26/9/26

Việt Nam chú trọng chiến lược ngoại giao đa dạng hóa

 

Trao đổi với TTXVN về bài phát biểu quan trọng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81, Giáo sư, Tiến sĩ Thành Hán Bình, Viện trưởng Viện Nghiên cứu khu vực và quốc gia, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam tại Đại học Công nghiệp Chiết Giang (Trung Quốc) nhận định, quan điểm được đưa ra trong bài phát biểu phản ánh quan điểm chung, thu hút sự quan tâm lớn của quốc tế.


Theo Giáo sư Thành Hán Bình, giới chuyên gia cho rằng chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gần đây tới một số quốc gia và đến New York (Mỹ) tham dự Phiên thảo luận cấp cao cho thấy sự chú trọng của lãnh đạo Việt Nam đối với chiến lược ngoại giao đa dạng hóa và cân bằng nhằm ứng phó những diễn biến phức tạp toàn cầu.


Cách tiếp cận ngoại giao đa dạng này sẽ tạo ra không gian phát triển rộng mở hơn, cho phép Việt Nam xây dựng quan hệ hữu nghị sâu rộng và thúc đẩy quan hệ hợp tác về kinh tế, thương mại với các nước, giúp Việt Nam nâng cao vị thế quốc tế, tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam đăng cai tổ chức Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) vào năm 2027.


Nhận định về 4 điểm chính mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu ra trong bài phát biểu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc, chuyên gia Thành Hán Bình cho rằng, điều này phản ánh quan điểm chung của cộng đồng quốc tế.


Thứ nhất, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh sự hợp tác và lòng tin dựa trên luật pháp quốc tế, nhằm chấn chỉnh tình trạng quản trị toàn cầu thiếu trật tự, đồng thời khẳng định vai trò, vị thế của Liên hợp quốc và tầm quan trọng của việc duy trì uy tín của tổ chức này.


Thứ hai, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề cao các nguyên tắc công bằng, nhân văn và bao trùm, hướng tới việc giải quyết tình trạng thiếu hụt trong quản trị toàn cầu hiện nay.


Thứ ba, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tái khẳng định tầm quan trọng của quản trị công nghệ, đưa ra những cảnh báo kịp thời về các thách thức đạo đức và pháp lý do sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo (AI) mang lại, cũng như những mối đe dọa tiềm tàng đối với nhân loại trong tương lai.


Thứ tư, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định rằng thế giới cần tiếp tục theo đuổi con đường đa phương thay vì đơn phương, cụ thể là nỗ lực xây dựng một thế giới công bằng và bao trùm, gắn liền với khuôn khổ của Liên hợp quốc và dựa trên luật pháp quốc tế.


Cuối cùng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu bật lập trường của Việt Nam: Tôn trọng luật pháp quốc tế, thúc đẩy đối thoại, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, đóng góp vào hòa bình của khu vực và thế giới.


Báo Nhân dân

#HSV

#HSVDoiNgoai

#HSVA1

#HSVTongBiThu

#HSVChuTichNuoc

#HSVTBTCTNToLam

#HSVVietNamHoaKy

#HSVVietNamCanada 

#HSVVietNamLienHopQuoc 

#TuầnlễcấpcaoĐạihộiđồngLiênhợpquốckhóa81

25/9/26

Bảo đảm năng lực vận hành các hệ thống hoạt động ổn định, liên tục và tuyệt đối an toàn

 Bảo đảm năng lực vận hành các hệ thống hoạt động ổn định, liên tục và tuyệt đối an toàn



Sáng 24/9, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong các cơ quan đảng (Ban Chỉ đạo) tổ chức phiên họp lần thứ 5, đánh giá kết quả quý III và triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026. 


Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì phiên họp.


Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo điều hành thảo luận.


Cùng dự có đồng chí Đỗ Văn Chiến, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội và các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và địa phương; các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo.


Thay mặt Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo, đồng chí Võ Thành Hưng, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng báo cáo tóm tắt kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ quý III và triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026.


Phát biểu kết luận phiên họp, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú cơ bản thống nhất với báo cáo và ý kiến thảo luận của các đại biểu. Đồng chí thẳng thắn chỉ rõ một số nội dung chưa đạt yêu cầu, năng lực tổ chức thực thi nhiều nhiệm vụ cấp bách, cốt lõi còn chậm; tỷ lệ người dùng hoạt động trên Hệ thống thông tin Điều hành tác nghiệp mới đạt khoảng 54%; dữ liệu đảng viên còn có sai sót, trùng lặp, chậm đồng bộ. Nhiều hạn chế đã được Ban Chỉ đạo chỉ ra tại kỳ họp sơ kết 6 tháng nhưng chưa được khắc phục…


Giải quyết dứt điểm các nhiệm vụ còn chậm, muộn


Quán triệt chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, phải chuyển mạnh từ tư duy “hoàn thành đầu việc” sang “tạo ra sản phẩm, kết quả và giá trị thực tiễn”, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú yêu cầu Ban Chỉ đạo thống nhất nguyên tắc: nhiệm vụ chỉ được xác nhận hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng, người dùng thực tế, hiệu quả đo đếm được và bảo đảm đầy đủ điều kiện an toàn, an ninh thông tin; không xác nhận hoàn thành nếu mới dừng ở dự thảo, cài đặt, tập huấn hoặc báo cáo tỷ lệ tiến độ.


Theo Thường trực Ban Bí thư, cần thay đổi nhận thức về cách làm ra sản phẩm số; phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn công việc, đúng quy trình nghiệp vụ. Sản phẩm số phải hướng tới tự động hóa; tăng khả năng kế thừa, tự động tổng hợp dữ liệu đã có trên hệ thống, hạn chế tối đa nhập lại thông tin, phát sinh thêm thao tác.


Nhấn mạnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số góp phần giải phóng sức lao động, để cán bộ có thêm thời gian nghiên cứu, tham mưu, cống hiến, đồng chí đề nghị các cơ quan rà soát từng phần mềm, lấy số lượng thao tác, báo cáo, biểu mẫu được cắt giảm, thời gian tiết kiệm được làm thước đo hiệu quả.


Yêu cầu tăng cường kỷ luật thực thi, Thường trực Ban Bí thư nêu rõ, người đứng đầu phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và trực tiếp chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng và kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số của cơ quan, địa phương.


Các cơ quan, đơn vị cụ thể hóa thành nhiệm vụ chi tiết, giao rõ việc, rõ người, rõ tiến độ và kết quả đo đếm được; cập nhật đầy đủ sản phẩm, minh chứng trên Hệ thống. Cán bộ, đảng viên thường xuyên sử dụng các phần mềm, tiện ích số phục vụ công việc, kiên quyết không xử lý văn bản giấy đối với các quy trình đã điện tử hóa.


Kết quả thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số là một trong những tiêu chí để thực hiện công tác đánh giá, xếp loại thi đua, đồng thời gắn với cơ chế xem xét, xử lý trách nhiệm đối với những trường hợp để chậm trễ, không hoàn thành nhiệm vụ.


Đồng chí Thường trực Ban Bí thư yêu cầu, các cơ quan có trách nhiệm hướng dẫn phải làm tốt hơn vai trò của mình. Văn bản hướng dẫn phải ban hành đủ sớm so thời hạn của nhiệm vụ, hướng dẫn từng bước, kèm biểu mẫu, thí dụ cụ thể; vướng mắc của đơn vị, địa phương phải được trả lời trong 5 ngày làm việc. Cơ quan hướng dẫn chậm hoặc hướng dẫn không rõ phải chịu trách nhiệm như cơ quan không hoàn thành nhiệm vụ, không đổ lỗi cho nơi thực hiện.


Hành động quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, tạo chuyển biến thực chất


Về những nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ tại các thông báo, kế hoạch của Ban Chỉ đạo, đồng chí yêu cầu, giải quyết dứt điểm các nhiệm vụ còn chậm, muộn. Đặc biệt, phải hoàn thành 4 nhiệm vụ cốt lõi, cấp bách trước ngày 30/9/2026: ban hành Khung kiến trúc số của cơ quan đảng; Văn phòng Trung ương Đảng phê duyệt điều chỉnh báo cáo nghiên cứu khả thi của Dự án; khẩn trương ban hành đầy đủ quy trình nghiệp vụ lõi, không để ảnh hưởng đến tiến độ chung.


