3/11/26

Vị thế, uy tín Việt Nam gia tăng trên trường quốc tế bác bỏ luận điệu xuyên tạc về đường lối đối ngoại của Đảng

 


Tác giả: Tiến sĩ NGUYỄN VĂN THI, Khoa Công tác Đảng, công tác Chính trị, Học viện Chính trị


Trong bối cảnh thế giới tiếp tục biến động phức tạp, bất ổn, khó lường, Việt Nam tiếp tục kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; chủ động, tích cực hội nhập; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; kết hợp chặt chẽ giữa hợp tác và đấu tranh; lấy lợi ích quốc gia-dân tộc và hòa bình, ổn định làm thước đo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Đồng thời kiên quyết đấu tranh với các thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc về đường lối đối ngoại của Đảng.


1. Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, không một quốc gia nào có thể phát triển bền vững nếu tự cô lập mình ra khỏi thế giới; nhưng cũng không thể bảo vệ lợi ích lâu dài nếu làm mất tính độc lập, tự chủ trong hoạch định chính sách chiến lược phát triển của quốc gia.


Nhận thức sâu sắc điều đó, từ khi thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng tạo, thích ứng với thời cuộc. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”.


Mục tiêu đường lối đối ngoại của Đảng là bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc; hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; chủ động đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển trên tinh thần là bạn, đối tác tin cậy, thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Phương châm đối ngoại là tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc chủ động ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tranh thủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài cho phát triển đất nước.


2. Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị luôn tìm cách xuyên tạc bản chất, mục tiêu và phương thức thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Các đối tượng chống phá cho rằng, Việt Nam “không thực sự độc lập về đối ngoại”, “Việt Nam tham gia sâu vào các cơ chế quốc tế đồng nghĩa với phụ thuộc, đánh mất chủ quyền”; “chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam là “không có chính kiến”; thậm chí họ cho rằng Việt Nam kiên trì giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình là thể hiện sự “yếu thế”, “nhân nhượng”.


Những luận điệu xuyên tạc đó đều không có cơ sở khoa học, trái với những gì diễn ra trong thực tế ở Việt Nam nên cần phải vạch trần, đấu tranh bác bỏ.


Trước hết, cần khẳng định rằng độc lập, tự chủ là khả năng tự quyết định những vấn đề thuộc về lợi ích quốc gia-dân tộc, không để quốc gia khác áp đặt, chi phối; đồng thời chủ động xác định phương thức quan hệ với các nước phù hợp với lợi ích của mình. Độc lập, tự chủ không có nghĩa là đóng cửa hay tự cô lập. Nhất là trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, một quốc gia càng có năng lực hội nhập, càng có nhiều quan hệ đối tác và càng tham gia hiệu quả vào các cơ chế đa phương thì càng có thêm điều kiện để bảo vệ, thúc đẩy lợi ích của đất nước mình.


Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rất rõ mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế: Độc lập, tự chủ là cơ sở để hội nhập chủ động, còn hội nhập hiệu quả góp phần củng cố năng lực độc lập, tự chủ của đất nước. Việc xử lý mối quan hệ này phải đặt lợi ích quốc gia-dân tộc lên hàng đầu, đồng thời phù hợp với luật pháp quốc tế và các nguyên tắc ứng xử chung của Liên hợp quốc. Việc đa phương hóa, đa dạng hóa giúp Việt Nam mở rộng không gian hợp tác, giảm thiểu nguy cơ phụ thuộc, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và tăng khả năng thích ứng trước những biến động quốc tế. Điều đó thể hiện rõ trong việc Việt Nam chú trọng phát triển quan hệ với các đối tác khác nhau, tham gia các cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu như: ASEAN, Liên hợp quốc, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)...


Những thông tin, ý kiến xuyên tạc chính sách hòa bình của Việt Nam thể hiện sự “yếu thế”, “nhân nhượng” là cách nhìn võ đoán, phiến diện. Thực tế cho thấy, trong quan hệ quốc tế, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia đòi hỏi sự tổng hợp của nhiều công cụ: Ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng, an ninh, văn hóa, truyền thông,... Trong đó, sử dụng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế là cách thức quan trọng nhằm kiểm soát bất đồng, hạn chế nguy cơ xung đột và tạo điều kiện để giải quyết vấn đề phức tạp một cách hiệu quả, bền vững, có lý có tình. Một quốc gia có bản lĩnh không lựa chọn đối đầu mà luôn biết xác định đúng lợi ích chính đáng và biết cách sử dụng phù hợp các công cụ để bảo vệ lợi ích đó.


Một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam cũng không nhất thiết phải lựa chọn giữa “theo bên này” hoặc “theo bên kia”. Với Việt Nam, lựa chọn đúng đắn nhất chính là tăng cường quan hệ với nhiều đối tác và chủ động tạo dựng thế cân bằng chiến lược phù hợp với lợi ích quốc gia-dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra nguyên tắc xử lý hài hòa lợi ích quốc gia với các lợi ích chung, phù hợp với luật pháp quốc tế; quan tâm giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Điều này đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 72 năm Ngày Bác Hồ về thăm Đền Hùng (19-9-1954 / 19-9-2026) và khánh thành Tượng đài “Bác Hồ với ngày hội non sông” tổ chức tại tỉnh Phú Thọ ngày 19-9-2026: “Đã trải qua nhiều hy sinh để giành độc lập, dân tộc Việt Nam hiểu sâu sắc giá trị của hòa bình. Chúng ta kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Giữ vững hòa bình để xây dựng đất nước và đóng góp có trách nhiệm cho cộng đồng quốc tế là lợi ích, nguyện vọng của nhân dân ta”.


3. Đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy, nhờ có đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với xu thế thời đại, biết cách khơi dậy sức mạnh dân tộc với phát huy sức mạnh thời đại, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.


Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Công tác đối ngoại đã góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; giải quyết được nhiều vấn đề về biên giới trên bộ và trên biển với các nước có liên quan, góp phần củng cố hòa bình, ổn định trong khu vực”. Từ một đất nước không có sự thừa nhận quốc tế, đến tháng 9-2026, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, trong đó có tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc; có khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 45 đối tác, là thành viên của 70 tổ chức quốc tế quan trọng và 17 hiệp định thương mại tự do. Thành quả đó có sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của bạn bè quốc tế, nhân dân thế giới đã dành cho Việt Nam.


Vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế cũng được bạn bè quốc tế ghi nhận. Chia sẻ tại Lễ kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tổ chức vào tối 28-8-2026, tại Hà Nội, ngài Raúl Juan Pollak Giampietro, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Đông Uruguay tại Việt Nam khẳng định: Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ đối với những giá trị chung về hòa bình, hợp tác, chủ nghĩa đa phương và phát triển bền vững, đồng thời có những đóng góp quan trọng đối với an ninh quốc tế, nổi bật là việc tích cực tham gia đàm phán Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội).


Ngày 4-9 vừa qua, tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 80 đã thông qua Nghị quyết phát động và tuyên bố giai đoạn 2027-2036 là “Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững”. Đây là sáng kiến đầu tiên có quy mô lớn nhất do Việt Nam khởi xướng tại Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO). Sáng kiến của Việt Nam được thông qua không chỉ minh chứng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Đảng, Nhà nước Việt Nam là đúng đắn, mà thành công này cho thấy Việt Nam có những đóng góp thiết thực vì lợi ích chung của nhân loại, qua đó tiếp tục khẳng định, nâng tầm vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.


Từ bài học kinh nghiệm thực tiễn trong thực hiện đường lối đối ngoại sau 40 năm đổi mới, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác định: “Tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”. Quan điểm này thể hiện tư duy, tầm nhìn mới của Đảng về vị thế, vai trò của đối ngoại trong thời đại toàn cầu hóa, qua đó khẳng định sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc không chỉ bằng sức mạnh nội lực quốc phòng, an ninh trong nước mà còn bằng uy tín quốc tế, bằng các quan hệ đối tác chiến lược, bằng uy tín, vị thế, sức mạnh mềm của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.


Trong bối cảnh thế giới tiếp tục biến động phức tạp, bất ổn, khó lường, Việt Nam tiếp tục kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; chủ động, tích cực hội nhập; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; kết hợp chặt chẽ giữa hợp tác và đấu tranh; lấy lợi ích quốc gia-dân tộc và hòa bình, ổn định để làm thước đo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Đó cũng là cơ sở để Việt Nam chủ động thích ứng với thời đại, không ngừng củng cố, nâng cao vị thế quốc tế và kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, tạo cơ sở để xây dựng, phát triển đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Báo QĐND 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81, ngày 22-9-2026. Ảnh: qdnd.vn

#HSV 

#HSVChongDienBienHoaBinh

2/11/26

Không để khoảng cách số làm hạn chế quyền dân chủ của người dân

 


Ủng hộ việc ứng dụng nền tảng số trong thực hiện dân chủ cơ sở, các đại biểu Quốc hội đề nghị làm rõ quy trình số liên thông, phân định rạch ròi giữa công khai thông tin, lấy ý kiến và biểu quyết trực tuyến; bảo đảm các giải pháp hỗ trợ người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số để không ai bị bỏ lại phía sau trong kỷ nguyên số.


Sáng 30/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Doãn Anh, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi).


Bảo đảm khả năng kiểm chứng và xử lý sự cố đối với kết quả điện tử

Góp ý kiến vào dự thảo Luật, đại biểu Thạch Phước Bình (Đoàn Vĩnh Long) nhấn mạnh thực hiện dân chủ ở cơ sở trên nền tảng số là vấn đề mới, có ý nghĩa lâu dài, vì vậy việc bổ sung phương thức số là cần thiết.


Tuy nhiên, để bảo đảm rõ ràng và thống nhất khi thực hiện, đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 4, Điều 7 nguyên tắc: "Việc thực hiện dân chủ trên nền tảng số không được làm mất hoặc hạn chế quyền của người dân được lựa chọn các hình thức tham gia dân chủ khác theo quy định của pháp luật".


Dự thảo Luật đã mở khá rộng các hình thức số như: tại điểm b, điểm i khoản 1 Điều 11, thông tin có thể được công khai qua cổng thông tin điện tử, nền tảng số, mạng viễn thông và mạng xã hội. Theo điểm e, điểm g khoản 1 Điều 18, nhân dân có thể tham gia ý kiến qua cổng thông tin điện tử, ứng dụng số, mạng viễn thông và mạng xã hội. Trong khi đó, điểm c khoản 1 Điều 14 cho phép biểu quyết trực tuyến.


