5/9/26

Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết 'Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững' do Việt Nam đề xuất

 


Phát biểu giới thiệu Nghị quyết, Đại sứ Đỗ Hùng Việt nhấn mạnh văn hóa tạo nên bản sắc, kết nối cộng đồng, khơi nguồn sáng tạo và đổi mới, đồng thời đóng góp vào sinh kế và phát triển bền vững.


Ngày 4/9, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua nghị quyết "Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững giai đoạn 2027-2036" do Việt Nam đề xuất và thúc đẩy cùng nhóm nòng cốt gồm Cyprus, Italy, Lào, Qatar và Saint Kitts và Nevis, với tổng số 103 nước đồng bảo trợ.


Tại New York, nghị quyết xác định giai đoạn 2027-2036 là Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững, tạo khuôn khổ dài hạn để các quốc gia và cộng đồng quốc tế tăng cường hành động, lồng ghép ngày càng sâu rộng văn hóa vào các chính sách phát triển.


Nghị quyết xác định Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) giữ vai trò đầu mối triển khai Thập kỷ, phối hợp xây dựng các hoạt động, chương trình và kế hoạch hành động cụ thể cùng với các nước thành viên.


Phát biểu giới thiệu nghị quyết trước Đại Hội đồng Liên hợp quốc, Đại sứ Đỗ Hùng Việt, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, nhấn mạnh văn hóa tạo nên bản sắc, kết nối cộng đồng, khơi nguồn sáng tạo và đổi mới, đồng thời đóng góp vào sinh kế và phát triển bền vững.


Theo Đại sứ, thập kỷ quốc tế sẽ tạo khuôn khổ để chuyển từ nhận thức sang hành động, huy động sự ủng hộ chính trị và các nguồn lực, thúc đẩy quan hệ đối tác, chia sẻ tri thức và kinh nghiệm, qua đó đưa văn hóa ngày càng giữ vị trí quan trọng trong chương trình nghị sự phát triển toàn cầu.


    Trong phát biểu, các nước đánh giá cao sáng kiến và khẳng định vai trò thiết yếu của văn hóa đối với phát triển bền vững, thúc đẩy hợp tác, đối thoại và hiểu biết lẫn nhau.


Việc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua sáng kiến khẳng định sự đồng thuận ngày càng sâu rộng của cộng đồng quốc tế về vai trò then chốt của văn hóa trong thực hiện Chương trình nghị sự 2030.


Nghị quyết nhìn nhận văn hóa là một thành tố thiết yếu của phát triển con người; là nguồn của bản sắc, đổi mới và sáng tạo; đồng thời là nhân tố quan trọng thúc đẩy gắn kết và hòa nhập xã hội, xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế bền vững và sự tham gia chủ động của người dân vào tiến trình phát triển.


Từ góc độ phát triển bền vững, Nghị quyết nhấn mạnh sức mạnh của văn hóa trong việc tạo thu nhập, việc làm bền vững và một khu vực kinh tế có sức sống; phát huy giá trị của di sản văn hóa cùng các ngành văn hóa và sáng tạo; đồng thời đóng góp các giải pháp đổi mới cho những vấn đề liên ngành như giáo dục, y tế, bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, công nghệ và môi trường.


Đại Hội đồng Liên hợp quốc cũng tái khẳng định yêu cầu lồng ghép hiệu quả văn hóa vào các chính sách và chiến lược phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, đi đôi với bảo đảm đầu tư công thích đáng cho bảo vệ và phát huy văn hóa.


Đối với Việt Nam, kết quả này là thành quả của quá trình chủ động đề xuất và kiên trì thúc đẩy sáng kiến tại UNESCO và Liên hợp quốc nói chung.


Từ một ý tưởng do Việt Nam khởi xướng, sáng kiến đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi và được phát triển thành khuôn khổ hợp tác của Liên hợp quốc cho cả một thập kỷ, qua đó góp phần khẳng định vai trò, uy tín và dấu ấn ngày càng rõ nét của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đồng thời thể hiện khả năng đóng góp những sáng kiến thiết thực, phù hợp với quan tâm chung của cộng đồng quốc tế.


Theo TTXVN

Báo CAND

Đại sứ Đỗ Hùng Việt, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, phát biểu giới thiệu Nghị quyết. Ảnh: Thanh Tuấn/TTXVN


#HSV 

#HSVDOINGOAI

4/9/26

🇻🇳 VĂN HÓA – TỪ MẠCH NGUỒN DÂN TỘC ĐẾN SỨC MẠNH QUỐC GIA 🇻🇳



🌐 “Văn hóa còn thì dân tộc còn.” Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, văn hóa Việt Nam đã được hun đúc từ lịch sử, truyền thống, lao động và cuộc sống của các thế hệ người Việt. Đó là mạch nguồn bền bỉ nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc, tạo nên bản lĩnh, khí phách và sức mạnh để Việt Nam vượt qua biết bao thử thách.

Văn hóa không phải là những giá trị xa vời, mà hiện diện trong từng gia đình, từng cộng đồng và trong cách mỗi người sống, làm việc, ứng xử với quê hương, đất nước và đồng chí, đồng đội. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nhân nghĩa, thủy chung, cần cù, sáng tạo, ý chí tự lực, tự cường chính là những giá trị đã góp phần làm nên sức mạnh Việt Nam.

🌐 Trong lịch sử dân tộc, mỗi khi đất nước đứng trước thử thách, sức mạnh văn hóa lại được khơi dậy mạnh mẽ. Đó là tinh thần “trên dưới đồng lòng”, là ý chí “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, là truyền thống sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc của biết bao thế hệ. Chính những giá trị tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh to lớn để dân tộc ta bảo vệ độc lập, thống nhất và xây dựng đất nước.

🌐 Ngày nay, trong điều kiện hội nhập quốc tế và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, văn hóa càng giữ vai trò quan trọng. Hội nhập nhưng không hòa tan; tiếp thu tinh hoa nhân loại nhưng không đánh mất bản sắc dân tộc. Bản sắc văn hóa chính là “căn cước” của một quốc gia, là nền tảng để Việt Nam khẳng định vị thế và nâng cao sức mạnh mềm trên trường quốc tế.

🌐 Phát triển văn hóa vì thế không chỉ là bảo tồn di sản, lễ hội, phong tục hay các giá trị truyền thống. Quan trọng hơn là xây dựng con người Việt Nam có bản lĩnh, có lý tưởng, có lòng tự hào dân tộc, có trách nhiệm với cộng đồng và đất nước. Văn hóa phải trở thành sức mạnh nội sinh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế Việt Nam.

🌐 Đặc biệt, trước sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, mỗi cán bộ, chiến sĩ và mỗi người dân cần nâng cao “sức đề kháng” trước những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, lối sống lệch chuẩn; đồng thời chủ động lan tỏa những giá trị tốt đẹp, những câu chuyện đẹp, những hình ảnh đẹp về đất nước, con người Việt Nam. 

🌐 Đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, giữ gìn và phát huy văn hóa còn gắn liền với việc giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới: trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; đoàn kết, kỷ luật; tận tụy, trách nhiệm; gần gũi, gắn bó với Nhân dân; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Mỗi người một hành động, mỗi tập thể một việc làm thiết thực sẽ góp phần làm cho những giá trị văn hóa tốt đẹp được lan tỏa. Giữ gìn văn hóa là giữ gìn cội nguồn; phát huy văn hóa là khơi dậy sức mạnh con người; xây dựng văn hóa là xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc cho quốc gia.