Hoàn thành khắc phục các lỗ hổng về bảo mật và đưa vào vận hành chính thức Trung tâm dữ liệu của cơ quan đảng tại Trung tâm dữ liệu quốc gia; tiến hành cấp phát tài nguyên; ban hành các quy trình nghiệp vụ, hướng dẫn để triển khai trên môi trường chính thức; bảo đảm đủ năng lực vận hành các hệ thống thông tin hoạt động ổn định, liên tục và tuyệt đối an toàn. Nguyên tắc là chỉ vận hành chính thức khi có văn bản xác nhận đủ điều kiện an ninh mạng.


Các cơ quan, địa phương, đơn vị phải thiết lập cơ chế quản trị chất lượng dữ liệu, công bố định kỳ tỷ lệ dùng, thiếu, chậm đồng bộ và trách nhiệm của đơn vị tạo lập dữ liệu; kiên quyết khắc phục tình trạng cấp tài khoản nhưng không sử dụng, hay dùng đồng thời bản giấy và điện tử, hoặc phần mềm có chức năng nhưng không đáp ứng quy trình thực tế.


Về một số nhiệm vụ cụ thể của các ban đảng, các cơ quan, đơn vị, nhà thầu, đồng chí lưu ý, cần phối hợp rất chặt chẽ, tập trung khắc phục triệt để những vướng mắc kỹ thuật mang tính hệ thống của các nền tảng, ứng dụng số. Đối với các phần mềm đang triển khai, thường xuyên ghi nhận ý kiến phản hồi người dùng để cập nhật, vá lỗi, tối ưu hóa hướng tới “dễ dùng, dễ thao tác và ai cũng làm được”.


Các cơ quan chủ quản hệ thống thông tin chuyên ngành khẩn trương hoàn thiện, kiểm thử ở quy mô thực tế trước khi đưa vào vận hành chính thức, không công nhận hoàn thành nếu mới dừng ở dự thảo, cài đặt, tập huấn hoặc báo cáo tỷ lệ tiến độ.


Nhấn mạnh nhiệm vụ bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng nghiêm ngặt, đồng chí Thường trực Ban Bí thư nêu rõ, không đánh đổi an toàn lấy tiến độ, tuyệt đối không chủ quan, lơ là ở bất kỳ công đoạn nào. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, liên tục; không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà là trách nhiệm của từng cấp ủy và mỗi cán bộ, đảng viên.


Văn phòng Trung ương Đảng thường xuyên theo dõi, đôn đốc việc thực hiện của các cơ quan, địa phương bảo đảm tiến độ chung; duy trì báo cáo tiến độ, kết quả thực hiện Kế hoạch 100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn.


Tổ Công tác triển khai chuyển đổi số trong các cơ quan đảng trực tiếp làm việc với các đơn vị chậm tiến độ, không chờ tổng hợp báo cáo định kỳ; đối với các vấn đề vượt thẩm quyền hoặc liên quan nhiều cơ quan không thống nhất được, phải báo cáo ngay Ban Chỉ đạo xem xét, quyết định.


Lưu ý thời gian năm 2026 không còn nhiều, khối lượng công việc còn rất lớn, đồng chí yêu cầu, các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo, người đứng đầu các cơ quan đảng theo chức năng, nhiệm vụ phải trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra hằng tuần, xử lý ngay các vướng mắc thuộc thẩm quyền. Cơ quan Thường trực theo dõi đến cùng, báo cáo thực chất, tham mưu xem xét trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, người đứng đầu.


Các cơ quan, địa phương hành động quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, gắn kết chặt chẽ giữa chỉ đạo và tổ chức thực hiện, tạo chuyển biến thực chất, hoàn thành đúng tiến độ các nhiệm vụ được giao.


Nguồn: Báo Nhân Dân 


23/9/26

Việt Nam và Mỹ tiếp tục hợp tác chặt chẽ trong khắc phục hậu quả chiến tranh

 Việt Nam và Mỹ tiếp tục hợp tác chặt chẽ trong khắc phục hậu quả chiến tranh


Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã tiếp xã giao ông John Noh, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Mỹ.


Theo phóng viên TTXVN tại Mỹ, nhân dịp cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tháp tùng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81, hoạt động song phương tại Mỹ, sáng 21/9 theo giờ địa phương (tối cùng ngày theo giờ Việt Nam), tại New York, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã tiếp xã giao ông John Noh, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Chiến tranh Mỹ.


Bày tỏ vui mừng được gặp Đại tướng Phan Văn Giang, ông John Noh nhấn mạnh Mỹ đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong khu vực và mong muốn tăng cường hợp tác giữa hai nước vì hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực cũng như thế giới; trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ, giúp đỡ tích cực của Bộ Quốc phòng nói riêng và Việt Nam nói chung trong hoạt động tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA); khẳng định Bộ Chiến tranh Mỹ ủng hộ mạnh mẽ và cam kết tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Việt Nam trong lĩnh vực khắc phục hậu quả chiến tranh, coi đây là ưu tiên hàng đầu trong hợp tác quốc phòng song phương.


Đại tướng Phan Văn Giang đánh giá cao việc lãnh đạo Bộ Chiến tranh Mỹ phối hợp tổ chức sự kiện về "Sáng kiến Tìm kiếm người mất tích trong chiến tranh tại Việt Nam” trong khuôn khổ chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao, qua đó khẳng định cam kết tham gia, đóng góp hơn nữa của Mỹ đối với “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sỹ” của Việt Nam; đồng thời khẳng định Việt Nam luôn mong muốn phát triển hợp tác với Mỹ trên cơ sở lợi ích chính đáng của hai bên, đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.


Bày tỏ vui mừng trước sự phát triển tích cực của quan hệ hợp tác quốc phòng song phương Việt Nam-Mỹ, Đại tướng Phan Văn Giang mong muốn thời gian tới, hai bên tiếp tục phối hợp triển khai các nội dung hợp tác đã được thống nhất, tập trung vào các lĩnh vực như: hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh; hợp tác tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt quân nhân của cả Mỹ và Việt Nam trong chiến tranh; Đối thoại chính sách quốc phòng song phương; công nghiệp quốc phòng; an ninh hàng hải; quân y...


Đại tướng Phan Văn Giang đề nghị Mỹ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh, triển khai các chương trình hỗ trợ cộng đồng và xử lý các vấn đề môi trường, qua đó góp phần cải thiện điều kiện sống của người dân tại các khu vực bị ảnh hưởng.


Thông báo về việc Bộ Quốc phòng Việt Nam sẽ tổ chức Triển lãm quốc phòng quốc tế Việt Nam lần thứ 3 tại Hà Nội vào tháng 12/2026, Đại tướng Phan Văn Giang hoan nghênh đoàn lãnh đạo cấp cao Bộ Chiến tranh, Bộ Hải quân và các quan chức cấp cao, doanh nghiệp quốc phòng Mỹ tham gia, trưng bày các trang thiết bị quốc phòng hiện đại, đóng góp vào thành công chung của Triển lãm.


Trước đó cùng ngày, Đại tướng Phan Văn Giang cũng tiếp lãnh đạo các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ./.


Nguồn: TTXVN


22/9/26

Văn hóa với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số

 Văn hóa với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số


Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, văn hóa không thể chỉ được nhìn như một lĩnh vực thụ hưởng thành quả của phát triển, mà những đóng góp của ngành văn hóa đã góp phần nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.


Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, đặc biệt khi chúng ta đang thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, phóng viên báo Tin tức đã có cuộc phỏng vấn PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Đại biểu Quốc hội khóa XVI đoàn TP Hà Nội về văn hóa với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.


Thưa PGS.TS Bùi Hoài Sơn! Ông có đánh giá gì về vai trò của văn hóa trong việc đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng?


