sinh của các thế hệ đi trước, chúng sẽ dễ bị dẫn dắt bởi những quan điểm sai trái, xuyên tạc lịch sử, từ đó hình thành tâm lý hoài nghi, thờ ơ với các giá trị cách mạng. Đây chính là một thủ đoạn quen thuộc trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, xâm lăng những quan điểm lệch lạc về lịch sử để làm suy yếu niềm tin chính trị; phủ nhận quá khứ để định hướng lại nhận thức của tương lai.


Trong khi đó chiến dịch cao điểm 500 ngày đêm không chỉ là hành trình tìm lại tên tuổi cho các anh hùng liệt sĩ mà còn là sự khẳng định rằng lịch sử không thể bị lãng quên, lòng biết ơn không thể bị phủ nhận, những giá trị được đánh đổi bằng máu xương của các thế hệ cha anh không thể trở thành đối tượng để xuyên tạc hay mặc cả.


Không để lịch sử và lòng biết ơn trở thành mảnh đất cho thông tin sai lệch


Chiến tranh đã lùi xa nhưng những mất mát mà nó để lại vẫn chưa thể khép lại hoàn toàn. Hàng trăm nghìn liệt sĩ vẫn chưa xác định được danh tính, nhiều gia đình vẫn mòn mỏi chờ đợi ngày tìm được người thân. Bởi vậy, mỗi hài cốt được quy tập, mỗi danh tính được xác định không chỉ là kết quả của khoa học hay công tác quản lý nhà nước, mà còn là sự trở về của ký ức, là sự tri ân đối với những người đã hiến dâng tuổi xuân và sinh mạng cho độc lập, tự do của Tổ quốc.


Chính vì mang ý nghĩa thiêng liêng ấy, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ luôn là mục tiêu mà các đối tượng chống đối chính trị tìm cách lợi dụng để xuyên tạc. Chúng không chỉ công kích trực diện giá trị của đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” mà còn sử dụng những thủ đoạn tinh vi hơn như cắt ghép thông tin, đánh tráo khái niệm, bóp méo bối cảnh, cố tình gắn hoạt động tri ân với những vấn đề không liên quan để tạo ra sự đối lập giả tạo, kích động, dẫn dắt dư luận theo hướng sai lệch.


Thực chất, đây là thủ đoạn nhằm chuyển hướng nhận thức của xã hội. Thay vì nhìn nhận Chiến dịch 500 ngày đêm là một nỗ lực nhân văn nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh và thực hiện trách nhiệm đối với lịch sử, các đối tượng lại tìm cách biến hoạt động tri ân thành chủ đề gây tranh cãi, từ đó phủ nhận ý nghĩa của chính sách “đền ơn đáp nghĩa”, gieo rắc tâm lý hoài nghi đối với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước dành cho người có công. Mục tiêu cuối cùng không phải là góp ý hay bảo vệ quyền lợi của bất kỳ ai mà là làm suy giảm niềm tin của nhân dân, khoét sâu những khác biệt về nhận thức và từng bước phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.


Trong bối cảnh không gian mạng phát triển mạnh mẽ, những thông tin sai lệch thường được ngụy trang dưới vỏ bọc của những góc nhìn phản biện. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao “sức đề kháng” trước thông tin xấu độc; không tiếp nhận, chia sẻ hay bình luận theo cảm tính mà cần kiểm chứng nguồn tin, đối chiếu với các thông tin chính thống và nhận diện rõ những thủ đoạn như đánh tráo bản chất, lấy hiện tượng quy kết bản chất, cắt ghép hình ảnh hay lợi dụng cảm xúc nhất thời để thao túng tâm lý.