🇻🇳 Từ mạch nguồn ngàn năm của dân tộc, văn hóa Việt Nam đang tiếp tục được bồi đắp trong thời đại mới. Khi truyền thống được kết nối với hiện đại, khi lòng yêu nước được chuyển hóa thành trách nhiệm và hành động, văn hóa sẽ trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển và nền tảng để Việt Nam vững bước tiến vào tương lai.

🇻🇳 VĂN HÓA LÀ CỘI NGUỒN – CON NGƯỜI LÀ TRUNG TÂM – GIÁ TRỊ DÂN TỘC LÀ SỨC MẠNH – TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC LÀ MỤC TIÊU 🇻🇳

3/9/26

TỈNH TÁO TRƯỚC LUẬN ĐIỆU ĐỐI LẬP GIỮA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ TINH THẦN DÂN TỘC

 


Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội (CNXH) là giải phóng giai cấp, giải phóng con người và giải phóng xã hội khỏi áp bức, bóc lột, bất công, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, hoàn toàn thống nhất với tinh thần dân tộc: Đoàn kết, tự chủ, tự tôn, tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Vì thế, âm mưu đối lập giữa CNXH và tinh thần dân tộc Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động đều đi ngược lại ý chí, nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp hiến, hợp pháp của nhân dân Việt Nam, cần phải vạch trần, đấu tranh bác bỏ.


Nhận thức đúng về tinh thần dân tộc và chủ nghĩa xã hội


Tinh thần dân tộc là sự đoàn kết, đồng lòng, giúp nhau vượt qua mọi khó khăn, thử thách; tinh thần độc lập, tự chủ, tự tôn, tự lực, tự cường; khát vọng vươn lên xây dựng đất nước cường thịnh, phồn vinh, hạnh phúc.


CNXH mang bản chất nhân văn, nhân đạo, vì con người, vì một xã hội không còn áp bức, bóc lột, bất công, con người có điều kiện phát triển toàn diện; là xã hội mà con người được sống tự do, nhân ái giữa các cộng đồng; có nhiều điểm tương đồng với truyền thống dân tộc Việt Nam, phù hợp với đặc điểm của dân tộc Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.


Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.


Điều này khẳng định, CNXH thống nhất với tinh thần dân tộc Việt Nam. Thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã chứng minh, nhờ có tinh thần dân tộc kết hợp với mục tiêu CNXH mà dân tộc ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đứng lên đánh đuổi quân xâm lược, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.


Nhận diện âm mưu đối lập giữa chủ nghĩa xã hội và độc lập dân tộc


Tuy nhiên, thời gian qua, với mưu đồ chống phá sự nghiệp cách mạng của nước ta, một số đối tượng thù địch, phản động đã đưa ra luận điệu đối lập CNXH với tinh thần dân tộc. Mục đích là phủ nhận giá trị nhân văn, nhân đạo, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; phá hoại sự nghiệp xây dựng CNXH của dân tộc ta, qua đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.


Âm mưu chống phá từ luận điệu này biểu hiện ở hai khía cạnh.


Thứ nhất, các đối tượng cho rằng, Việt Nam hiện nay chỉ cần độc lập dân tộc, không cần CNXH. Theo “lý sự” của họ, Việt Nam chỉ cần làm cho nhân dân được giàu có, tự do, hạnh phúc, theo chế độ nào cũng được, không cần thiết phải là CNXH. Việt Nam không nên thử nghiệm con đường mà phần lớn các nước đi theo đã thất bại, chỉ nên tập trung vào những mô hình, biện pháp đã được kinh nghiệm lịch sử nhân loại thực hiện thành công.


Thứ hai, đối lập giữa mục tiêu xây dựng CNXH với tinh thần dân tộc. Họ cho rằng, CNXH là bất khả thi vì được “xây dựng từ một hệ thống triết học tư biện” nên không thể dựa vào đó để xây dựng và cải tạo xã hội được. Xã hội tương lai, theo các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác-Lênin, là một xã hội tốt đẹp nhưng “tính chất lãng mạn, hoàn hảo của cái thế giới tương lai” rất khó có thể được xem là một cương lĩnh khả thi cho bất cứ lực lượng chính trị nào muốn xây dựng và "nó không thể thực hiện được ở Việt Nam".


Thực tiễn lịch sử và cách mạng Việt Nam là minh chứng sống động, khoa học


Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đến nay, nhất là những thành quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 4 thập niên đổi mới đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc nêu trên. 


Một là, CNXH và tinh thần dân tộc Việt Nam có mối quan hệ thống nhất với nhau. 


Mô hình CNXH mà chúng ta đang xây dựng là xã hội do nhân dân lao động làm chủ; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển...


Từ khi có Đảng lãnh đạo, tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc được thể hiện ở ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, cả nước đoàn kết, đồng lòng, cùng nhau làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 “chấn động địa cầu” và Đại thắng mùa xuân năm 1975, kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CNXH.


Hai là, đi lên CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng của chính lịch sử dân tộc Việt Nam và phù hợp với xu thế của thời đại.


Vào những năm đầu thế kỷ 20, trước tình cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, nhân dân phải chịu cảnh áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, đã có rất nhiều phong trào yêu nước nổ ra, song tất cả đều lâm vào bế tắc và thất bại. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự bế tắc và thất bại đó, nhưng nguyên nhân sâu xa và chủ yếu là chưa có đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc đúng đắn.


Trong bối cảnh lịch sử ấy, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước, quan sát và tìm hiểu chủ nghĩa tư bản, tìm hiểu cuộc sống của người dân ở các nước thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc đi đến kết luận, cách mạng tư sản là cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng chưa đến nơi, vì cách mạng thành công chỉ đem lại lợi ích cho thiểu số giai cấp, còn đông đảo quần chúng lao động vẫn chịu áp bức, bóc lột. Từ tiếng vang của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Qua nghiên cứu, phân tích một cách thấu đáo, Người đi đến kết luận: Con đường cứu nước giải phóng dân tộc Việt Nam chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản, chỉ có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.


Từ khi ra đời, với đường lối cách mạng đúng đắn là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đứng lên đánh bại thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập, tự do cho dân tộc, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Tiếp đó, Đảng lãnh đạo đất nước thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện 40 năm qua đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 đạt hơn 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần năm 2020; chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021. So với mốc đổi mới từ năm 1986, GDP của Việt Nam tăng từ 4,5 tỷ USD lên hơn 514 tỷ USD, tăng hơn 114 lần; GDP bình quân đầu người từ 74USD lên 5.026USD, tăng gần 68 lần. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện căn bản và toàn diện. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,766 điểm vào năm 2025, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. 


Từ một nước gần như bị "bế quan tỏa cảng" (trước năm 1986), Việt Nam ngày nay đã thiết lập quan hệ ngoại giao rộng rãi trên thế giới, trong đó có tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc; có khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 45 đối tác, là thành viên của 70 tổ chức quốc tế quan trọng và 17 hiệp định thương mại tự do. Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào tối 28-8-2026 tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: “Từ một đất nước chịu nhiều mất mát, hy sinh, nhân dân Việt Nam đã kiên cường giành và giữ vững nền độc lập, thống nhất đất nước qua những thăng trầm của lịch sử; từng bước xây dựng một quốc gia hòa bình, ổn định, phát triển, nhân dân có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc và phát huy quyền làm chủ đất nước, là điểm đến tươi đẹp, an toàn, thân thiện, giàu lòng mến khách của đông đảo nhà đầu tư và bạn bè quốc tế”. Những thành tựu đó đã khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.