Tôi cho rằng, trong mục tiêu tăng trưởng hai con số, văn hóa không thể chỉ được nhìn như một lĩnh vực thụ hưởng thành quả của phát triển, mà cần được nhận diện đầy đủ như một nguồn lực trực tiếp tạo ra tăng trưởng, đồng thời là nền tảng bảo đảm cho tăng trưởng có chất lượng và bền vững. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên.


Để đạt được một mục tiêu rất cao như vậy, chúng ta chắc chắn không thể chỉ dựa vào những động lực tăng trưởng truyền thống, mà phải khơi thông mạnh mẽ các nguồn lực mới, trong đó có sức sáng tạo, tài sản trí tuệ, di sản, bản sắc, công nghiệp văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam.


Điểm rất đáng chú ý của Nghị quyết 80-NQ/TW là đã đặt văn hóa ở một vị thế mới: Không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực lớn, một trụ cột và hệ điều tiết của phát triển nhanh, bền vững. Điều đó có ý nghĩa rất thực chất đối với kinh tế. Văn hóa tạo ra giá trị trực tiếp thông qua điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, quảng cáo, trò chơi điện tử, thời trang, thủ công mỹ nghệ, du lịch văn hóa, kinh tế di sản và nhiều loại hình sáng tạo khác.


Nghị quyết 80-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, đồng thời hình thành 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa. Đây không chỉ là chỉ tiêu của riêng ngành văn hóa, mà là một phần của bài toán tìm kiếm những động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.


Nhưng đóng góp của văn hóa còn sâu hơn những con số doanh thu hay tỷ trọng GDP. Một môi trường văn hóa lành mạnh tạo ra con người có kỷ luật, trách nhiệm, sáng tạo, biết hợp tác và tôn trọng chuẩn mực; văn hóa kinh doanh tốt tạo niềm tin cho thị trường; bản sắc mạnh tạo sức hấp dẫn cho điểm đến, sản phẩm và thương hiệu quốc gia.


Vì vậy, khi nói đến tăng trưởng hai con số, tôi nghĩ điều quan trọng không phải chỉ là tăng nhanh hơn, mà là tăng trưởng bằng năng suất cao hơn, bằng sáng tạo nhiều hơn, bằng những sản phẩm có hàm lượng trí tuệ và bản sắc lớn hơn. Ở góc độ đó, văn hóa vừa tạo ra giá trị kinh tế, vừa tạo ra chất lượng của chính quá trình phát triển.


Việc nâng cao nhận thức của người dân về vai trò, giá trị của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội là rất quan trọng; nhất là việc chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Ông có ghi nhận, đánh giá gì trong việc ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa thời gian qua?


Tôi ghi nhận những chuyển biến khá rõ trong vài năm gần đây. Nếu trước đây ứng dụng công nghệ trong văn hóa chủ yếu được hiểu là số hóa tài liệu, đưa thông tin lên website hay sử dụng mạng xã hội để quảng bá, thì hiện nay chúng ta đã bắt đầu tiếp cận chuyển đổi số theo nghĩa rộng hơn: Công nghệ tham gia vào cả chuỗi sáng tạo, sản xuất, phân phối, quảng bá, trải nghiệm và quản trị văn hóa.


Chúng ta đã thấy nhiều bảo tàng, di tích, không gian văn hóa ứng dụng công nghệ 3D, thực tế ảo, thực tế tăng cường, trình chiếu mapping, thuyết minh thông minh, vé điện tử; các đơn vị nghệ thuật mở rộng khán giả trên nền tảng số; nghệ sĩ và doanh nghiệp sáng tạo sử dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu và các công cụ số trong quá trình sáng tác, sản xuất, truyền thông.


Đáng chú ý hơn, chính sách đang chuyển từ những dự án đơn lẻ sang xây dựng hạ tầng chung. Nghị quyết 80-NQ/TW xác định ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những lĩnh vực đột phá; Nghị định 277/2026/NĐ-CP về hạ tầng văn hóa số đã đặt nền móng cho kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, chuẩn hóa, kết nối và khai thác dữ liệu văn hóa ở quy mô lớn hơn.


Tuy nhiên, tôi cho rằng chúng ta mới đi được những bước đầu. Điểm nghẽn hiện nay không còn chỉ là “có số hóa hay không”, mà là dữ liệu có chuẩn hóa không, có liên thông không, có được khai thác để tạo sản phẩm và dịch vụ mới không, và cuối cùng có tạo ra giá trị cho người dân, nghệ sĩ, doanh nghiệp và nền kinh tế hay không. Một di sản được quét 3D nhưng nằm yên trong máy chủ thì chưa thể gọi là chuyển đổi số thành công. Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi dữ liệu trở thành nguyên liệu cho sáng tạo, giáo dục, du lịch, công nghiệp nội dung, nghiên cứu và kinh doanh.


Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải giải quyết đồng thời những vấn đề mới về bản quyền, quyền đối với dữ liệu, sản phẩm do AI tạo ra, đạo đức công nghệ, an ninh và chủ quyền văn hóa số. Vì vậy, tôi rất kỳ vọng vào sự chuyển dịch từ “số hóa tài sản văn hóa” sang “tạo ra giá trị mới từ tài sản văn hóa số”; từ đầu tư công nghệ đơn lẻ sang xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo văn hóa, trong đó Nhà nước kiến tạo hạ tầng và thể chế, doanh nghiệp tổ chức thị trường, còn nghệ sĩ, nhà sáng tạo và người dân thực sự trở thành chủ thể sáng tạo.


Để nâng cao hiệu quả quảng bá các giá trị thương hiệu văn hóa Việt Nam, theo ông chúng ta cần có mục tiêu, lộ trình, hướng đi nào để đưa văn hóa trở thành một trong những ngành mũi nhọn đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, thưa ông?


Theo tôi, trước hết cần thay đổi cách đặt vấn đề. Chúng ta không thể quảng bá văn hóa theo cách chỉ “giới thiệu những gì mình có”, mà phải tiến tới xây dựng những sản phẩm, biểu tượng và thương hiệu mà thế giới muốn biết, muốn trải nghiệm, muốn mua và muốn chia sẻ.


Tài nguyên văn hóa của Việt Nam rất phong phú, nhưng để tài nguyên trở thành nguồn lực kinh tế và sức mạnh mềm thì phải đi qua một chuỗi chuyển hóa: Từ di sản, câu chuyện, biểu tượng, giá trị văn hóa thành tài sản trí tuệ; từ tài sản trí tuệ thành sản phẩm sáng tạo; từ sản phẩm thành thương hiệu; và từ thương hiệu thành thị trường.


Về mục tiêu, tôi cho rằng cần bám sát các chỉ tiêu của Nghị quyết 80-NQ/TW, đặc biệt là mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và hình thành 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa. Nhưng phía sau những con số ấy phải là một chiến lược lựa chọn có trọng tâm. Việt Nam cần xác định một số lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh để đầu tư đủ lớn, đủ lâu và đủ chuyên nghiệp; hình thành các cụm sáng tạo, doanh nghiệp dẫn dắt, quỹ hỗ trợ, hệ thống đào tạo, cơ chế bảo vệ và khai thác sở hữu trí tuệ, cùng mạng lưới phân phối trong nước và quốc tế.


Về lộ trình, giai đoạn trước mắt cần tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, vốn, đất đai, thuế, bản quyền, dữ liệu, nhân lực và cơ chế hợp tác công - tư; đồng thời hoàn thiện hạ tầng văn hóa số và hệ thống đo lường đóng góp kinh tế của các ngành công nghiệp văn hóa.


Song song với đó phải xây dựng một số sản phẩm và thương hiệu có khả năng trở thành “đầu tàu”, bởi một quốc gia muốn có sức mạnh mềm mạnh thì cần những tác phẩm, nhân vật, lễ hội, bộ phim, sản phẩm thiết kế, trò chơi, không gian sáng tạo hay điểm đến mà khi nhắc tới, công chúng quốc tế có thể nhận ra ngay câu chuyện Việt Nam.