Dẫn chiếu cụ thể các quy định trên, đại biểu Thạch Phước Bình đề nghị cần phân biệt rõ: công khai là để người dân biết, lấy ý kiến là để cơ quan có trách nhiệm tổng hợp, tiếp thu và giải trình, còn biểu quyết là hành vi thể hiện ý chí có thể trực tiếp làm hình thành quyết định của cộng đồng dân cư. Ba hoạt động này không thể có cùng giá trị pháp lý.


"Đề nghị Điều 14 và Điều 18 phải làm rõ đâu là lấy ý kiến; đâu là biểu quyết; giá trị pháp lý của từng hình thức; và điều kiện để một kết quả điện tử được coi là hợp lệ. Một lượt 'đồng ý' trên mạng xã hội không thể mặc nhiên được coi là một phiếu biểu quyết có giá trị pháp lý", đại biểu Thạch Phước Bình nhấn mạnh.


Đại biểu đoàn Vĩnh Long cũng đề nghị biểu quyết trực tuyến phải bảo đảm "đúng người, đúng quyền, đúng một lần". Đồng thời, dự thảo Luật cần bổ sung yêu cầu về khả năng kiểm chứng, kiểm toán và xử lý sự cố đối với kết quả điện tử.


Dân chủ ở cơ sở phải được đo bằng sự hài lòng của người dân

Liên quan nội dung chuyển đổi số gắn liền với việc phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân ở cơ sở, đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh) đề cập cụ thể khái niệm các thành tố trong phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".


Về nguyên tắc "dân biết", đại biểu nhấn mạnh người dân phải được biết đầy đủ, kịp thời, rõ ràng và dễ tiếp cận thông tin. Việc công khai không nên dừng lại ở việc đăng tải văn bản lên các nền tảng số. Điều cốt lõi là người dân phải nắm và hiểu được những nội dung liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.


Đại biểu kiến nghị bổ sung tại Điều 12 trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc công khai thông tin trên nền tảng số theo tiêu chí dễ tìm, dễ hiểu, dễ kiểm chứng; đồng thời duy trì các hình thức công khai truyền thống phù hợp cho những người dân chưa có điều kiện sử dụng công nghệ.


Về nguyên tắc "dân bàn", đại biểu cho rằng việc dự thảo mở rộng các hình thức họp lấy ý kiến nhân dân qua nền tảng số là rất đáng ghi nhận, nhưng điều quan trọng không chỉ là tạo điều kiện đóng góp ý kiến mà còn phải bảo đảm mọi ý kiến đóng góp đều được ghi nhận, xem xét và phản hồi công khai.


Từ đó, đại biểu đề nghị cần quy định rõ tại Điều 19 về thời hạn hoàn thành việc tổng hợp, tiếp thu, giải trình trong trường hợp pháp luật chuyên ngành chưa có quy định. Việc công khai này cần thực hiện chi tiết theo từng nhóm vấn đề, nêu rõ nội dung nào được tiếp thu, nội dung nào không được tiếp thu kèm theo lý do cụ thể để nhân dân thuận tiện tra cứu và giám sát.


Về nguyên tắc "dân làm", theo đại biểu Võ Ngọc Thanh Trúc, chuyển đổi số cần giúp người dân không chỉ tham gia vào công việc chung mà còn trực tiếp theo dõi được tiến độ, chất lượng và kết quả thực hiện. Đề nghị cần cụ thể hóa cơ chế theo dõi kiến nghị trên các hệ thống số hiện hữu: từ việc cấp mã tra cứu, xác nhận tiếp nhận, cập nhật cơ quan thụ lý, thời hạn giải quyết theo quy định, cho đến tiến độ và kết quả thực hiện cuối cùng.


Bên cạnh đó, khi chuyển tiếp kiến nghị hoặc xảy ra tình trạng chậm trễ xử lý, hệ thống phải thông báo rõ đơn vị tiếp nhận, nguyên nhân và đơn vị chịu trách nhiệm theo dõi. Hệ thống cũng cần phân biệt rõ ràng giữa trạng thái "đã chuyển", "đã trả lời" với kết quả giải quyết thực tế và việc thực thi kết quả đó. Song song đó, phải chú trọng công tác bảo vệ dữ liệu cá nhân.


Về nguyên tắc "dân thụ hưởng", nữ đại biểu khẳng định đây chính là thước đo cuối cùng đánh giá hiệu quả của công cuộc chuyển đổi số trong thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đại biểu đề xuất cụ thể hóa tại khoản 6 Điều 7 các tiêu chí định lượng về tỷ lệ kiến nghị được xử lý đúng hạn, mức độ hài lòng của nhân dân và gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả thực hiện. Ngoài ra, cần có giải pháp bảo đảm cho người cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng chưa có điều kiện tiếp cận công nghệ vẫn thực hiện đầy đủ quyền dân chủ thông qua các hình thức phù hợp.


Chuyển đổi số phải đi cùng phát huy dân chủ thực chất

Qua nghiên cứu, đại biểu Chamaléa Thị Thủy (Đoàn Khánh Hòa) đánh giá dự thảo đã có bước tiến lớn khi bổ sung nguyên tắc: "Người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi... được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện dân chủ ở cơ sở", đồng thời mở rộng hình thức thực hiện dân chủ trên nền tảng số tại khoản 5 Điều 3 và khoản 4 Điều 7.


Tuy nhiên, theo đại biểu, việc mở rộng dân chủ số nếu không gắn liền với giải pháp hạ tầng và điều kiện tiếp cận thực tế sẽ dễ tạo ra khoảng cách về quyền giữa các vùng miền.