Tựu trung, mục tiêu của CNXH là giải phóng giai cấp, giải phóng con người và giải phóng xã hội khỏi áp bức, bóc lột, bất công, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, hoàn toàn thống nhất với tinh thần dân tộc: Đoàn kết, tự chủ, tự tôn, tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Vì thế, âm mưu đối lập giữa CNXH với tinh thần dân tộc Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động đều đi ngược lại ý chí, nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp hiến, hợp pháp của nhân dân Việt Nam, cần phải vạch trần, đấu tranh bác bỏ./.


1/9/26

Đừng để tin giả chạy nhanh hơn sự thật trong thời đại số

 


Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, khi thật-giả ngày càng khó phân biệt, cuộc chiến với  tin giả không còn là câu chuyện của riêng cơ quan quản lý mà trở thành trách nhiệm của cả xã hội.


Chỉ một cú nhấp chuột, tin giả có thể lan tới hàng triệu người, nhưng để sự thật được kiểm chứng đôi khi cần nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày. 


Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, khi thật-giả ngày càng khó phân biệt, cuộc chiến với tin giả không còn là câu chuyện của riêng cơ quan quản lý mà trở thành trách nhiệm của cả xã hội.


Nghị định 328/2026/NĐ-CP vì thế mở ra một “vòng chắn” mới để bảo vệ sự thật, niềm  tin và an toàn trên không gian mạng.


Cuộc chiến bảo vệ sự thật và niềm tin

Theo nhà báo Trần Tiến Duẩn, Tổng Biên tập Báo điện tử VietnamPlus (Thông tấn xã Việt Nam), tin giả hôm nay không còn mang dáng hình của những lời đồn vô danh. Nó có thể khoác lên mình một tiêu đề giật gân, một bức ảnh được cắt ghép tinh vi, một đoạn video tưởng như chân thực, một giọng nói được tạo bằng trí tuệ nhân tạo hay thậm chí là một tài khoản mang danh “chính chủ.”


Chỉ trong vài phút, một thông tin chưa được kiểm chứng có thể vượt qua mọi khoảng cách địa lý, len vào hàng triệu màn hình điện thoại và tác động trực tiếp đến suy nghĩ, cảm xúc, hành vi của cộng đồng.


Đáng lo hơn, khi con người chia sẻ thông tin bằng cảm xúc nhanh hơn bằng lý trí, tin giả không chỉ được lan truyền mà còn có thể biến thành “sự thật” trong nhận thức của một bộ phận công chúng.


Đằng sau mỗi dòng thông tin sai lệch có thể là những hệ lụy rất thật: một cá nhân bị tổn thương danh dự, một doanh nghiệp bị ảnh hưởng uy tín, một cộng đồng hoang mang; thậm chí, những vấn đề liên quan đến an ninh, trật tự, đối ngoại và lợi ích quốc gia cũng có thể bị tác động.


Nhà báo Trần Tiến Duẩn cho rằng: “Việc phòng, chống tin giả không thể chỉ dừng ở việc "xóa một bài viết" hay "chặn một tài khoản," mà phải là một cuộc chiến có tổ chức, có quy trình và có trách nhiệm. Nghị định 328/2026/NĐ-CP đặt vấn đề này trong một khuôn khổ rõ ràng hơn: từ phát hiện thông tin có dấu hiệu giả, sai sự thật, kiểm chứng, xác minh, làm rõ đến gắn nhãn, công bố, cảnh báo, ngăn chặn, gỡ bỏ và xử lý vi phạm. Đáng chú ý, quy định về thời hạn gắn nhãn, công bố, cảnh báo cho thấy yêu cầu cấp thiết phải đưa sự thật đến với công chúng nhanh nhất có thể. Bởi trên không gian mạng, nếu sự thật đến quá muộn, khoảng trống thông tin sẽ lập tức bị tin giả lấp đầy. Và khi niềm tin đã bị tổn thương, việc khôi phục đôi khi khó hơn rất nhiều lần so với việc bảo vệ nó ngay từ đầu.”


Khi khuôn mặt có thể bị giả, niềm tin dễ bị đánh cắp

Thực tế thời gian gần đây cho thấy, cuộc chiến với tin giả đã bước sang một cấp độ mới khi  công nghệ ngày càng phát triển, khiến ranh giới thật-giả trở nên mong manh. Tin giả do AI tạo ra đã len vào những vấn đề thời sự được xã hội đặc biệt quan tâm.


Trong thời điểm mưa lũ tại miền Trung và miền núi phía Bắc diễn biến phức tạp, mạng xã hội xuất hiện những hình ảnh, video do AI tạo dựng, giả cảnh kêu cứu, thổi phồng mức độ tàn phá, dễ kích hoạt tâm lý hoảng loạn và thương cảm của cộng đồng. Đây là minh chứng rõ ràng rằng trong thiên tai, khi nhu cầu thông tin chính xác lên cao nhất, một nội dung giả mạo cũng có thể gây hậu quả thật.


Deepfake là công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) biến chính khuôn mặt và giọng nói của con người thành “công cụ” để đánh cắp niềm tin. Lực lượng Công an liên tục cảnh báo các thủ đoạn giả danh người thân, điều tra viên, cán bộ thuế, thanh tra... bằng cuộc gọi video, hình ảnh và giọng nói được tạo bởi AI, sau đó gây áp lực để nạn nhân chuyển tiền.


Có trường hợp, kẻ gian chỉ cần khai thác những hình ảnh, đoạn video công khai trên mạng xã hội để tạo nên một “bản sao kỹ thuật số” có vẻ chân thực đến mức người nhận cuộc gọi khó nhận ra bất thường. Khi một khuôn mặt có thể bị giả, một giọng nói có thể bị sao chép, điều còn lại để bảo vệ mỗi người chính là sự tỉnh táo.


Bà V.T.Q., chủ một cơ sở kinh doanh văn phòng phẩm trên đường Nguyễn Thái Học, phường Vĩnh Phúc (Phú Thọ), cho biết: “Tôi nhận được một số cuộc gọi từ những người không quen biết. Họ tự xưng là cán bộ của một cơ quan Trung ương và yêu cầu cơ sở chuẩn bị nhiều loại hồ sơ, giấy tờ như giấy phép kinh doanh, giấy tờ liên quan đến điều kiện phòng cháy, chữa cháy, an toàn thực phẩm... Nếu không có, cơ sở kinh doanh sẽ bị phạt và thông  tin này sẽ được phổ biến trên báo chí, trên mạng cho nhiều người biết, ảnh hưởng đến việc kinh doanh. Sau khi nhận ra mình có thể bị lừa, tôi thông báo đã ghi âm các cuộc gọi và sẽ báo cơ quan chức năng để xử lý hành vi đe dọa, lừa đảo. Từ đó, tôi không còn nhận được các cuộc gọi làm phiền,” bà Q. chia sẻ.


Nguy cơ tin giả không chỉ nằm ở những tài khoản vô danh mà còn có thể khoác lên mình dáng vẻ của thông tin chính thống. Thời gian gần đây, các ngành chức năng đã cảnh báo nhiều nội dung giả mạo, trong đó có việc cắt ghép hình ảnh lãnh đạo cơ quan nhà nước, lãnh đạo doanh nghiệp vào khuôn hình báo chí để tạo cảm giác đáng tin; hoặc các video không rõ nguồn gốc lan truyền trên mạng xã hội, gây ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp.