Tôi cũng cho rằng quảng bá văn hóa phải gắn chặt hơn với ngoại giao, du lịch, thương mại, đầu tư và truyền thông quốc gia. Mỗi bộ phim ra thế giới, mỗi nghệ sĩ thành công ở thị trường quốc tế, mỗi sản phẩm thiết kế mang bản sắc Việt Nam, mỗi di sản được kể bằng một ngôn ngữ hiện đại đều có thể trở thành một “đại sứ văn hóa”. Nhà nước cần tạo hành lang và những chương trình xúc tiến đủ mạnh; doanh nghiệp phải nhìn văn hóa như một lĩnh vực đầu tư dài hạn; còn đội ngũ sáng tạo cần được trao nhiều không gian hơn để thử nghiệm, cạnh tranh và vươn ra toàn cầu.


Cuối cùng, phát triển kinh tế từ văn hóa không có nghĩa là thương mại hóa mọi giá trị văn hóa. Điều quan trọng là làm cho giá trị kinh tế và giá trị văn hóa nâng đỡ lẫn nhau. Nếu chỉ chạy theo doanh thu, chúng ta có thể làm nghèo bản sắc; nhưng nếu chỉ bảo tồn mà không tạo ra đời sống mới cho di sản, chúng ta cũng khó phát huy được nguồn lực to lớn đang có.


Tôi nghĩ mục tiêu đúng nhất là biến văn hóa thành một nguồn lực phát triển có khả năng tái tạo: càng được sáng tạo, khai thác đúng cách và lan tỏa rộng rãi thì càng tạo thêm giá trị kinh tế, đồng thời làm giàu hơn bản sắc, niềm tự hào và sức hấp dẫn của Việt Nam. Đó chính là đóng góp đặc thù và lâu dài của văn hóa đối với mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.


Xin trân trọng cảm ơn ông!

Bài: Viết Tôn/Báo Tin tức và Dân rộc

#HSV 

#HSVCongNghiepVanHoa

#HSVPGSTSBuiHoaiSon

19/9/26

Ngăn “lệch chuẩn” trên không gian mạng

 Ngăn “lệch chuẩn” trên không gian mạng

Tác giả: VÂN HÀ

Hàng loạt “giang hồ mạng”, “idol mạng” bị cơ quan chức năng xử lý thời gian qua cho thấy những nội dung lệch chuẩn trên mạng xã hội không chỉ gây tác động tiêu cực đến cộng đồng mà trong nhiều trường hợp còn kéo theo hành vi vi phạm pháp luật. Đáng lo ngại hơn, khi những nội dung này được lan truyền, cổ xúy bằng lượt xem và tương tác, chúng có thể tác động đến nhận thức, hành vi của nhiều người...


Chỉ trong tháng 8-2026, hàng loạt nhân vật được biết đến trên mạng xã hội với danh xưng “giang hồ mạng”, “idol mạng” như Khánh Sky, Vua Quạt, Tế Điên Nam Định, Phạm Tuấn... lần lượt bị cơ quan chức năng khởi tố. Điểm chung là các nhân vật này đều nổi lên nhờ những nội dung gây sốc, tranh cãi, bạo lực hoặc những phát ngôn sai sự thật. Điển hình như vụ việc của Phạm Tuấn cùng ê-kíp của mình tự ý sử dụng hình ảnh cổng trường THPT N.V.C (phường Phù Khê, tỉnh Bắc Ninh) để dàn dựng cảnh học sinh đánh nhau, cưỡng đoạt tài sản tại phòng học, hành lang và gắn tiêu đề “Một ngôi trường ưa bạo lực”, nhằm thu hút tương tác, thu lợi bất chính, gây ảnh hưởng đến uy tín nhà trường, cổ xúy bạo lực học đường.


Khi nội dung lệch chuẩn thu hút lượng tương tác lớn, một số người làm nội dung có thể xem đó là cách để nhanh chóng "nổi tiếng", từ đó tiếp tục vượt giới hạn bằng những phát ngôn xúc phạm, hành vi cổ xúy bạo lực hoặc các màn dàn dựng ngày càng cực đoan, thậm chí nhiều người tìm cách chuyển sự chú ý thành lợi ích kinh tế thông qua quảng cáo, bán hàng, livestream hoặc các hoạt động thương mại khác. “Đây là hệ quả tất yếu của cơ chế vận hành các nền tảng mạng xã hội hiện nay, khi thuật toán phân phối nội dung ưu tiên những gì tạo ra tương tác mạnh, bất kể nội dung đó tích cực hay tiêu cực”, luật sư Hoàng Văn Hướng, Trưởng văn phòng Luật sư Hoàng Hưng, Đoàn Luật sư TP Hà Nội nhận định.


Lợi ích này có thể trở thành động lực khiến họ tiếp tục sản xuất nội dung gây sốc, tạo thành một vòng lặp tiêu cực. Vụ việc của các “giang hồ mạng” như Khánh Sky, Hồ Văn Khoa và Vua Quạt là một thực tế. Bắt nguồn từ mâu thuẫn trên livestream, các đối tượng sử dụng lời lẽ phản cảm, kích động nhằm tăng tương tác. Khi nội dung được nhiều người quan tâm, nhóm người này lại tiếp tục tìm gặp nhau ngoài đời, đẩy xung đột lên cao trào nhằm duy trì sức nóng và thu hút lượt xem. “Về mặt tâm lý, con người thường dễ bị thu hút bởi những nội dung gây sốc, gây tranh cãi hoặc khơi gợi cảm xúc mạnh, bởi chúng kích thích sự tò mò và khiến người xem khó bỏ qua. Mạng xã hội làm cơ chế này được củng cố và tăng cường. Khi chứng kiến những người khoe tiền, phô trương quyền lực, hành xử bất cần vẫn thu hút đông đảo lượt theo dõi, người xem, đặc biệt là trẻ em sẽ dễ lầm tưởng rằng nổi tiếng đồng nghĩa với thành công, càng khác biệt thì càng được chú ý. Điều đáng lo không chỉ nằm ở việc tiếp xúc với những nội dung ấy, mà ở sự thay đổi trong cách đánh giá, dần coi những hành vi ấy là bình thường, thậm chí là đáng ngưỡng mộ”, Thạc sĩ Nguyễn Hạnh Ngân, Giám đốc Trung tâm Tư vấn và Chăm sóc rối nhiễu tâm trí cho biết.


Theo thống kê của Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), trong 6 tháng đầu năm 2026, các cơ quan chức năng đã chặn và gỡ bỏ hơn 117.000 nội dung xấu độc, phản cảm và vi phạm pháp luật trên các nền tảng mạng xã hội. Pháp luật hiện hành đã có chế tài xử lý các hành vi vi phạm trên không gian mạng, tùy tính chất, mức độ, các hành vi có thể bị xử phạt vi phạm hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự. “Trên thực tế xét xử, tôi nhận thấy việc xử lý hình sự với nhóm hành vi này ở Việt Nam thời gian qua chủ yếu tập trung vào Điều 331 về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Còn với các trường hợp thuần túy xúc phạm cá nhân khác thì phần lớn dừng ở xử phạt hành chính theo Nghị định số 174/2026/NĐ-CP, trừ khi người bị hại chủ động khởi kiện dân sự hoặc tố giác hình sự. Do vậy, trên thực tế pháp luật hiện hành đã có công cụ và chế tài để quản lý, nhưng hiệu quả thực thi phụ thuộc nhiều vào việc người bị xâm phạm có chủ động sử dụng quyền của mình hay không”, luật sư Hoàng Văn Hướng đánh giá. Đối với trẻ vị thành niên, Thạc sĩ Nguyễn Hạnh Ngân cho rằng thay vì tìm cách tách trẻ hoàn toàn khỏi mạng xã hội, cha mẹ cũng như nhà trường cần đồng hành, chủ động trang bị cho các em năng lực tự bảo vệ, tư duy phản biện để nhận diện được các nội dung tiêu cực, biết cách ứng xử phù hợp trên môi trường mạng.