Dẫn chiếu từ thực tế, đại biểu nêu rõ hiện nay tại các thôn, các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hoặc các vùng hải đảo, hạ tầng viễn thông, sóng 4G/5G chưa thật sự đồng đều; tỷ lệ người dân sở hữu thiết bị thông minh và kỹ năng thao tác trên môi trường số còn hạn chế nhất định; một bộ phận bà con dân tộc thiểu số chưa thạo tiếng phổ thông. Nếu chính quyền cơ sở chỉ đăng tải thông tin hoặc tổ chức lấy ý kiến qua cổng thông tin điện tử, ứng dụng số thì nguy cơ một bộ phận đồng bào khó thực hiện một cách thực chất quyền dân chủ ở cơ sở.


Từ phân tích trên, đại biểu kiến nghị dự thảo luật cần thể hiện rõ nguyên tắc: "Việc ứng dụng nền tảng số phải thực hiện song song với việc duy trì ổn định, hiệu quả các phương thức dân chủ trực tiếp truyền thống (như họp thôn, tổ dân phố)" để không làm thu hẹp quyền của người dân khi chưa đủ điều kiện tiếp cận công nghệ.


Đồng thời, cần quy định rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư hạ tầng số vùng khó khăn; xây dựng các cổng thông tin, ứng dụng số cơ sở có giao diện đơn giản, thân thiện, có tích hợp hỗ trợ âm thanh và song ngữ (tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số phổ biến ở địa phương).


Thống nhất với việc mở rộng các hình thức lấy ý kiến, nhất là ứng dụng công nghệ số, đại biểu Nguyễn Thị Kim Thoa (Đoàn Vĩnh Long) cũng cho rằng việc lựa chọn hình thức cần tính đến đặc điểm, điều kiện và khả năng tham gia của người dân, không chỉ căn cứ vào điều kiện tổ chức của địa phương.


“Người dân có điều kiện lao động, trách nhiệm gia đình và mức độ chịu tác động khác nhau. Đặc biệt, đối với các chính sách về môi trường, an sinh và dịch vụ công thiết yếu, việc tiếp nhận đầy đủ góc nhìn của phụ nữ, nam giới và người trực tiếp chịu tác động sẽ giúp chính sách sát thực tiễn hơn”, đại biểu Nguyễn Thị Kim Thoa lý giải.


Theo đó, đại biểu đề nghị bổ sung tại khoản 2 Điều 18 căn cứ lựa chọn hình thức lấy ý kiến phù hợp với điều kiện và khả năng tiếp cận của người tham gia, bảo đảm cơ hội tham gia bình đẳng, thực chất, không phát sinh thêm thủ tục. Đồng thời, khi ứng dụng công nghệ số, cần chú trọng phòng ngừa các hành vi tác động làm sai lệch kết quả, bảo đảm ý kiến được ghi nhận trung thực, khách quan và có thể kiểm chứng.


Phát biểu giải trình về việc thực hiện dân chủ trên nền tảng số, Bộ trưởng Nội vụ Nguyễn Tiến Hải cho biết dự thảo Luật bổ sung các quy định về nguyên tắc thực hiện, quyền và nghĩa vụ của công dân khi tham gia ý kiến, bàn và quyết định bằng hình thức trực tuyến; quy định biện pháp bảo đảm và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức trong việc xây dựng, thiết lập nền tảng số.


Trong đó, dự thảo chú trọng các biện pháp để người dân dễ tiếp cận, tham gia phản ánh, kiến nghị và giám sát trên môi trường số; bảo đảm tính xác thực, lưu trữ và bảo mật thông tin, dữ liệu cũng như kết quả thực hiện dân chủ.


Bộ trưởng cũng nêu rõ, việc thực hiện dân chủ trên nền tảng số được triển khai song song với các phương thức truyền thống, bảo đảm quyền tiếp cận và tham gia của người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người sinh sống tại khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn. Cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ tiếp tục rà soát kỹ lưỡng, quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin, không tạo ra khoảng trống pháp lý hay rào cản làm tăng chi phí và hạn chế quyền của người dân.


#HSV

#HSVCHINHSACH

#TruyenThongChinhSach

#QuocHoi

#KyHopThu2QuocHoiKhoaXVI

#ChuyenDoiSo

28/10/26

Cảnh giác việc lợi dụng vụ án Ngô Văn Dũng để xuyên tạc, hướng lái dư luận

 




Lợi dụng những tình tiết liên quan đến vụ việc Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk bắt giữ, khởi tố đối với bị can Ngô Văn Dũng, một số đối tượng đã sử dụng thông tin về quá khứ chấp hành án của đối tượng này để diễn giải việc khởi tố theo hướng “trả thù”, “đàn áp”, xử lý vì lý do chính trị, tạo cớ chống phá Nhà nước.


Ngày 27/10, Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra khuyến cáo người dân không nên bình luận, chia sẻ những nội dung liên quan đến một số đối tượng lợi dụng vụ án Ngô Văn Dũng (trú tại phường Tân An, tỉnh Đắk Lắk, bị khởi tố về tội “Cưỡng đoạt tài sản”) để viết bài xuyên tạc, dẫn dắt dư luận, gây hiểu nhầm cho người đọc.


Theo Công an tỉnh Đắk Lắk, qua công tác nắm tình hình, Phòng CSHS phối hợp với Công an xã Ea Knuếc đã phát hiện, xác minh, làm rõ một vụ việc có dấu hiệu cưỡng đoạt tài sản xuất phát từ mâu thuẫn trong quá trình hợp tác thu mua sầu riêng.