Điều đáng sợ nhất của tin giả thời AI không còn là việc nó “giả đến đâu,” mà là nó có thể trông thật đến mức nào.


Những câu chuyện trên cho thấy chống tin giả hôm nay không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm hay sự cảnh giác thông thường. Xã hội cần một cơ chế đủ nhanh, đủ rõ và đủ sức răn đe để khi tin giả vừa xuất hiện, sự thật đã có thể kịp thời lên tiếng.


Chung tay dựng “lá chắn” thông tin

Muốn tin giả không còn đất sống, cần một “lá chắn” nhiều tầng: cơ quan chức năng phát hiện sớm, xác minh nhanh, công bố minh bạch; các nền tảng số phải phối hợp ngăn chặn, gỡ bỏ; báo chí phải là địa chỉ kiểm chứng đáng tin cậy; còn mỗi người dân phải tự trang bị “sức đề kháng” trước thông tin chưa được xác thực.


Nghị định 328/2026/NĐ-CP đã tạo hành lang cho quy trình này, từ phát hiện, kiểm chứng đến gắn nhãn, cảnh báo, ngăn chặn, gỡ bỏ và xử lý. Đặc biệt, việc thiết lập cơ chế tiếp nhận phản ánh, phối hợp 24/7 với các nền tảng và yêu cầu người dùng không tiếp tay cho thông tin đã được xác định là giả cho thấy cuộc chiến này cần sự vào cuộc đồng bộ.


Nhưng trên hết, mỗi người hãy tập một thói quen rất đơn giản: đừng vội tin, đừng vội giận, đừng vội chia sẻ. Chỉ một vài giây kiểm chứng có thể ngăn một thông tin sai lan tới hàng nghìn người.


Trong kỷ nguyên số, bảo vệ sự thật cũng chính là bảo vệ niềm tin. Nghị định 328/2026/NĐ-CP không chỉ đặt ra những “hàng rào” pháp lý để xử lý  tin giả mà còn gửi đi một thông điệp mạnh mẽ: không thể để tốc độ của  công nghệ vượt qua trách nhiệm của con người.


Từ ngày 5/10/2026, Nghị định 328/2026/NĐ-CP có những quy định chính thức có hiệu lực, hiệu quả của cuộc chiến này sẽ không chỉ được đo bằng số tin giả bị gỡ bỏ mà còn bằng khả năng xã hội nhận diện, phòng ngừa và không tiếp tay cho chúng. Để sự thật không đến sau, mỗi chúng ta hãy bắt đầu từ chính một cú nhấp chuột có trách nhiệm./.


TTXVN

#HSV

28/8/26

Khởi tố đối tượng lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước

 




Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an TP Cần Thơ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam đối tượng lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước.


Tối 28/8, Công an thành phố Cần Thơ cho biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lý Tín Phước (sinh năm 1980, thường trú tại phường Cái Khế) để điều tra về hành vi “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, quy định tại khoản 2 Điều 331 Bộ luật Hình sự.


Trước đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cần Thơ tiếp nhận kiến nghị của Tòa án nhân dân khu vực 1 liên quan đến hoạt động của tài khoản Facebook có tên “Tphuoc Ly”. Trên cơ sở thông tin tiếp nhận, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, làm rõ nội dung và chủ tài khoản.


Kết quả xác minh bước đầu xác định tài khoản Facebook “Tphuoc Ly” do Lý Tín Phước sử dụng. Trong quá trình hoạt động trên không gian mạng, tài khoản này đã đăng tải nhiều nội dung liên quan đến một số cơ quan, tổ chức và cá nhân, trong đó có Tòa án nhân dân khu vực 1, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ và Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ.


Theo cơ quan điều tra, một số nội dung được đăng tải có dấu hiệu sử dụng thông tin, hình ảnh về hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để đưa ra những nhận định, quy kết, xúc phạm danh dự, uy tín của tổ chức, cá nhân có liên quan. Các nội dung này được đăng tải công khai trên mạng xã hội và thu hút sự quan tâm, tương tác của người sử dụng.


Quá trình xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cần Thơ đã phối hợp Phòng An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cùng các đơn vị chức năng tiến hành các biện pháp theo quy định để thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ. Kết quả điều tra bước đầu xác định Lý Tín Phước có liên quan đến việc đăng tải các nội dung nêu trên.


Theo cơ quan Công an, Lý Tín Phước là bị đơn trong vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Phước và Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ, được Tòa án nhân dân khu vực 1 giải quyết theo thẩm quyền. Sau khi không đồng ý với kết quả xét xử, Phước có thực hiện quyền kháng cáo theo quy định nhưng việc thực hiện chưa bảo đảm đầy đủ trình tự, thủ tục.


Trong quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Lý Tín Phước đã thừa nhận việc sử dụng tài khoản Facebook “Tphuoc Ly” để đăng tải các nội dung có liên quan nêu trên. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét nơi ở của Phước, thu giữ một số tài liệu, đồ vật có liên quan để phục vụ công tác điều tra.


TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc 

#HSV 

#HSVPHAPLUAT

24/8/26

Tăng cường bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

 

Bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trong tình hình mới. 


Trong đó, các cấp ủy, tổ chức đảng có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong lĩnh vực tư tưởng. Người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị giữ vai trò then chốt và chịu trách nhiệm cao nhất về bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi được phân công phụ trách. 


Các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng, đặc biệt là các cơ quan trực tiếp tham gia công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước trong toàn bộ quá trình tham mưu, đề xuất, xây dựng và triển khai nhiệm vụ. 


Các lực lượng chuyên trách làm công tác bảo vệ bí mật nhà nước, nhất là lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có vai trò nòng cốt trong quản lý nhà nước, hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra, giám sát và phối hợp xử lý các vấn đề liên quan đến bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 


Cán bộ, đảng viên, những người trực tiếp tham gia công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong thực hiện trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước. 


🌟Để tăng cường bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

✔Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục pháp luật, quy định về bảo vệ bí mật nhà nước trong toàn hệ thống chính trị; đổi mới tư duy và trách nhiệm chính trị của cán bộ, đảng viên. 

✔Hai là, hoàn thiện thể chế về bảo vệ bí mật nhà nước trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

✔Ba là, xây dựng lực lượng tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng theo hướng tinh gọn nhưng đáp ứng được yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước trong bối cảnh tình hình mới.  

✔Bốn là, triển khai đồng bộ, có trọng tâm các giải pháp kỹ thuật – công nghệ, phù hợp với mô hình tổ chức, phương thức hoạt động và yêu cầu bảo mật đặc thù của ban chỉ đạo 35 các cấp.


23/8/26

KHUYẾN CÁO: CẢNH GIÁC BẢN ĐỒ KHÔNG RÕ NGUỒN GỐC, THÔNG TIN SAI LỆCH

 ⚠️ KHUYẾN CÁO: CẢNH GIÁC BẢN ĐỒ KHÔNG RÕ NGUỒN GỐC, THÔNG TIN SAI LỆCH



Qua nắm tình hình tại cơ sở, hiện nay trên địa bàn tỉnh xuất hiện một số điểm bán bản đồ in màu hoặc bản đồ lắp ghép không rõ nguồn gốc, xuất xứ, nhà sản xuất, nhà xuất bản.