Báo QĐND 


Học sinh trải nghiệm giải pháp internet an toàn tại Safegate School Plus 2026 do Viện Nghiên cứu quản lý phát triển bền vững phối hợp với SCS tổ chức. Ảnh: PHƯƠNG LINH 

#HSV 

#HSVKhongGianMang

17/9/26

KIÊN QUYẾT KHẮC PHỤC VIỆC LẤY Ý KIẾN HÌNH THỨC KHI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU LỆ ĐẢNG

 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chỉ đưa vào Điều lệ Đảng những vấn đề đã được tổng kết, kiểm nghiệm; kiên quyết khắc phục việc lấy ý kiến hình thức.


Chiều 16.9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về Tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng (Ban Chỉ đạo) họp phiên thứ hai. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì phiên họp.


Cùng dự phiên họp có Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các Ban tham mưu, giúp việc của Đảng ở Trung ương và một số bộ, ban, ngành.


Phát biểu kết luận phiên họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, chủ động cập nhật những quan điểm định hướng lớn từ ba Nghị quyết dự kiến trình Hội nghị Trung ương lần thứ tư, tập trung vào những vấn đề liên quan trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của Đảng.


Trọng tâm là yêu cầu xây dựng, tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng; hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền và cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; phân định thẩm quyền, trách nhiệm, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm người đứng đầu.


Chỉ nghiên cứu đưa vào Điều lệ Đảng những vấn đề đã được tổng kết, kiểm nghiệm, có tính nguyên tắc, nền tảng, ổn định lâu dài và cần thực hiện thống nhất trong toàn Đảng.


Những nội dung cụ thể hóa phải được đặt đúng cấp độ văn bản. Những vấn đề chưa đủ căn cứ phải tiếp tục nghiên cứu, không chuyển cơ học nội dung nghị quyết vào Điều lệ.


Căn cứ đề xuất phải đủ sức giải thích cả sự cần thiết và tính khả thi của những phương án lựa chọn. Chất lượng tổng kết thể hiện ở khả năng nhận diện đúng vấn đề, lý giải đúng nguyên nhân và đề xuất được hướng xử lý có giá trị lâu dài.


Nghiên cứu phải tập trung vào những vấn đề cơ bản về bản chất của Đảng và đảng viên; hệ thống tổ chức, phương thức lãnh đạo, cầm quyền, kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền; kỹ thuật xây dựng điều lệ và những nguyên tắc, chuẩn mực về chu.yển đ.ổi s.ố trong Đảng.


Từng chuyên đề phải rõ câu hỏi nghiên cứu, dữ liệu đầu vào, phạm vi khảo sát, phương pháp kiểm chứng và cuối cùng phải có sản phẩm đầu ra; phân định cụ thể chuyên đề nền tảng dùng chung, chuyên đề xuyên suốt và các chuyên đề chuyên sâu; xác định phần kế thừa, phần phối hợp và phần trách nhiệm tổng hợp.


Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ, hoàn thiện kế hoạch tổng kết thực tiễn và nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng, bảo đảm đúng lộ trình, rõ sản phẩm và kiểm soát được tiến độ; cần rà soát kỹ từng mốc thời gian, yêu cầu đối với sản phẩm và cơ chế kiểm soát chất lượng.


Mỗi chuyên đề hoặc nhóm vấn đề có tính xuyên suốt phải có đầu mối chịu trách nhiệm tổng hợp, có cơ chế sử dụng dữ liệu và rà soát chéo trước khi đưa vào các báo cáo; kiên quyết khắc phục tình trạng giao việc chung chung, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.


Mọi ý kiến tham gia phải được tổng hợp đầy đủ, trung thực, khách quan, kể cả những ý kiến khác nhau; kiên quyết khắc phục việc lấy ý kiến hình thức, phải bảo đảm tính khách quan; yêu cầu xuyên suốt là phải bám sát thực tiễn và có tầm nhìn dài hạn; từ thực tiễn chỉ ra đúng những vướng mắc, nguyên nhân và hướng xử lý; nhận diện những vấn đề căn bản về tổ chức và hoạt động của Đảng cần nghiên cứu lâu dài.


Điều lệ Đảng phải kế thừa những nguyên tắc đã được lịch sử và thực tiễn chứng minh, đồng thời xác lập khuôn khổ cho tổ chức và hoạt động của Đảng đáp ứng yêu cầu của một Đảng cầm quyền, lãnh đạo đất nước trong giai đoạn phát triển mới./.

Báo Lao động

15/9/26

KHÔNG ĐỂ NHIỆM KỲ CHIA CẮT CHIẾN LƯỢC, KHÔNG ĐỂ ĐỊA GIỚI HÀNH CHÍNH CHIA CẮT LỢI ÍCH QUỐC GIA

 

"Tư duy nhiệm kỳ" và "chủ nghĩa cục bộ địa phương" từ lâu đã là những điểm nghẽn kinh niên cản bước sự phát triển của đất nước. Đó là căn bệnh của những quyết sách "ăn xổi ở thì", cố tạo dấu ấn bề nổi trước mắt nhưng để lại hệ lụy nặng nề cho tương lai là tình trạng vắt kiệt tài nguyên đất đai, khoáng sản để đổi lấy những con số GDP ngắn hạn, là chấp nhận đánh đổi môi trường sinh thái lấy tăng trưởng bằng mọi giá. Nguy hại hơn, tư duy ngắn hạn này còn tạo ra những dự án treo, những khoản nợ công và gánh nặng tài chính bắt thế hệ mai sau phải gánh chịu. Khi một nhà lãnh đạo chỉ nhìn vào cái hạn định 5 năm của nhiệm kỳ, họ sẽ dễ dàng thỏa hiệp với các giải pháp tình thế.


Nếu tư duy nhiệm kỳ "băm nhỏ" chiến lược theo thời gian, thì chủ nghĩa cục bộ lại "chia cắt" lợi ích quốc gia theo không gian địa lý. Ranh giới hành chính suy cho cùng là để quản lý, chứ không phải để biến các địa phương thành những "lãnh địa" khép kín. Thực tế cho thấy sự cạnh tranh phi lý khi tỉnh nào cũng muốn có sân bay, cảng biển, khu công nghiệp riêng đã gây lãng phí nguồn lực khủng khiếp. Rào cản địa giới vô hình trung làm tắc nghẽn các chiến lược liên vùng, từ hạ tầng giao thông đến quản lý nguồn nước. 


Không thể có một đất nước hùng cường nếu mỗi địa phương chỉ chăm chăm giữ "bờ xôi ruộng mật" của riêng mình, thiếu đi sự phối hợp và sẻ chia vì bức tranh lớn của quốc gia. Thông điệp đanh thép này được đưa ra trong một bối cảnh mang tính bước ngoặt: Lớp chuyên đề "Lãnh đạo chiến lược trong kỷ nguyên mới" dành cho các Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIV. Đứng trước các điểm nghẽn lớn về thể chế, yêu cầu của người đứng đầu Đảng và Nhà nước chính là kim chỉ nam cho đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, những người trực tiếp hoạch định chính sách cho giai đoạn tăng tốc hướng tới năm 2030 và 2045. 

Tất cả phải nằm lòng tư duy, mọi quyết sách hôm nay phải chịu trách nhiệm trước lịch sử ngày mai.


Cre: CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

14/9/26

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú chủ trì họp Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Trung ương

 Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú chủ trì họp Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Trung ương



Đặt ra yêu cầu phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Trưởng ban Chỉ đạo 35 Trung ương nhấn mạnh, các cơ quan liên quan phải nắm chắc tình hình, phát hiện, báo cáo để chỉ đạo xử lý nhanh nhất, kịp thời nhất các vấn đề phát sinh.


Sáng 14/9, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương tổ chức cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo, quý III/2026. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì cuộc họp.


Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Phạm Gia Túc, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, thành viên Ban Chỉ đạo và đại diện một số ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương.


Cuộc họp nhằm đánh giá kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong quý III; đồng thời xác định các biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong quý IV.


Tại cuộc họp, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú, Trưởng ban Chỉ đạo 35 Trung ương đánh giá, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong quý III và 9 tháng của năm nay được các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nền nếp, hiệu quả. Trong quý III, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương và Ban Chỉ đạo 35 các cấp đã tích cực triển khai nhiều nhiệm vụ, lãnh đạo, chỉ đạo xử lý nhiều vụ việc phức tạp, nhạy cảm và những vấn đề “nóng” được dư luận xã hội quan tâm, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo đồng thuận xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ.