Theo hồ sơ vụ án, vào ngày 14/8/2026, anh T.H.D. (trú tại phường Cai Lậy, tỉnh Đồng Tháp) cùng Ngô Văn Dũng (trú tại phường Tân An, tỉnh Đắk Lắk) và anh Vũ Trung Thành (trú tại xã Ea Phê, tỉnh Đắk Lắk) hợp tác thuê, mở kho thu mua sầu riêng tại khu vực Km19, Quốc lộ 26, thuộc xã Ea Knuếc, tỉnh Đắk Lắk.


Trong quá trình hợp tác làm ăn, giữa các bên đã phát sinh mâu thuẫn liên quan đến việc quyết toán tiền mua bán sầu riêng và các chi phí phát sinh khác trong quá trình kinh doanh. Để yêu cầu anh T.H.D. giao số tiền 60 triệu đồng, Ngô Văn Duẩn, Ngô Văn Dũng và Nguyễn Thiện Huy đã có hành vi chửi bới, xúc phạm, đe dọa, gây sức ép. Khi anh T.H.D. không đồng ý, ngày 4/9/2026, các đối tượng này tiếp tục có hành vi dùng tay, chân đánh anh T.H.D. nhằm gây sức ép buộc anh phải giao số tiền trên cho Ngô Văn Dũng.


Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, ngày 26/9/2026, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, đồng thời ra quyết định khởi tố bị can đối với Ngô Văn Duẩn, Ngô Văn Dũng và Nguyễn Thiện Huy để điều tra, xử lý về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định pháp luật.


    Từ vụ việc trên cho thấy, trong hoạt động hợp tác thu mua, kinh doanh nông sản, những bất đồng về tiền bạc, chất lượng hàng hóa, phương thức thanh toán, công nợ hoặc phân chia lợi nhuận cần được giải quyết bằng các phương thức phù hợp theo quy định pháp luật. Khi tranh chấp bị đẩy thành hành vi đe dọa, hành hung, uy hiếp nhằm chiếm đoạt tài sản, người thực hiện có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.


Tuy nhiên, trên mạng xã hội xuất hiện nội dung sử dụng thông tin về quá khứ chấp hành án của Ngô Văn Dũng để diễn giải việc khởi tố theo hướng “trả thù”, “đàn áp”, xử lý vì lý do chính trị. Cách diễn giải này chuyển sự chú ý khỏi những hành vi đang được điều tra, hướng người đọc đến kết luận về động cơ của cơ quan chức năng nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ tương ứng.


Điểm cần cảnh giác là thủ pháp lựa chọn thông tin có lợi cho nhận định đã định sẵn, bỏ qua bối cảnh vụ việc và sử dụng ngôn từ quy kết để tác động đến cảm xúc người đọc. Việc một nhận định được nhiều tài khoản nhắc lại không làm cho nhận định đó trở thành sự thật đã được kiểm chứng.


    “Quá khứ chấp hành án của một người không thay thế chứng cứ chứng minh hành vi trong vụ án mới; đồng thời, cũng không thể chỉ dựa vào quá khứ đó để khẳng định việc khởi tố là sự trả thù hay đàn áp. Những kết luận về vụ việc phải dựa trên tài liệu, chứng cứ và quá trình giải quyết theo quy định pháp luật”, Công an Đắk Lắk khuyến cáo.


Việc công bố quyết định khởi tố nhằm thông tin về hoạt động tố tụng, không đồng nghĩa với việc khẳng định bị can đã có tội. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử phải tuân thủ quy định pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Trách nhiệm hình sự của bị can phải được xem xét, quyết định theo trình tự luật định.


Từ một vụ án cụ thể để suy rộng, quy chụp về toàn bộ hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng là cách dẫn dắt cần được nhận diện. Những phản ánh, kiến nghị về quá trình giải quyết vụ án cần gắn với nội dung, tài liệu cụ thể để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xem xét. Không thể dùng những lời bình luận mang tính kích động hoặc sự lặp lại của thông tin trên mạng để thay thế việc kiểm chứng.


    “Cần phân biệt đâu là thông tin về quyết định tố tụng, đâu là kết quả điều tra ban đầu và đâu chỉ là ý kiến, suy đoán của người viết. Đối với hình ảnh, video, cần thận trọng khi nội dung bị cắt ngắn, thiếu diễn biến trước và sau hoặc có chú thích gán ghép. Không vội chia sẻ những bài viết quy kết động cơ, xúc phạm cá nhân, kích động công kích khi chưa có căn cứ xác thực. Trường hợp đã chia sẻ thông tin sai lệch, cần chủ động đính chính, gỡ bỏ để hạn chế tiếp tục lan truyền”, Công an Đắk Lắk khuyến cáo.


Tôn trọng sự thật, tiếp nhận thông tin có kiểm chứng và theo dõi kết quả giải quyết của cơ quan có thẩm quyền là cách ứng xử có trách nhiệm trước những vụ án đang được điều tra. Sự tỉnh táo của mỗi người khi đọc, bình luận và chia sẻ sẽ góp phần ngăn ngừa việc lợi dụng vụ việc để gán ghép, xuyên tạc, gây hiểu sai trong dư luận.