Đáng lưu ý, một số sản phẩm có nội dung, màu sắc thiếu chính xác, sai lệch, không phù hợp với công tác tuyên truyền trực quan và giáo dục lịch sử, địa lý.


👉 Khuyến cáo người dân, cán bộ, đảng viên:


* Không mua, bán, sử dụng hoặc treo các loại bản đồ không rõ nguồn gốc, xuất xứ.

* Không chia sẻ, phát tán các sản phẩm bản đồ có thông tin sai lệch.

* Khi phát hiện điểm bán hoặc sản phẩm có dấu hiệu vi phạm, cần kịp thời thông báo cho cơ quan chức năng để kiểm tra, xử lý theo quy định.


Các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh đang được yêu cầu rà soát, kiểm tra các điểm mua bán bản đồ, kịp thời chấn chỉnh và xử lý những trường hợp vi phạm.


🇻🇳 Mỗi người dân hãy chủ động kiểm chứng nguồn gốc, nội dung bản đồ trước khi mua, sử dụng; góp phần bảo đảm thông tin chính xác trong tuyên truyền, giáo dục lịch sử và địa lý.


#CanhGiacThongTin #BanDo #ThongTinChinhXac #BaoVeThongTin

22/8/26

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN CẮT GHÉP PHIM "TRỜI XANH CAO NGUYÊN" ĐỂ KÍCH ĐỘNG "GEN Z NỔI DẬY". Hãy là người sử dụng MXH thông minh và đúng pháp luật.

 



Những ngày gần đây, trên một số trang mạng xã hội của các đối tượng chống phá, phản động xuất hiện các đoạn video ngắn được cắt ghép từ Tập 26 bộ phim “Trời xanh cao nguyên” - tác phẩm đang phát sóng công khai vào khung giờ 21h trên kênh VTV1 của Đài Truyền hình Việt Nam. Bằng việc chèn thêm các dòng chữ mang màu sắc kích động tột độ như “Gen Z Việt Nam đang nổi dậy” hay “Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi”, các đối tượng đang mưu đồ biến một phân cảnh phim ảnh thuần túy thành “bằng chứng” cho cái gọi là sự bất ổn xã hội ngoài đời thực. Đây tuyệt đối không phải là sự nhầm lẫn vô hại hay trò đùa giải trí thông thường, mà là một mưu đồ chính trị, một thủ đoạn “tâm lý chiến” tráo trở nhằm bóp méo hiện thực, kích động tâm lý bất mãn và mưu đồ dàn dựng kịch bản bất ổn trong giới trẻ.


Bản chất của thủ đoạn này nằm ở việc cố tình tạo ra một “bước nhảy logic” vô căn cứ để đánh tráo giữa sản phẩm nghệ thuật hư cấu và hiện thực đời sống. Một cảnh quay dàn dựng đông người hay giương khẩu hiệu trong Tập 26 được thực hiện hoàn toàn theo kịch bản và sự chỉ đạo nghệ thuật của đạo diễn. Tuy nhiên, các đối tượng ngoan cố đã xé lẻ vài giây hình ảnh, gán ghép âm thanh kích động rồi quy chụp đó là “làn sóng đấu tranh đang lan rộng”. Sự tráo trở lên đến đỉnh điểm khi chúng liều lĩnh sử dụng chính sản phẩm truyền hình chính thống phát trên sóng quốc gia VTV1 để chế bản thành “tài liệu phản kháng”. Chúng cố tình lợi dụng việc công chúng nhìn thấy hình ảnh thật trên VTV1 để tạo cảm giác “đã tận mắt chứng kiến”, từ đó dẫn dắt người xem rơi vào cái bẫy khủng hoảng niềm tin giả tạo do chúng dựng lên. Không có số liệu chứng minh quy mô, chúng dùng hình ảnh đám đông trong phim để tạo ấn tượng thị giác; không có thực tế, chúng dùng vài dòng chữ tự chèn để bịa đặt ra cả một câu chuyện.


Việc gán ghép cụm từ “Gen Z Việt Nam đang nổi dậy” vào những thước phim cắt ghép là sự xúc phạm nghiêm trọng đối với bản lĩnh và trí tuệ của thế hệ trẻ Việt Nam. Gen Z hôm nay là thế hệ có tri thức, nhạy bén với công nghệ, giàu lòng tự tôn dân tộc và đang đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước trên mọi lĩnh vực. Tinh thần của một thế hệ được thể hiện qua tri thức, các dự án sáng tạo và hành động dựng xây Tổ quốc, chứ tuyệt đối không thể bị đại diện bởi vài ba clip xô lệch, gia công vụng về mang ý đồ chống phá, xuyên tạc. Kẻ địch đang mưu đồ “trẻ hóa” đối tượng bị lôi kéo, lợi dụng sự nhạy bén của người trẻ để biến họ thành công cụ truyền thông cho những ý đồ đen tối. Nhận định về một thế hệ phải dựa trên dữ liệu thực tế và kiểm chứng khoa học, chứ không thể dựng lên từ trò “gắp lửa bỏ bàn tay” của các đối tượng phản động.


Thật không khó để nhận diện những thủ đoạn đó, bởi ngay trong Tập 26 phát sóng trên kênh VTV1, ngữ cảnh và bản chất của cảnh quay đã hoàn toàn rõ ràng. Một đoạn phim có thể bị cắt xẻ, một dòng chữ có thể bị chèn vào, nhưng sự thật thì không thể bị bóp méo khi công chúng chủ động kiểm tra nguồn gốc phát sóng chính thống. Đứng trước các thông tin có ý đồ xấu độc, mỗi người dùng mạng xã hội, đặc biệt là giới trẻ, cần giữ vững bản lĩnh chính trị và sự tỉnh táo, đối chiếu thông tin và tuyệt đối không chia sẻ, tung hứng cho các bài đăng xuyên tạc. Đập tan mọi âm mưu lợi dụng nghệ thuật để xâm phạm an ninh tư tưởng chính là cách bảo vệ môi trường mạng lành mạnh và khẳng định bản lĩnh thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay.

 #BCĐ35CATQUANGNINH #CADKVANDON

21/8/26

Không thể đánh tráo bản chất của mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa


Đề xuất nghiên cứu, xây dựng và thí điểm mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa đang nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu, các nhà quản lý, cán bộ, đảng viên và đông đảo quần chúng nhân dân.


Đây là hướng tiếp cận mới nhằm cụ thể hóa mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội trong tổ chức và đời sống cộng đồng, phù hợp yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.


Tuy nhiên, trên không gian mạng đã xuất hiện những cách diễn giải thiếu thiện chí, từ coi đây là một "khẩu hiệu mới", sự trở lại của cơ chế tập trung, bao cấp, đến nhận định Việt Nam chỉ "đổi tên" các mô hình quản trị hiện đại. Những cách nhìn này phần nào xuất phát từ việc tách đề xuất khỏi bối cảnh phát triển của Việt Nam, đồng nhất mô hình với hình thức tổ chức và chưa đặt nó trong quá trình phát triển nhận thức lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, để đánh giá đúng chủ trương này, trước hết cần làm rõ bản chất, mục tiêu và cơ sở thực tiễn của mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa đang được nghiên cứu.