Hành trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính các anh hùng liệt sĩ là hành trình của trách nhiệm, của lòng biết ơn và sự công bằng với lịch sử. Bảo vệ sự thật về hành trình ấy cũng chính là bảo vệ những giá trị nền tảng của dân tộc, bảo vệ đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và bảo vệ trận địa tư tưởng trên không gian mạng trước những âm mưu lợi dụng lịch sử để xuyên tạc, chia rẽ và chống phá đất nước. Đây là trách nhiệm chung của toàn xã hội trong việc giữ gìn và củng cố niềm tin vào những giá trị tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Phạm Duy (Học viện An ninh nhân dân)

Báo CAND


19/7/26

Bắt tạm giam cựu Giám đốc Trung tâm Văn hóa đăng tải thông tin sai sự thật

 


Kết quả điều tra ban đầu xác định, Cao Thị Ngọc Mai là cựu Giám đốc Trung tâm Văn hóa – Thông tin và Thể thao TP Trà Vinh (cũ). Quá trình công tác, Mai để xảy ra sai phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Năm 2022, Mai bị TAND tỉnh Trà Vinh (cũ) tuyên phạt 5 năm tù về tội tham ô tài sản.


Sau khi chấp hành xong án phạt tù, kể từ tháng 3/2025 đến nay, Mai liên tục sử dụng mạng xã hội đăng tải nhiều bài viết, video với nội dung mang tính quy kết, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, uy tín của nhiều tổ chức, cá nhân.


Cơ quan chức năng đã giải thích, hướng dẫn thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo đúng trình tự pháp luật nhưng đối tượng vẫn ngoan cố, không chấp hành mà tiếp tục sử dụng mạng xã hội để đăng tải, phát tán nhiều thông tin sai sự thật, ảnh hưởng tiêu cực đến dư luận xã hội và tình hình an ninh trật tự.


Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan CSĐT đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và thi hành lệnh bắt tạm giam để phục vụ công tác điều tra về hành vi nói trên.


✍️ Cục ANM và PCTPSDCNC

17/7/26

ĐẨY MẠNH HỌC TẬP, THỰC HÀNH TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHƯƠNG PHÁP, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN MỚI

 


Ngày 13/7/2026, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 07-CT/TW về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới. Chỉ thị nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ "học tập" sang "thực hành", lấy hiệu quả công việc, tinh thần phục vụ Nhân dân, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo. Mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, không ngừng đổi mới, nâng cao đạo đức công vụ, văn hóa công vụ, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

👉 Mỗi cán bộ, chiến sỹ và người dân hãy cùng nghiên cứu, quán triệt và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 07-CT/TW bằng những việc làm cụ thể, thiết thực trong công tác và cuộc sống hằng ngày.

16/7/26

Xây dựng "lá chắn văn hóa" - Bảo vệ an ninh quốc gia từ gốc

 







Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam sáng ngày 13/7 không chỉ khẳng định vị trí, vai trò của văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn mở ra một tư duy mới về bảo vệ an ninh quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh sức mạnh mềm. 


    Khi các thách thức an ninh ngày càng dịch chuyển sang không gian thông tin, dữ liệu và giá trị, xây dựng “lá chắn văn hóa” trở thành yêu cầu chiến lược nhằm củng cố sức mạnh nội sinh, tăng cường sức đề kháng của xã hội, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và từ gốc.


Văn hóa - nguồn sức mạnh nội sinh của quốc gia


Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, văn hóa luôn là nguồn sức mạnh đặc biệt, tạo nên bản lĩnh và cốt cách của dân tộc Việt Nam. Không chỉ được thể hiện qua những giá trị vật thể, phi vật thể, văn hóa còn kết tinh trong hệ tư tưởng, đạo lý, lối sống, truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí độc lập, tự cường và khát vọng vươn lên của mỗi thế hệ người Việt Nam. Chính những giá trị bền vững ấy đã tạo nên nền tảng tinh thần vững chắc, giúp dân tộc vượt qua chiến tranh, thiên tai, những biến động lớn của lịch sử để bảo vệ độc lập, chủ quyền và xây dựng đất nước ngày càng phát triển.


Thực tiễn cho thấy, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng tiềm lực kinh tế, quốc phòng, khoa học - công nghệ mà còn được quyết định bởi sức mạnh văn hóa và chất lượng con người. Một quốc gia có nền tảng văn hóa vững chắc sẽ tạo dựng được sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin, phát huy tinh thần sáng tạo và huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Ngược lại, sự suy yếu về nền tảng văn hóa có thể làm suy giảm bản lĩnh xã hội, ảnh hưởng đến sự ổn định và khả năng thích ứng trước những thách thức mới.


Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số hiện nay, cạnh tranh giữa các quốc gia không chỉ diễn ra trên lĩnh vực quân sự, kinh tế, khoa học - công nghệ mà ngày càng mở rộng sang lĩnh vực văn hóa, thông tin, truyền thông và hệ giá trị. Sức mạnh mềm của một quốc gia ngày càng được khẳng định thông qua khả năng lan tỏa các giá trị, thu hút sự đồng thuận và tạo dựng vị thế trong cộng đồng quốc tế.


Vì vậy, phát triển văn hóa không chỉ là nhiệm vụ bảo tồn bản sắc dân tộc mà còn là quá trình xây dựng nguồn lực nội sinh, củng cố sức mạnh quốc gia và nâng cao năng lực tự bảo vệ của đất nước. Từ góc nhìn đó, tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về phát triển văn hóa đã đặt ra yêu cầu chuyển hóa các giá trị văn hóa thành động lực phát triển, thành sức mạnh mềm và thành nền tảng quan trọng để bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.


“Lá chắn văn hóa” - tuyến phòng thủ mềm bảo vệ an ninh quốc gia


Trong bối cảnh các nguy cơ an ninh ngày càng mang tính phi truyền thống, “lá chắn văn hóa” được hiểu là hệ thống các giá trị, chuẩn mực, bản sắc và môi trường văn hóa tạo nên sức đề kháng của xã hội trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài và những biểu hiện lệch chuẩn từ bên trong.


Nếu sức mạnh quân sự bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, sức mạnh kinh tế bảo đảm nguồn lực phát triển, sức mạnh công nghệ tạo lợi thế cạnh tranh thì sức mạnh văn hóa bảo vệ nền tảng tinh thần, củng cố niềm tin xã hội và duy trì sự gắn kết của cộng đồng dân tộc.


“Lá chắn văn hóa” được hình thành từ lòng yêu nước, đạo đức xã hội, ý thức thượng tôn pháp luật, trách nhiệm công dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng phát triển đất nước. Đây là những yếu tố tạo nên bản lĩnh để mỗi cá nhân nhận diện đúng - sai, thật - giả, chủ động phòng ngừa trước các thông tin xấu độc, sản phẩm văn hóa phản giá trị và những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội.


Một xã hội có nền tảng văn hóa vững chắc sẽ có khả năng tự điều chỉnh, tự sàng lọc và tự bảo vệ. Khi mỗi gia đình là nơi nuôi dưỡng giá trị tốt đẹp, mỗi cộng đồng là môi trường lan tỏa chuẩn mực tích cực, “lá chắn văn hóa” sẽ trở thành tuyến phòng thủ mềm nhưng bền vững, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia từ gốc.


Kỷ nguyên số đặt ra yêu cầu xây dựng sức đề kháng văn hóa trên không gian mạng


Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI), mạng xã hội và các nền tảng số đang làm thay đổi sâu sắc môi trường an ninh quốc gia. Không gian mạng không chỉ là môi trường giao tiếp, học tập, lao động, sáng tạo mà còn trở thành không gian cạnh tranh về thông tin, nhận thức và giá trị.


Ngày nay, các nguy cơ an ninh không chỉ đến từ những tác động hữu hình mà còn tồn tại dưới dạng thông tin giả, xuyên tạc lịch sử, thao túng nhận thức, kích động cực đoan, truyền bá lối sống lệch chuẩn và các sản phẩm độc hại. Những tác động này có thể làm suy giảm niềm tin xã hội, ảnh hưởng đến sự đồng thuận và nền tảng tinh thần của quốc gia.


Vì vậy, bảo vệ an ninh quốc gia trong kỷ nguyên số không thể chỉ dựa vào công nghệ, pháp luật hay các biện pháp đấu tranh mà cần bắt đầu từ việc xây dựng bản lĩnh văn hóa và năng lực số của mỗi công dân.


Mỗi người dân cần có khả năng tiếp nhận, phân tích, kiểm chứng thông tin; có trách nhiệm trong phát ngôn, chia sẻ trên môi trường mạng. Khi mỗi cá nhân trở thành một “bộ lọc” thông tin có trách nhiệm, xã hội sẽ hình thành khả năng tự phòng vệ trước những nguy cơ phi truyền thống.