V.Thành - T.Luật 

Báo CAND 

#HSV 

#HSVPhapLuat

26/10/26

Nghị quyết 57 và bài toán xây dựng 'lá chắn' an ninh mạng bảo vệ người dân

 





Trí tuệ nhân tạo (AI) đang khiến lừa đảo trực tuyến chuyển từ giả mạo đơn lẻ sang thao túng tâm lý và chiếm đoạt tài sản trên quy mô lớn. Trao đổi với Báo Tin tức và Dân tộc, Tiến sĩ Đào Trung Hiếu, thành viên Hiệp hội An ninh mạng Quốc gia, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng “lá chắn” bảo vệ người dân trong nền kinh tế số theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW. 


Dưới đây là nội dung bài phỏng vấn:


AI đang “công nghiệp hóa” lừa đảo và thao túng niềm tin


Phóng viên: Ông đánh giá thế nào về sự thay đổi của các hình thức lừa đảo trực tuyến tại Việt Nam, đặc biệt khi trí tuệ nhân tạo hay còn gọi là AI ngày càng được sử dụng để giả mạo danh tính, tạo website và thao túng nạn nhân?


Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Dưới góc nhìn tội phạm học, tôi cho rằng sự thay đổi đáng chú ý nhất hiện nay không chỉ là mức độ tinh vi của thủ đoạn, mà là sự biến đổi trong phương thức tổ chức và thực hiện hành vi phạm tội. AI đang giúp tội phạm chuyển từ lừa đảo đại trà sang lừa đảo cá nhân hóa, từ giả mạo thông tin sang giả mạo danh tính và các mối quan hệ tin cậy, từ hoạt động thủ công sang tự động hóa trên quy mô lớn.


Với AI, đối tượng có thể tạo ra giọng nói, hình ảnh, video, website và những cuộc hội thoại giả có sức thuyết phục cao. Nguy hiểm hơn, khi khai thác được dữ liệu cá nhân, chúng có thể xây dựng kịch bản phù hợp với hoàn cảnh, nhu cầu và trạng thái tâm lý của từng nạn nhân. Một cuộc gọi giả danh người thân, một thông báo mang danh cơ quan nhà nước hay một lời mời đầu tư được thiết kế công phu đều có thể trở thành công cụ chiếm đoạt tài sản.


Về cơ chế tâm lý, tội phạm thường khai thác ba yếu tố: tạo dựng lòng tin, kích hoạt cảm xúc và gây áp lực thời gian. Khi nạn nhân rơi vào trạng thái sợ hãi, kỳ vọng lợi ích hoặc lo lắng cho người thân, khả năng kiểm chứng thông tin và cân nhắc hậu quả có thể suy giảm. Đối tượng lợi dụng chính thời điểm ấy để thúc đẩy quyết định chuyển tiền, cung cấp mã xác thực hoặc trao quyền kiểm soát thiết bị.


Đáng chú ý, AI còn tạo điều kiện cho hoạt động lừa đảo được chuyên môn hóa theo từng công đoạn, từ thu thập dữ liệu, tạo danh tính giả, tiếp cận nạn nhân đến che giấu và luân chuyển dòng tiền. Điều này làm giảm chi phí thực hiện hành vi, mở rộng phạm vi tiếp cận và gia tăng nguy cơ phạm tội xuyên biên giới.


Có thể nói, AI không chỉ giúp tội phạm giả mạo con người mà còn giúp chúng công nghiệp hóa sự lừa dối và thao túng niềm tin. Vì vậy, phòng ngừa lừa đảo trực tuyến ngày nay phải vượt ra ngoài việc nhận diện những thủ đoạn riêng lẻ, hướng tới nhận diện và vô hiệu hóa cả chuỗi hoạt động phạm tội.


Không thể đặt toàn bộ gánh nặng chống lừa đảo lên vai người dân


Phóng viên: Vậy theo ông, đâu là những điểm hạn chế đáng chú ý nhất trong khả năng tự bảo vệ của người dân, hệ thống cảnh báo lừa đảo và cơ chế phối hợp giữa các tổ chức hiện nay?


Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Theo tôi, điểm yếu căn bản nằm ở sự mất cân đối giữa tốc độ phát triển của các phương thức phạm tội và năng lực phòng ngừa của xã hội.


Trước hết là khoảng cách giữa kỹ năng sử dụng công nghệ và năng lực tự bảo vệ trên không gian mạng. Nhiều người có thể sử dụng thành thạo điện thoại thông minh, ngân hàng số, mạng xã hội nhưng lại thiếu kỹ năng xác minh danh tính, nhận diện thao túng tâm lý và xử lý tình huống bất thường. Thành thạo công nghệ không đồng nghĩa với khả năng miễn nhiễm trước lừa đảo.


Thứ hai là độ trễ của hệ thống cảnh báo và ngăn chặn. Trong khi đối tượng có thể thay đổi tài khoản, số điện thoại, tên miền và dịch chuyển dòng tiền rất nhanh, thông tin cảnh báo giữa các ngân hàng, doanh nghiệp viễn thông, nền tảng số và cơ quan chức năng chưa phải lúc nào cũng được kết nối, xử lý kịp thời. Khoảng thời gian từ phát hiện dấu hiệu nghi vấn đến triển khai biện pháp ngăn chặn có thể trở thành cơ hội để tội phạm tiếp tục gây thiệt hại.