Một trong những quan điểm xuất hiện khá nhiều thời gian gần đây cho rằng xã, phường xã hội chủ nghĩa chỉ là sự thay đổi tên gọi hoặc bổ sung một khẩu hiệu chính trị. Cách nhìn này chưa phản ánh đúng bản chất vấn đề. Mục tiêu nghiên cứu không phải xây dựng thêm cấp chính quyền, thay đổi địa giới hay thiết kế lại bộ máy cơ sở, mà là hình thành một mô hình phát triển, trong đó các giá trị xã hội chủ nghĩa được cụ thể hóa bằng chất lượng quản trị, dịch vụ công và đời sống nhân dân.


Sau 40 năm đổi mới, nhận thức lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội không ngừng được bổ sung, phát triển, với những trụ cột quan trọng như kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Những giá trị đó chỉ thật sự có sức sống khi được chuyển hóa thành kết quả cụ thể trong đời sống, để người dân có thể trực tiếp cảm nhận và đánh giá. Vì vậy, xã, phường là không gian quan trọng để kiểm chứng hiệu quả của mô hình phát triển: Dân chủ được thể hiện qua sự tham gia của người dân; Nhà nước pháp quyền qua quản trị minh bạch, thủ tục thuận tiện, cán bộ thực thi đúng pháp luật và có trách nhiệm giải trình; định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế qua việc gắn tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội và cơ hội phát triển cho mọi người. Do đó, giá trị của mô hình cần được đánh giá bằng những thay đổi thực chất trong đời sống nhân dân, thay vì chỉ từ tên gọi hay cách diễn đạt.


Một luận điệu xuyên tạc khác là gắn đề xuất xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa với cơ chế quản lý tập trung, bao cấp trước đổi mới; từ đó cho rằng, Việt Nam đang "đi ngược" tiến trình cải cách. Cách nhìn này đã đồng nhất hai mô hình thuộc những giai đoạn phát triển hoàn toàn khác nhau, bỏ qua những đổi mới căn bản trong tư duy lý luận và thực tiễn phát triển của đất nước.


Thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, đồng thời gắn tăng trưởng với tiến bộ và công bằng xã hội. Vì vậy, xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hiện nay không phải là trở lại phương thức quản lý cũ, mà là tiếp tục đổi mới quản trị cơ sở theo hướng hiện đại, lấy người dân làm trung tâm và đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên số.


Những nội dung được đặt ra cho mô hình mới, như chính quyền số, quản trị dựa trên dữ liệu, cải cách thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến, phát triển kinh tế số, xã hội số, xây dựng cộng đồng xanh, an toàn, văn minh và đánh giá bằng mức độ hài lòng của người dân đều cho thấy rõ định hướng đó. Đây là cách quản trị dựa trên kết quả, đề cao chất lượng phục vụ và trách nhiệm giải trình, khác căn bản với cơ chế quản lý mệnh lệnh, bao cấp trước đây.


Đáng chú ý, mô hình được định hướng nghiên cứu, thí điểm, tổng kết thực tiễn và hoàn thiện trước khi nhân rộng. Cách tiếp cận này phù hợp phương pháp đổi mới dựa trên thực tiễn, coi thực tiễn là cơ sở kiểm nghiệm và hoàn thiện chính sách. Do đó, đồng nhất xã, phường xã hội chủ nghĩa với cơ chế bao cấp không chỉ thiếu cơ sở thực tiễn, mà còn bỏ qua quá trình đổi mới tư duy quản trị của Việt Nam trong nhiều thập niên qua.


Ngoài ra, còn xuất hiện luận điệu cho rằng, các nội dung như chính quyền số, phát triển xanh, cộng đồng thông minh, chỉ số hạnh phúc hay quản trị dựa trên dữ liệu vốn đã được nhiều quốc gia áp dụng; vì vậy, việc xây dựng xã, phường xã hội chủ nghĩa thực chất chỉ là "đổi nhãn" cho các mô hình phương Tây. Nhận định này thực chất đã đánh đồng giữa việc tiếp thu thành tựu chung của nhân loại với sao chép mô hình phát triển.


Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không một quốc gia nào có thể phát triển bằng cách khép kín trước những thành tựu về khoa học-công nghệ và quản trị hiện đại. Việc nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế là yêu cầu khách quan đối với mọi nền quản trị. Điều quan trọng là học hỏi như thế nào, lựa chọn điều gì và vận dụng ra sao để phù hợp điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia. Lịch sử phát triển thế giới cũng cho thấy, hầu hết các quốc gia thành công đều biết chắt lọc tinh hoa của nhân loại, không sao chép nguyên trạng mô hình của bất kỳ nước nào, mà điều chỉnh, sáng tạo và hoàn thiện thể chế trên cơ sở đặc điểm lịch sử, văn hóa, trình độ phát triển và mục tiêu của mình. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó.


Đối với mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa, việc tiếp cận các phương thức quản trị tiên tiến, như chuyển đổi số, quản trị thông minh hay đánh giá bằng dữ liệu không làm thay đổi bản chất của mục tiêu phát triển. Những công cụ ấy chỉ là phương tiện để nâng cao hiệu quả quản trị. Điều tạo nên đặc trưng của mô hình nằm ở hệ giá trị dẫn dắt quá trình phát triển.


Đối với mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa, việc tiếp cận các phương thức quản trị tiên tiến, như chuyển đổi số, quản trị thông minh hay đánh giá bằng dữ liệu không làm thay đổi bản chất của mục tiêu phát triển. Những công cụ ấy chỉ là phương tiện để nâng cao hiệu quả quản trị. Điều tạo nên đặc trưng của mô hình nằm ở hệ giá trị dẫn dắt quá trình phát triển.


Nếu nhiều mô hình quản trị hiện đại trên thế giới chủ yếu hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền hoặc năng lực cạnh tranh của đô thị, thì xã, phường xã hội chủ nghĩa còn đặt trọng tâm vào yêu cầu phát triển bao trùm, bảo đảm công bằng xã hội, chăm lo an sinh, phát huy dân chủ, xây dựng cộng đồng đoàn kết và lấy con người làm trung tâm của mọi chính sách. Thành công của một xã hay một phường không chỉ được đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng hay số lượng dự án đầu tư, mà còn thể hiện thông qua việc người dân có được hưởng môi trường sống tốt hơn, tiếp cận các dịch vụ thiết yếu thuận lợi hơn, có nhiều cơ hội phát triển hơn và cảm nhận rõ hơn chất lượng cuộc sống của mình.


Chính vì vậy, sẽ là phiến diện nếu chỉ nhìn thấy một số công cụ quản trị tương đồng rồi kết luận rằng, Việt Nam đang sao chép mô hình phương Tây. Trong quản trị hiện đại, nhiều phương pháp và công nghệ mang tính phổ quát, nhưng mục tiêu phát triển, hệ giá trị và cách thức tổ chức thực hiện lại phản ánh lựa chọn riêng của từng quốc gia. Điều Việt Nam hướng tới không phải là sao chép một mô hình có sẵn, mà là xây dựng một mô hình phát triển phù hợp điều kiện đất nước, tiếp nhận có chọn lọc thành tựu chung của nhân loại để phục vụ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.


Tiến sĩ PHẠM NGỌC HÙNG


Báo Nhân dân


Ảnh: Phối cảnh khu đô thị đa mục tiêu Thư Lâm nằm trên địa bàn xã Thư Lâm, xã Đông Anh, Hà Nội sau khi hoàn thành.