Trong quý IV, toàn Đảng và hệ thống chính trị tiếp tục triển khai quyết liệt các mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã đề ra, nhất là các mục tiêu về phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội, bảo đảm an sinh cho nhân dân. Cùng với đó, tình hình thế giới, khu vực và các vấn đề thực tiễn đã và đang tác động trực tiếp, tạo ra nhiều thách thức đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.


Trên cơ sở đó, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là Ban Chỉ đạo 35 các cấp tiếp tục phát huy tinh thần chủ động, nắm chắc tình hình thực địa và trên không gian mạng, quyết tâm, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đảng, Nhà nước đề ra.

 

#994

“Đánh tư sản” - một luận điệu xuyên tạc trắng trợn, nguy hiểm

 



Tác giả: HỒ QUANG PHƯƠNG


Hiện nay, một số trang mạng, tài khoản mạng xã hội, nguồn thông tin chống đối, thiếu thiện chí với Việt Nam đang cố tình xuyên tạc việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật của một số doanh nghiệp, doanh nhân là “chiến dịch đánh tư sản”. Họ kêu gọi các doanh nhân, những người có “của ăn, của để” chuyển tài sản từ Việt Nam ra nước ngoài để tránh trở thành mục tiêu “đánh tư sản”. Thực tế trong nước và quốc tế đã chứng minh những luận điệu trên là hoàn toàn sai trái.


Một số luận điểm xuyên tạc về cái gọi là “đánh tư sản” mà các đối tượng xấu đưa ra như: “Bắt giữ doanh nhân lớn chính là chiến dịch đánh tư sản”, “Nhà nước Việt Nam không chấp nhận tư nhân giàu có”, “chống tham nhũng, chống tiêu cực đang trở thành chống kinh tế tư nhân”, “việc thu hồi tài sản của doanh nhân là tước đoạt tài sản tư nhân”. Thậm chí có kẻ còn bóp méo rằng chính sách thuế hiện nay đang là một công cụ để “tịch thu tài sản” của doanh nhân... Sự nguy hiểm của các luận điểm xuyên tạc này là ở chỗ nó có thể gây tâm lý hoang mang rằng “càng làm ăn lớn thì càng dễ gặp rủi ro về chính trị”. Các vụ án kinh tế từ các hành vi vi phạm pháp luật thì lại bị bẻ cong thành “thanh trừng phe nhóm”, “thanh lọc tài phiệt”, dẫn đến những lo ngại mơ hồ rằng chính sách chống tham nhũng đang tạo ra môi trường kinh doanh thiếu an toàn.


Thực tế hoàn toàn ngược lại với những luận điệu bẻ cong, xuyên tạc nêu trên. Đảng, Nhà nước ngày càng trân trọng, đề cao vai trò của doanh nhân, trao tặng các danh hiệu, phần thưởng nhằm tôn vinh những đóng góp của doanh nhân, doanh nghiệp tư nhân đối với sự phát triển của đất nước. Mới nhất, ngày 12-9 vừa qua, doanh nhân Nguyễn Thị Nga, Chủ tịch Tập đoàn BRG, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng quản trị Ngân hàng SeABank đã được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Đây chỉ là một trong rất nhiều doanh nhân được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời gian qua, ví dụ như bà Thái Hương, Chủ tịch Hội đồng Chiến lược Tập đoàn TH, Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Bắc Á; ông Lê Văn Kiểm, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư và Kinh doanh Golf Long Thành; bà Nguyễn Thị Phương Thảo, Chủ tịch Hãng hàng không Vietjet...


Cùng với đó, thời gian qua, Đảng ta có nhiều nghị quyết, chủ trương đề cao vai trò, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nhân, của khối kinh tế tư nhân. Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 về phát triển kinh tế tư nhân, xác định: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Nghị quyết nhấn mạnh việc bảo đảm, bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh và quyền cạnh tranh bình đẳng của kinh tế tư nhân. Đặt mục tiêu đến năm 2030 phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế và có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55-58% GDP, giải quyết việc làm cho 84-85% tổng số lao động.


Trước đó, Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10-10-2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới cũng xác định rất rõ rằng: Đội ngũ doanh nhân có vị trí, vai trò quan trọng, là một trong những lực lượng nòng cốt trong phát triển đất nước. Mục tiêu của Nghị quyết số 41-NQ/TW là xây dựng đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng, chất lượng, có năng lực quản trị, đạo đức, văn hóa kinh doanh và trách nhiệm xã hội.


Những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước đã tạo ra các doanh nghiệp tư nhân lớn của Việt Nam có tiềm lực mạnh cả về vốn, công nghệ, nhân lực, thương hiệu, có khả năng thực hiện những dự án lớn, cạnh tranh quốc tế như Vingroup, Hòa Phát, Vietjet... Trong danh sách của Forbes năm 2026 ghi nhận Việt Nam đã có thêm 3 tỷ phú USD, nâng tổng số tỷ phú USD tại Việt Nam hiện là 8 người. Các tỷ phú đều có xu hướng tài sản tăng thêm. Trong đó, Chủ tịch Vingroup Phạm Nhật Vượng có tài sản lớn nhất với 27,7 tỷ USD, tăng gấp 4 lần so với năm trước. Doanh nhân Phạm Nhật Vượng hiện là người giàu thứ 93 thế giới. Tài sản của doanh nhân Nguyễn Thị Phương Thảo, Chủ tịch Hãng hàng không Vietjet cũng tăng gần gấp đôi, lên 4,2 tỷ USD. Tỷ phú Trần Đình Long, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Tập đoàn Hòa Phát có 2,9 tỷ USD, tăng 500 triệu USD so với năm ngoái.


Như thế có thể thấy rõ rằng, “đánh tư sản” là sự vu khống, xuyên tạc trắng trợn, trong khi thực tế là Đảng đã ban hành các nghị quyết chuyên đề quan trọng để xây dựng và phát huy đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân, coi doanh nghiệp, doanh nhân là lực lượng nòng cốt để thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước, khuyến khích làm giàu chính đáng, đúng pháp luật.


Để cụ thể hóa nghị quyết, chủ trương của Đảng, thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ đã tích cực xây dựng luật pháp, tạo cơ chế, chính sách hướng đến sự phát triển lành mạnh, bền vững của kinh tế tư nhân, với các chính sách hỗ trợ về thuế, phí, lệ phí; chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; tạo điều kiện tiếp cận vốn, đất đai và các nguồn lực; cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.


Có thể thấy, công cụ thuế là công cụ quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của mọi quốc gia. So sánh sơ bộ về chính sách thuế cho thấy, riêng thuế thu nhập doanh nghiệp, Việt Nam hiện thuộc nhóm tương đối cạnh tranh với mức thuế thấp hơn nhiều so với các nước phát triển. Hơn nữa, Việt Nam đang thực hiện chính sách thuế phân tầng theo doanh thu của doanh nghiệp, từ đó để các doanh nghiệp nhỏ được hưởng mức thuế thấp hơn. Cùng với đó, Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách hỗ trợ, cải cách hành chính, đẩy mạnh chống tham nhũng, tiêu cực với mục đích là để cải thiện môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.


Mặc dù tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho sự làm ăn chân chính, sự phát triển lành mạnh, đúng pháp luật của doanh nghiệp, doanh nhân, tuy nhiên, Việt Nam cũng kiên quyết xử lý đối với những hành vi làm ăn gian dối, vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức kinh doanh. Các doanh nhân nắm các doanh nghiệp nghìn tỷ đồng, thậm chí hàng chục nghìn, hàng trăm nghìn tỷ đồng nhưng nếu vi phạm pháp luật cũng đều bị xử lý, thể hiện tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Việc xử lý quyết liệt như vậy là để chấn chỉnh những hành vi lệch chuẩn, thiếu đạo đức kinh doanh, không tuân thủ pháp luật, ngăn chặn những biểu hiện lừa đảo, lũng đoạn nguy hiểm trong một bộ phận doanh nhân, doanh nghiệp, nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe, lợi ích của người tiêu dùng và sự lành mạnh, bền vững của nền kinh tế.