Thứ ba, và cũng là vấn đề cần được nhìn nhận nghiêm túc, là khoảng trống trong phân định trách nhiệm phòng ngừa. Người dân thường được yêu cầu phải cảnh giác, trong khi các tổ chức cung cấp dịch vụ lại nắm giữ phần lớn dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật và công cụ nhận diện rủi ro. Không thể đặt toàn bộ gánh nặng tự bảo vệ lên vai chủ thể có ít thông tin và khả năng kiểm soát nhất trong hệ sinh thái số.


Từ kinh nghiệm nghiên cứu và thực tiễn đấu tranh với tội phạm, tôi cho rằng không nên đơn giản quy nguyên nhân người dân bị lừa cho sự nhẹ dạ hay thiếu hiểu biết. Nhiều vụ việc là kết quả của quá trình thao túng tâm lý có chủ đích, trong đó nạn nhân bị dẫn dắt từng bước đến những quyết định trái với lợi ích của chính mình. Bởi vậy, cần chuyển từ tư duy phòng ngừa dựa chủ yếu vào sự cảnh giác cá nhân sang cơ chế phòng ngừa dựa trên trách nhiệm chung của toàn bộ hệ sinh thái số. Người dân cần được trang bị kỹ năng, nhưng ngân hàng, nhà mạng, nền tảng công nghệ và cơ quan chức năng cũng phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm phát hiện, cảnh báo, ngăn chặn theo chức năng và thẩm quyền.


An toàn của hệ thống không đồng nghĩa với an toàn của người sử dụng


Phóng viên: Khi Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi số theo Nghị quyết 57, theo ông, những rủi ro an ninh mạng nào cần được ưu tiên kiểm soát để không làm suy giảm niềm tin của người sử dụng?


Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng của phát triển đất nước. Tuy nhiên, chuyển đổi số càng sâu rộng thì mức độ phụ thuộc của đời sống kinh tế, xã hội vào hạ tầng công nghệ và dữ liệu càng lớn. Khi đó, an ninh mạng không còn là vấn đề kỹ thuật thuần túy mà trở thành một bộ phận của an ninh kinh tế và an ninh con người. Theo tôi, cần đặc biệt quan tâm đến nguy cơ lộ lọt, mua bán và lạm dụng dữ liệu cá nhân; giả mạo danh tính số; chiếm đoạt tài khoản, tài sản trong giao dịch điện tử; giả mạo dịch vụ công và các thiết chế có uy tín; cùng với nguy cơ tấn công, làm gián đoạn hoặc sai lệch dữ liệu của những hệ thống thông tin thiết yếu. Trong đó, dữ liệu cá nhân cần được nhìn nhận như một mắt xích trọng yếu của cơ chế phòng ngừa. Khi thông tin về nhân thân, tài chính, quan hệ xã hội và thói quen sinh hoạt bị khai thác trái phép, tội phạm có thể sử dụng chúng để tạo ra những kịch bản lừa đảo mang tính cá nhân hóa, khiến người bị hại khó phân biệt thật giả.


Tôi muốn nhấn mạnh một vấn đề: An toàn của hệ thống không đồng nghĩa với an toàn của người sử dụng. Một hệ thống ngân hàng có thể không bị xâm nhập, nhưng khách hàng vẫn có thể bị thao túng để tự chuyển tiền cho đối tượng lừa đảo. Một cổng dịch vụ công có thể vận hành an toàn, nhưng người dân vẫn có thể bị dẫn dụ đến website giả mạo. Vì vậy, đánh giá an ninh mạng phải bao gồm cả khả năng bảo vệ người sử dụng trước những hành vi xâm hại diễn ra thông qua môi trường số.


Mặt khác, bảo đảm an ninh mạng không có nghĩa là mở rộng thu thập dữ liệu bằng mọi giá. Các giải pháp xác thực, giám sát rủi ro và chia sẻ thông tin phải tuân thủ pháp luật, bảo đảm tính cần thiết, tương xứng, minh bạch và quyền riêng tư của công dân. Không thể bảo vệ người dân trước một nguy cơ bằng cách tạo ra những nguy cơ khác đối với dữ liệu và quyền lợi hợp pháp của họ.


Niềm tin số là một nguồn lực phát triển. Nếu người dân thường xuyên đối diện nguy cơ mất tiền, mất dữ liệu hoặc bị giả mạo danh tính, họ sẽ dè dặt với các dịch vụ trực tuyến, làm gia tăng chi phí giao dịch và ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển đổi số. Bởi vậy, bảo đảm an ninh mạng phải được tích hợp ngay từ khâu thiết kế, vận hành và quản trị các hệ thống số, thay vì chỉ xử lý sau khi xảy ra sự cố.


Xây dựng “lá chắn” an ninh mạng từ trách nhiệm chung của hệ sinh thái số


Phóng viên: Nếu đề xuất một chương trình hành động nhằm tăng cường phòng chống lừa đảo trực tuyến theo tinh thần Nghị quyết 57, ông sẽ ưu tiên những nhiệm vụ nào?


Tiến sĩ Đào Trung Hiếu: Tôi cho rằng cần xây dựng một chương trình phòng ngừa lừa đảo trực tuyến mang tính liên ngành, lấy người dân làm trung tâm, công nghệ làm công cụ và trách nhiệm của các chủ thể tham gia hệ sinh thái số làm nền tảng. Trọng tâm là chuyển từ xử lý hậu quả sang chủ động phát hiện, cảnh báo và thu hẹp cơ hội phạm tội.