#HSV 

#HSVXAPHUONGXHCN

Nâng tầm nghiên cứu lý luận, tư vấn chiến lược, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 



Chiều 20/8, tại Hà Nội, Giáo sư, Tiến sĩ Tô Lâm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cùng Đoàn công tác của Trung ương thăm Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và làm việc với lãnh đạo chủ chốt của Học viện.


Phát biểu tại cuộc làm việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao sự chuẩn bị báo cáo nghiêm túc của Học viện; ghi nhận nỗ lực và những đóng góp quan trọng của Học viện, Hội đồng Lý luận Trung ương, các viện trực thuộc, hệ thống trường chính trị cả nước thời gian vừa qua, nhất là tham gia chuẩn bị văn kiện Đại hội XIV của Đảng; tổng kết 40 năm Đổi mới; triển khai các chương trình khoa học trọng điểm…


Nhất trí với định hướng nhiệm vụ thời gian tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, Học viện phải nhìn thẳng vào những hạn chế; đồng thời xác định rõ vị trí, sứ mệnh và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Học viện cần thực hiện đầy đủ, đồng bộ và ngày càng nâng cao chất lượng các chức năng, nhiệm vụ được giao, xứng tầm với trường Đảng Trung ương, trung tâm quốc gia về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu lý luận chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý hành chính, quản lý Nhà nước và quản trị công. Các chức năng phải được kết nối thành một chỉnh thể, tạo sức mạnh tổng hợp về tri thức, lý luận và thực tiễn.


Quán triệt phải đổi mới đồng bộ phương thức hoạt động, tạo chuyển biến rõ về chất lượng và hiệu quả, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, Học viện cần nâng tầm nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tư vấn chiến lược và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; chủ động tổng kết những vấn đề lớn, phát hiện xu hướng mới, nhận diện sớm những vấn đề chưa có tiền lệ, những biến đổi tác động đến đất nước; cung cấp kịp thời luận cứ khoa học, lý luận, thực tiễn tin cậy cho việc hoạch định, hoàn thiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.


Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị xây dựng Đảng bộ và văn hóa trường Đảng tiêu biểu, mẫu mực; xây dựng đội ngũ ngang tầm nhiệm vụ; xây dựng chiến lược nhân lực đến năm 2030, định hướng đến năm 2035; phát triển chuyên sâu, đầu ngành, nhóm nghiên cứu mạnh, giảng viên giỏi, lực lượng kế cận. Cán bộ, giảng viên đi đầu trong học tập suốt đời và nêu gương bằng chất lượng công việc. 


19/8/26

Chào mừng kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2026): Sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam

 



Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta. Thắng lợi ấy đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm và lật nhào ngai vàng phong kiến ngự trị hàng thế kỷ ở nước ta, dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước do Nhân dân lao động làm chủ. Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công là dịp để chúng ta khắc sâu hơn nữa ý nghĩa lịch sử to lớn của những ngày mùa thu năm 1945; phát huy thành quả, kinh nghiệm trong 81 năm qua, tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, đưa đất nước vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng.


Chớp thời cơ "ngàn năm có một”


Cuối năm 1944, đầu năm 1945, cục diện thế giới thay đổi nhanh chóng. Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc với ưu thế áp đảo nghiêng về phe Đồng minh. Tại châu Âu, Hồng quân Liên Xô phối hợp với quân đội các nước Anh, Mỹ, Pháp, Canađa… liên tiếp giành thắng lợi, giải phóng nhiều quốc gia và tiến vào Béclin. Ngày 9-5-1945, phát xít Đức đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh ở châu Âu kết thúc. Tại châu Á - Thái Bình Dương, quân đội phát xít Nhật rơi vào thế bị bao vây, uy hiếp nặng nề. Ngày 8-8-1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, nhanh chóng đánh bại đạo quân Quan Đông, giải phóng vùng Đông Bắc Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. Ngày 14-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh thế giới lần thứ hai chính thức chấm dứt.


Tình hình ấy mở ra một bước ngoặt có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Trung ương Đảng nhận định: Đây là thời cơ “ngàn năm có một” để Nhân dân ta vùng lên giành lại độc lập. Trong khi quân Đồng minh chưa kịp vào Đông Dương làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật, thực dân Pháp đã rắp tâm quay trở lại, tìm cách dựa vào Đồng minh, còn các thế lực khác cũng bắt đầu can thiệp; nếu không chớp lấy cơ hội này, vận hội dân tộc có thể bị bỏ lỡ.


Ngay từ ngày 9-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp khẩn, ra chủ trương phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước rộng khắp. Ngày 12-3-1945, Trung ương ban hành Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, khẳng định: “Đây là thời cơ tốt để Nhân dân ta vùng lên giành độc lập”.


Tháng 4-1945, Trung ương triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam Giải phóng quân. Ngày 16-4, Tổng bộ Việt Minh chỉ đạo thành lập các Ủy ban dân tộc giải phóng từ Trung ương đến địa phương. Đầu tháng 5-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo toàn quốc. Ngày 4-6-1945, Khu Giải phóng Việt Bắc chính thức được thành lập. Từ giữa năm 1945, cao trào kháng Nhật cứu nước lan rộng, phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa từng phần diễn ra mạnh mẽ tại nhiều địa phương trên cả nước.


Khi thời cơ cách mạng đã chín muồi, ngày 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và ngay trong ngày đã ra Quân lệnh số 1, phát động tổng khởi nghĩa trên toàn quốc.


Ngày 16-8-1945, Quốc dân đại hội họp tại Tân Trào thông qua Mười chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, phê chuẩn Lệnh tổng khởi nghĩa, thống nhất Quốc kỳ nền đỏ sao vàng năm cánh, chọn “Tiến quân ca” làm Quốc ca và cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam (tức là Chính phủ Lâm thời cách mạng Việt Nam) do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Cùng thời điểm đó, Người gửi thư kêu gọi toàn dân, nhấn mạnh: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.


Từ ngày 14-8-1945, tại nhiều địa phương, các cấp bộ Đảng và Việt Minh đã chủ động phát động khởi nghĩa trước khi nhận được lệnh chính thức, căn cứ vào tình hình cụ thể và tinh thần Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra ở khắp nơi: từ các huyện, xã vùng đồng bằng Bắc Bộ đến các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa…


Chiều 16-8-1945, theo chỉ đạo của Ủy ban Khởi nghĩa, một đơn vị Giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy xuất phát từ Tân Trào, tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên - mở màn cho chiến dịch quân sự hỗ trợ tổng khởi nghĩa. Cùng lúc, lực lượng vũ trang Chiến khu Trần Hưng Đạo phối hợp đánh chiếm các địa phương như: Hải Ninh, Quảng Yên, Kiến An. Ở miền Trung, lực lượng cách mạng tại Quảng Ngãi chiếm dinh tỉnh trưởng ngay trong đêm 16-8 - chính quyền tay sai sụp đổ không kịp trở tay.


Ngày 18-8-1945, các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam là những địa phương đầu tiên giành được chính quyền tại tỉnh lỵ - tạo khí thế bừng bừng khắp cả nước.