Nhìn ra thế giới, nước nào cũng yêu cầu kinh doanh phải tuân thủ pháp luật và xử lý nghiêm khắc hành vi vi phạm. Tại Mỹ, nhiều doanh nhân, tỷ phú bị bắt và chịu án tù vì vi phạm pháp luật, ví dụ như doanh nhân Bernie Madoff bị kết án 150 năm tù, doanh nhân R. Allen Stanford bị kết án 110 năm tù, nữ tỷ phú công nghệ Elizabeth Holmes bị kết án 11 năm 3 tháng  tù, doanh nhân Bernard Ebbers lãnh đạo WorldCom bị kết án 25 năm tù...


Do đó, có thể thấy việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật là điều đương nhiên của các nhà nước pháp quyền, thượng tôn pháp luật, dù đối tượng là doanh nhân hay bất cứ ai. Không thể vì việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của một số doanh nhân mà lại đánh tráo khái niệm, cho rằng đó là “đánh tư sản”.


Tóm lại, chưa bao giờ doanh nhân, doanh nghiệp tư nhân được đề cao vai trò, được trao gửi niềm tin và có vị thế vững chắc để đóng góp vào quá trình phát triển của đất nước ta như hiện nay. Hiệu quả hoạt động thực tế và những đóng góp của doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn vào sự phát triển của đất nước trong thời gian qua đã là sự khẳng định chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước và đã phủ định tất cả những luận điệu xuyên tạc trắng trợn của kẻ xấu.  


Báo QĐND

Ảnh Minh họa: MẠNH TIẾN

#HSV 

#HSVChongDienBienHoaBinh

11/9/26

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về không gian vũ trụ

 


Sáng 10/9 (giờ địa phương) tại Paris, Pháp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu quan trọng, mở đầu Phiên thảo luận chuyên đề cấp cao về chủ đề “Xây dựng không gian vũ trụ mới vì một thế giới đổi thay nhanh chóng” trong khuôn khổ Hội nghị Thượng đỉnh Không gian vũ trụ. Trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.


Thưa Ngài Emmanuel Macron, Tổng thống nước Cộng hòa Pháp,


Thưa Quý vị đại biểu,


1. Việt Nam đánh giá cao sáng kiến của Tổng thống Macron tổ chức Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về không gian vũ trụ, tạo cơ hội để các quốc gia trao đổi, thúc đẩy định hình một tầm nhìn mới: phát triển năng lực đi đôi với trách nhiệm, lợi ích quốc gia gắn với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế.


2. Không gian vũ trụ ngày nay đã trở thành một phần thiết yếu của đời sống và nền kinh tế hiện đại, với vệ tinh, viễn thám, định vị và dữ liệu không gian phục vụ thông tin liên lạc, giao thông, quản lý tài nguyên, phòng, chống thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu…


Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của các hoạt động không gian cũng đặt ra nhiều thách thức về rác thải vũ trụ, va chạm, quỹ đạo, tần số, quân sự hóa, chiếm hữu, khoảng cách công nghệ và vai trò ngày càng lớn của khu vực tư nhân.


3. Trong bối cảnh đó, chúng ta cần một khuôn khổ quản trị đa phương bảo đảm không gian hòa bình, an toàn, bền vững, dùng chung; thúc đẩy đổi mới, kinh tế vũ trụ và chuyển dữ liệu thành tri thức, dịch vụ, quyết định tốt hơn cho Trái đất, với 5 nguyên tắc:


(1) Giữ gìn không gian vì mục đích hòa bình: đối thoại, xây dựng lòng tin, ngăn ngừa xung đột và chạy đua vũ trang; không đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực;


(2) Đặt con người và phát triển trên Trái đất ở trung tâm; ưu tiên cảnh báo thiên tai, giám sát khí hậu, quản lý tài nguyên và Mục tiêu phát triển bền vững.


(3) Thượng tôn luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, đặt Liên hợp quốc và Ủy ban Liên hợp quốc về Hoạt động Vũ trụ vì Mục đích Hòa bình (COPUOS) ở trung tâm quản trị đa phương về không gian vũ trụ, củng cố vai trò của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU).


(4) Bảo đảm bình đẳng giữa các quốc gia khi tham gia và thụ hưởng thành quả nghiên cứu, công nghệ.


(5) Sử dụng không gian có trách nhiệm, minh bạch, bền vững; giảm rác thải, nguy cơ va chạm.


4. Với Việt Nam, công nghệ hàng không vũ trụ thuộc nhóm công nghệ chiến lược được ưu tiên phát triển; là một cấu phần của năng lực phát triển quốc gia với 3 hướng ưu tiên là:


(1) Nâng cao năng lực tự chủ về công nghệ và dữ liệu không gian;


(2) Phát triển hệ sinh thái kinh tế vũ trụ; khuyến khích các mô hình tài chính cho những ứng dụng phục vụ lợi ích công;


(3) Hoàn thiện thể chế và năng lực quản trị hoạt động không gian, phù hợp với luật pháp quốc tế.


5. Hợp tác quốc tế đã góp phần quan trọng vào tiến trình Việt Nam sử dụng không gian vì người dân, vì hòa bình và vì phát triển. Năm 1980, Phạm Tuân trở thành người Việt Nam và người châu Á đầu tiên bay vào vũ trụ. Việt Nam cũng đã chế tạo, phóng một số vệ tinh nhỏ, phát triển năng lực nghiên cứu, đào tạo, viễn thám và quan trắc phục vụ phát triển bền vững.


Pháp là một trong những đối tác quan trọng của Việt Nam với dự án tiêu biểu VNREDSat-1. Để đưa hợp tác không gian Việt Nam-Pháp sang giai đoạn mới, Việt Nam đề nghị cùng Pháp, Liên hợp quốc, ASEAN và các đối tác nghiên cứu hình thành mạng lưới "Không gian vì Phát triển và Khả năng chống chịu", tập trung vào ba lĩnh vực: (1) chia sẻ và khai thác dữ liệu không gian vì phát triển; (2) nâng cao năng lực bảo đảm không gian an toàn, bền vững; (3) kết nối nghiên cứu-đào tạo-doanh nghiệp-đầu tư để phát triển kinh tế vũ trụ. Mạng lưới có thể trước hết tập trung vào khu vực Đông Nam Á mà Việt Nam sẵn sàng là điểm kết nối.


Thưa Quý vị,


5. Không gian vũ trụ mở ra những chân trời rộng lớn, nhưng thước đo cuối cùng của tiến bộ vẫn là những giá trị mang lại cho con người và Trái đất. Với tinh thần đó, Việt Nam sẵn sàng cùng các quốc gia đưa những kết quả tại hội nghị này thành hành động cụ thể cho hôm nay và các thế hệ mai sau.

Xin trân trọng cảm ơn./.


10/9/26

Cùng xứ sở bạch dương tươi đẹp gìn giữ di sản ký ức, kiến tạo tương lai

 


Với những kết quả tốt đẹp cùng nhiều hoạt động ý nghĩa tại Moskva, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam không chỉ nâng tầm quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước, mà còn khắc sâu thêm tình cảm chân thành, gắn bó bền chặt giữa hai dân tộc.


Tổng thống Vladimir Putin, lãnh đạo và Nhân dân Liên bang Nga đón tiếp Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rất trọng thị với tình cảm nồng hậu, thắm tình hữu nghị. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm xúc động bày tỏ: Nước Nga có vị trí đặc biệt trong trái tim của người dân Việt Nam. Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam luôn trân trọng, ghi nhớ sự ủng hộ to lớn, sự giúp đỡ chí nghĩa, chí tình và hợp tác hiệu quả mà Nhân dân Liên Xô trước đây, Nhân dân Nga ngày nay đã dành cho Việt Nam.


Được xây dựng trên nền tảng tin cậy chính trị sâu sắc cùng tình cảm thủy chung, trong sáng và sự đồng cảm giữa hai dân tộc từng trải qua nhiều thử thách của lịch sử, mối quan hệ giữa hai nước đã vượt qua thời gian và hoàn cảnh chính trị đặc biệt, không ngừng vun đắp ngày càng bền chặt.