Xây dựng con người - nền tảng của “lá chắn văn hóa” từ gốc


Con người là chủ thể sáng tạo, gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa, đồng thời cũng là nhân tố quyết định sức mạnh nội sinh của mỗi quốc gia. Vì vậy, xây dựng “lá chắn văn hóa” trước hết phải bắt đầu từ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có lòng yêu nước, nhân ái, bản lĩnh, trách nhiệm, sáng tạo và khát vọng cống hiến. Đây không chỉ là yêu cầu của sự nghiệp phát triển văn hóa mà còn là nhiệm vụ quan trọng nhằm củng cố nền tảng tinh thần xã hội, nâng cao khả năng tự bảo vệ của đất nước trước những tác động phức tạp trong tình hình mới.


Quá trình xây dựng con người cần được bắt đầu từ gia đình - nơi hình thành nhân cách, nuôi dưỡng tình yêu thương, lòng tự trọng, ý thức trách nhiệm và những giá trị đạo đức đầu tiên. Gia đình là “pháo đài” văn hóa gần gũi nhất, nơi mỗi cá nhân được hình thành nhận thức về truyền thống, lối sống, cách ứng xử và trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước. Trên nền tảng đó, nhà trường giữ vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng tri thức, lý tưởng, đạo đức, ý thức công dân, giúp thế hệ trẻ có bản lĩnh trước những tác động đa chiều của môi trường xã hội hiện đại.


Cùng với gia đình và nhà trường, môi trường xã hội, trong đó có báo chí, văn học, nghệ thuật và các thiết chế văn hóa, có vai trò định hướng nhận thức, lan tỏa những giá trị tích cực, xây dựng lối sống văn minh, tinh thần thượng tôn pháp luật và trách nhiệm cộng đồng.


Trong thời đại số, xây dựng con người còn gắn với xây dựng văn hóa số. Mỗi công dân không chỉ cần năng lực sử dụng công nghệ mà còn phải có khả năng nhận diện thông tin sai lệch, ứng xử có trách nhiệm trên không gian mạng, biết bảo vệ các giá trị đúng đắn và đấu tranh với những nội dung độc hại. Khi mỗi người dân trở thành một “lá chắn” bảo vệ các giá trị tốt đẹp của dân tộc, sức mạnh văn hóa sẽ được nhân lên, tạo nền tảng vững chắc để bảo vệ Tổ quốc từ gốc.


Phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng CAND trong bảo vệ an ninh văn hóa


Đối với lực lượng CAND, xây dựng “lá chắn văn hóa” không chỉ là nhiệm vụ phối hợp với các ngành, các cấp mà còn là nội dung quan trọng trong chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia.


Bên cạnh nhiệm vụ chủ động nắm tình hình, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, không gian mạng để chống phá đất nước, lực lượng CAND còn có vai trò tham mưu xây dựng chính sách về an ninh văn hóa, bảo đảm an ninh thông tin, góp phần xây dựng môi trường xã hội an toàn, lành mạnh.


Cùng với đó, xây dựng văn hóa trong chính lực lượng Công an theo Sáu điều Bác Hồ dạy, đề cao kỷ luật, liêm chính, tinh thần “vì nước quên thân, vì dân phục vụ” là yếu tố quan trọng để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và lực lượng bảo vệ pháp luật.


Tóm lại, xây dựng “lá chắn văn hóa” chính là xây dựng sức mạnh Việt Nam từ gốc. Khi văn hóa trở thành sức mạnh nội sinh, khi mỗi người dân trở thành chủ thể gìn giữ và lan tỏa những giá trị tốt đẹp, đất nước sẽ có nền tảng vững chắc để bảo vệ an ninh quốc gia trong kỷ nguyên số. Phát triển văn hóa vì thế không chỉ là nhiệm vụ gìn giữ bản sắc dân tộc mà còn là quá trình tạo dựng sức mạnh mềm, củng cố thế trận lòng dân và nâng cao năng lực tự bảo vệ của quốc gia, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, hướng tới mục tiêu phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.

Trung tá, TS Hoàng Thị Thúy - Thiếu tá Nguyễn Hoài Nam

Báo CAND

#HSV