Tại Hà Nội, chiều 17-8-1945, hàng vạn quần chúng từ nội, ngoại thành tham gia mít tinh lớn tại Nhà hát Lớn, rồi tuần hành qua các phố trung tâm, hô vang khẩu hiệu “Ủng hộ Việt Minh!”, “Việt Nam độc lập!”. Ngày 18-8-1945, cờ đỏ sao vàng rực rỡ trên nhiều tuyến phố chính. Đỉnh cao là ngày 19-8-1945: cuộc tổng khởi nghĩa nổ ra với khí thế áp đảo. Các đội tự vệ chiến đấu và quần chúng cách mạng chiếm phủ Khâm sai Bắc Bộ, Sở Cảnh sát, Sở Bưu điện, Trại Bảo an binh…; chính quyền Bảo Đại - Trần Trọng Kim tan rã. Đêm 19-8-1945, chúng ta hoàn toàn làm chủ Thủ đô.


Ở Huế, ngày 20-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh được thành lập. Từ ngày 21-8-1945, hàng loạt cuộc biểu tình thị uy diễn ra, tạo thế áp đảo. Ngày 23-8-1945, hàng vạn người tiến vào thành phố, chiếm các công sở trọng yếu và giành chính quyền trong hòa bình.


Tại Sài Gòn - Gia Định, Xứ ủy Nam Kỳ ấn định ngày khởi nghĩa là 25-8-1945. Sáng hôm đó, các đoàn công nhân, nông dân, thanh niên từ Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho đổ về trung tâm thành phố. Quần chúng chiếm lĩnh Sở Mật thám, Sở Cảnh sát, Bưu điện, nhà ga, nhà máy điện… chính quyền bù nhìn nhanh chóng sụp đổ, chính quyền cách mạng được thiết lập.


Thắng lợi vang dội tại ba đô thị lớn: Hà Nội, Huế, Sài Gòn đã tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ. Từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đất liền đến hải đảo - phong trào khởi nghĩa dâng lên như vũ bão. Tại Côn Đảo - nơi từng được mệnh danh là “địa ngục trần gian”, nơi giam giữ hàng ngàn chiến sĩ cách mạng kiên trung - khi nhận được tin phát xít Nhật đầu hàng và cuộc Tổng khởi nghĩa đang lan rộng trong cả nước, tổ chức Đảng trong nhà tù đã nhanh chóng họp bàn, tổ chức lực lượng, lãnh đạo tù nhân nổi dậy. Tại Phú Quốc, với sự lãnh đạo của tổ chức Việt Minh, tù chính trị cùng quần chúng Nhân dân trên đảo vùng lên lật đổ chính quyền thân Nhật, thiết lập chính quyền cách mạng. Ở nhiều đảo khác như: Lý Sơn, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Hòn Gai, Vân Đồn…, phong trào khởi nghĩa hưởng ứng Tổng khởi nghĩa Tháng Tám cũng diễn ra mạnh mẽ, đồng thời với các địa phương trên đất liền, thể hiện tinh thần yêu nước sục sôi, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng độc lập của toàn dân tộc. Các tổ chức Việt Minh, lực lượng tự vệ và quần chúng yêu nước đã nhanh chóng phát động các cuộc mít tinh, biểu tình, tước vũ khí của lính bảo an, chiếm các công sở và tuyên bố chính quyền về tay Nhân dân.


Chỉ trong vòng 15 ngày, từ giữa đến cuối tháng 8 năm 1945, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn trên phạm vi cả nước. Ngày 30-8-1945, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị, chấm dứt hoàn toàn chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm.


Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố quyền độc lập, tự do, bình đẳng của dân tộc Việt Nam trước thế giới “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam, quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - đánh dấu sự mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc: kỷ nguyên độc lập, tự do và làm chủ vận mệnh đất nước.


Bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là sự kết hợp chặt chẽ giữa thời cơ lịch sử thuận lợi với sự chuẩn bị công phu, bài bản và sự lãnh đạo sáng suốt, linh hoạt của Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.


Trước hết, thắng lợi đó bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn và kịp thời của Đảng. Đường lối cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân mà Đảng xác định phù hợp với nguyện vọng của đại đa số Nhân dân. Đảng đã thể hiện tầm nhìn chiến lược và năng lực tổ chức thực tiễn xuất sắc khi chỉ đạo toàn dân nổi dậy đúng thời điểm, nhanh chóng giành chính quyền trong cả nước với tinh thần: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.


Thứ hai, thắng lợi Cách mạng Tháng Tám là thành quả của quá trình chuẩn bị lâu dài, toàn diện về chính trị, tổ chức, tư tưởng và lực lượng vũ trang. Từ phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, các cuộc vận động Dân chủ, Cao trào kháng Nhật cứu nước đến việc thành lập Mặt trận Việt Minh, tổ chức các đội vũ trang, xây dựng căn cứ địa, mở rộng lực lượng quần chúng… Đảng đã dày công chuẩn bị để sẵn sàng chớp lấy thời cơ. Việc chủ động phát động khởi nghĩa từng phần trước khi tổng khởi nghĩa cũng thể hiện sự nhạy bén và linh hoạt trong chỉ đạo cách mạng.


Thứ ba, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của tinh thần yêu nước, truyền thống bất khuất và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Nhân dân ta, dưới ngọn cờ đoàn kết của Mặt trận Việt Minh, đã nhất tề đứng dậy ở cả ba miền, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, từ đất liền đến hải đảo. Đây là biểu hiện sinh động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, yếu tố nội sinh mang tính quyết định đối với thắng lợi của cách mạng.


Thứ tư, thắng lợi Cách mạng Tháng Tám diễn ra trong bối cảnh quốc tế hết sức thuận lợi. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự thất bại hoàn toàn của phát xít Đức và phát xít Nhật. Đảng ta đã đánh giá đúng thời cơ "ngàn năm có một" và phát động toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước.


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc ta. Thắng lợi ấy đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm, ách thống trị của phát xít Nhật gần 5 năm và lật nhào ngai vàng phong kiến ngự trị hàng thế kỷ ở nước ta, dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước do Nhân dân lao động làm chủ.


Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam, mở đầu kỷ nguyên mới của dân tộc: Kỷ nguyên độc lập - tự do; kỷ nguyên Nhân dân lao động nắm chính quyền, làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh dân tộc; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.


Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta trở thành một đảng cầm quyền, chuẩn bị những điều kiện tiên quyết cho những thắng lợi tiếp theo.


Cách mạng Tháng Tám không chỉ có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử Việt Nam mà còn mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc. Thắng lợi ấy đã cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa và các lực lượng bị áp bức trên thế giới đứng lên đấu tranh vì độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội. Với thắng lợi đó, dân tộc Việt Nam không chỉ giành được độc lập mà còn khẳng định vị thế và con đường phát triển của mình trong dòng chảy của lịch sử thế giới hiện đại.


Kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công là dịp để chúng ta khắc sâu hơn nữa ý nghĩa lịch sử to lớn của những ngày mùa thu năm 1945 - khi dân tộc ta vùng lên giành lấy quyền làm người, làm chủ đất nước. Đó cũng là lời nhắc nhở về trách nhiệm hôm nay: tiếp nối tinh thần bất khuất, khát vọng độc lập - tự do - hạnh phúc của cha ông, hun đúc bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, đổi mới mạnh mẽ và sáng tạo không ngừng, quyết tâm hiện thực hóa khát vọng dựng xây một nước Việt Nam phát triển toàn diện và bền vững trong kỷ nguyên mới.

#HSV

#HSVLICHSU

#CachMangThang8ThanhCong

#QuocKhanh

#ToQuocTrongTim