Đây là chuyến thăm đầu tiên ở cấp Nhà nước tới Liên bang Nga của Người đứng đầu Đảng, Nhà nước Việt Nam kể từ năm 1991, diễn ra trong bối cảnh quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Nga đã đạt được những bước phát triển tích cực, thực chất và toàn diện; hợp tác kinh tế-thương mại trở thành lĩnh vực tiên phong, hợp tác quốc phòng-an ninh là trụ cột chiến lược, hợp tác năng lượng-dầu khí là đột phá chiến lược, khoa học, công nghệ, giáo dục là động lực để đưa quan hệ giữa hai nước lên tầm cao mới.


Với những kết quả tốt đẹp cùng nhiều hoạt động ý nghĩa tại Moskva, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam không chỉ nâng tầm quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước, mà còn khắc sâu thêm tình cảm chân thành, gắn bó bền chặt giữa hai dân tộc.


Moskva đang vào thu với ánh nắng óng ả tôn lên vẻ rực rỡ của cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và làm nổi bật nét tráng lệ của những công trình kiến trúc, tượng đài nổi tiếng, biểu tượng của nước Nga vĩ đại. Mùa thu nơi đây ấn tượng bởi những sắc vàng đã đi vào thơ ca, âm nhạc và hội họa, chiều sâu ký ức của biết bao thế hệ đã bồi đắp nên “tâm hồn Nga”. Mùa thu còn có ý nghĩa đặc biệt đối với cả hai đất nước. Lịch sử hai dân tộc có nhiều điểm giao thoa sâu sắc, gắn với những giá trị chung về độc lập, tự do và hòa bình. Việt Nam vừa kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công - cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Nga sắp kỷ niệm 109 năm Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, làm rung chuyển cả thế giới.


Trên hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã có nhiều hoạt động quan trọng tại Liên Xô (nay là Liên bang Nga) và dành tình cảm sâu sắc, bền chặt với đất nước, con người nơi đây. Người đã đặt nền móng cho tình hữu nghị giữa Việt Nam và Liên bang Nga. Những năm tháng khó khăn nhất trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Việt Nam luôn nhận được sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa của bạn. Cho đến nay, các chuyên gia, giáo sư, kỹ sư, bác sĩ đã làm việc và giúp đỡ Việt Nam hay các cán bộ, chuyên gia, nhà khoa học, văn nghệ sĩ Việt Nam được đào tạo ở Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay vẫn luôn gìn giữ trong tim những ký ức đẹp về quê hương, đất nước của nhau.


Ngay khi Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đến Moskva, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có cuộc tiếp đại biểu Hội Cựu chiến binh Nga và Hội Hữu nghị Nga-Việt. Dù tuổi cao, sức đã yếu, nhưng với tình cảm đặc biệt dành cho đất nước và Nhân dân Việt Nam, các đại biểu không quản đường xa để đến với cuộc gặp thân mật. Không khí cuộc gặp sôi nổi và ấm áp với ký ức đẹp của những người đồng chí, người bạn đã từng làm việc ở Việt Nam, giúp đỡ Việt Nam. Các đại biểu chia sẻ về những hoạt động đang triển khai hiện nay của hai hội đều chủ yếu hướng tới đối tượng thanh niên, học sinh, sinh viên nhằm giáo dục tư tưởng, truyền thống và bồi đắp tình cảm, trách nhiệm với quê hương đất nước, với tình hữu nghị bền chặt giữa hai quốc gia.


Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm xúc động nhấn mạnh, thanh niên là lực lượng kế thừa và viết nên những chương mới trong quan hệ Việt Nam-Liên bang Nga. Hai bên cần tạo thêm nhiều cơ hội để thế hệ trẻ hai nước hiểu nhau hơn, để những giá trị tốt đẹp của tình hữu nghị truyền thống được gìn giữ, tiếp tục được bồi đắp trong điều kiện mới, sống mãi với thời gian.


Những ngày ở Moskva, Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã dự một chương trình rất ý nghĩa khai trương “Không gian Di sản và Kết nối văn hóa Việt-Nga”. Mỗi hình ảnh, hiện vật được giới thiệu tại chương trình đều lưu giữ một phần ký ức chung, kể lại câu chuyện về tình hữu nghị, sự đồng hành, những giá trị nhân văn đã gắn kết nhân dân Việt Nam với Nhân dân Nga qua nhiều thế hệ.


Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho rằng, không gian này là nơi gặp gỡ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, giữa di sản và sự sáng tạo, giữa ký ức lịch sử và khát vọng kỷ nguyên hợp tác mới; đồng thời khẳng định, tình hữu nghị chỉ thật sự bền vững khi được truyền lại bằng những trải nghiệm chân thành, sinh động và gần gũi với các thế hệ kế tiếp. Đó cũng chính là cách tốt nhất để kế thừa di sản của các thế hệ đi trước, làm mới sức sống của quan hệ hai nước và đưa hợp tác văn hóa, giao lưu nhân dân trở thành một động lực chiến lược của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Liên bang Nga trong giai đoạn mới.


Trong khuôn khổ chuyến thăm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã hội đàm với Tổng thống Vladimir Putin và hội kiến với các nhà lãnh đạo Nga. Lãnh đạo hai nước khẳng định quan hệ hữu nghị truyền thống đã được thử thách qua thời gian, luôn đứng vững trước mọi biến động của thời đại, là tài sản quý báu của nhân dân hai nước.


Hai bên quyết tâm định vị lại, nâng tầm quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, đáp ứng lợi ích và chiến lược phát triển của mỗi nước, đồng thời đóng góp tích cực cho hòa bình, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới. Các nhà lãnh đạo đã trao đổi sâu rộng, toàn diện, thực chất về tầm nhìn và những phương hướng lớn để làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam-Liên bang Nga trong kỷ nguyên mới, chia sẻ quan điểm về các vấn đề quốc tế và khu vực mà hai nước cùng quan tâm.


Thời gian tới, Việt Nam và Liên bang Nga phấn đấu đưa kim ngạch thương mại song phương sớm đạt 15 tỷ USD vào năm 2030; đưa khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trở thành trụ cột và động lực chính của quan hệ song phương. Hai bên sẽ mở rộng nghiên cứu chung, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, công nghệ sinh học, vật liệu mới, lượng tử, công nghệ vũ trụ và tự động hóa. Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 là dự án chiến lược, có ý nghĩa lâu dài và là biểu tượng mới của quan hệ Việt Nam-Liên bang Nga. Hợp tác giáo dục-đào tạo, y tế, văn hóa, du lịch, lao động và giao lưu nhân dân tiếp tục được mở rộng, qua đó củng cố nền tảng xã hội vững chắc cho quan hệ hai nước.


Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cảm ơn và đề nghị Chính phủ Liên bang Nga tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng người Việt Nam sinh sống, học tập, làm việc, hội nhập sở tại và phát huy vai trò cầu nối hữu nghị giữa hai nước. Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia.


Gần 80.000 người Việt Nam đang sinh sống, học tập, làm việc tại Nga, trong đó các nhà khoa học, chuyên gia, trí thức người Việt Nam với kiến thức, kinh nghiệm và mạng lưới hợp tác quý báu của mình, là lực lượng tiên phong kết nối tri thức, khoa học, công nghệ và các sáng kiến hợp tác mới, đồng thời gắn kết ký ức với hiện tại và tương lai, đóng góp tích cực cho sự phát triển của hai nước, cũng như cho mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc.


Với tinh thần luôn trân trọng, kế thừa di sản của các thế hệ đi trước, vun đắp hiện tại và cùng nhau kiến tạo tương lai, Việt Nam và Liên bang Nga tiếp tục cùng nhau tạo nên những thành quả hợp tác mới, vì lợi ích của Nhân dân hai nước, vì hòa bình, hợp tác và phát triển để tình bạn giữa hai quốc gia mãi mãi là di sản vô giá.


HẠNH NGUYÊN 

#HSV