Trước hết, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế chia sẻ, cảnh báo rủi ro liên thông giữa cơ quan chức năng, ngân hàng, doanh nghiệp viễn thông và các nền tảng số. Hệ thống này có thể ứng dụng AI để phân tích dấu hiệu bất thường, nhận diện những mẫu hình lừa đảo mới và đưa ra cảnh báo kịp thời. Việc kết nối dữ liệu phải có cơ sở pháp lý, cơ chế kiểm soát truy cập và quy trình xác minh nhằm hạn chế cảnh báo sai, tránh ảnh hưởng đến giao dịch hợp pháp.


Thứ hai, cần cụ thể hóa trách nhiệm phòng ngừa của các chủ thể cung cấp dịch vụ. Nền tảng số phải tăng cường phát hiện, xử lý tài khoản giả mạo, quảng cáo lừa đảo và những mạng lưới phát tán nội dung nguy hại. Ngân hàng cần nâng cao năng lực nhận diện giao dịch bất thường, cảnh báo rủi ro và triển khai biện pháp xác minh bổ sung phù hợp. Doanh nghiệp viễn thông phải phối hợp xử lý việc lợi dụng thuê bao và hạ tầng liên lạc để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Đồng thời, cần có cơ chế giám sát và giải trình tương xứng với nghĩa vụ pháp lý của từng chủ thể.


Thứ ba, hình thành quy trình phản ứng nhanh khi có dấu hiệu lừa đảo, với đầu mối tiếp nhận thuận tiện và cơ chế phối hợp rõ ràng giữa các đơn vị liên quan. Trong nhiều trường hợp, khả năng ngăn chặn thiệt hại phụ thuộc vào những phút đầu tiên sau khi giao dịch đáng ngờ được phát hiện. Vì vậy, cần rút ngắn thời gian tiếp nhận, xác minh, cảnh báo và áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo đúng thẩm quyền, đồng thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người sử dụng.


Thứ tư, phổ cập năng lực tự bảo vệ trên không gian mạng như một kỹ năng công dân thiết yếu. Hoạt động giáo dục không nên chỉ dừng ở việc phổ biến thủ đoạn lừa đảo mà cần giúp người dân hiểu cơ chế thao túng tâm lý, biết kiểm chứng danh tính, bảo vệ dữ liệu, nhận diện dấu hiệu bất thường và chủ động tìm kiếm hỗ trợ. Nội dung phải phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là học sinh, người cao tuổi và những người ít có điều kiện tiếp cận kiến thức an toàn số.


Cuối cùng, cần đổi mới cách đánh giá hiệu quả phòng ngừa. Không nên chỉ căn cứ vào số lượng hội nghị tuyên truyền, số cảnh báo đã phát đi hay số tài khoản bị xử lý, mà phải đo lường bằng những kết quả thực chất: thời gian phát hiện nguy cơ, tốc độ phối hợp ngăn chặn, tỷ lệ cảnh báo chính xác, mức độ giảm thiệt hại và khả năng hỗ trợ nạn nhân. Dưới góc độ tội phạm học ứng dụng, tôi cho rằng phòng ngừa hiệu quả nhất không phải là chờ hành vi phạm tội hoàn thành rồi mới truy tìm đối tượng, mà là chủ động tác động vào những điều kiện khiến hành vi đó có thể xảy ra. Công nghệ phải được sử dụng để làm cho việc lừa đảo trở nên khó thực hiện hơn, dễ bị phát hiện hơn và ít có khả năng gây thiệt hại hơn.


Xét đến cùng, lá chắn an ninh mạng không thể chỉ đặt trong thiết bị của mỗi người dân, mà phải được xây dựng trong toàn bộ cấu trúc vận hành của nền kinh tế số. Khi an ninh mạng trở thành trách nhiệm chung, quyền lợi của người sử dụng được bảo vệ thực chất và niềm tin số được củng cố, chuyển đổi số mới có nền tảng vững chắc để phát triển bền vững theo tinh thần Nghị quyết 57.


Phóng viên: Xin cảm ơn ông đã trả lời phỏng vấn Báo Tin tức và Dân tộc!


Thành Nam-Minh Phương/Báo Tin tức và Dân tộc


Tiến sĩ Đào Trung Hiếu, thành viên Hiệp hội An ninh mạng Quốc gia. Ảnh: NVCC


#HSV 

#HSVAnNinhMang

21/10/26

Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đan Mạch

 Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đan Mạch


Nhận lời mời của Nhà Vua Vương quốc Đan Mạch Frederik X, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Đan Mạch từ ngày 19-21/10/2026, nhân dịp hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.


Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) trân trọng giới thiệu "TUYÊN BỐ CHUNG VỀ VIỆC THIẾT LẬP QUAN HỆ ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN GIỮA NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ ĐAN MẠCH":


Nhận lời mời của Nhà Vua Vương quốc Đan Mạch Frederik X, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Đan Mạch từ ngày 19-21/10/2026 nhân dịp hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.


Nhân chuyến thăm cấp Nhà nước này, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm và Thủ tướng Đan Mạch, bà Mette Frederiksen nhấn mạnh rằng kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1971, quan hệ Đối tác toàn diện năm 2013 và quan hệ Đối tác chiến lược Xanh năm 2023, Việt Nam và Đan Mạch đã phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt trên cơ sở tin cậy, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Trên cơ sở đó, và trước tiềm năng phát triển mạnh mẽ hơn nữa của hai nước, hai Nhà lãnh đạo nhất trí nâng cấp quan hệ Việt Nam - Đan Mạch lên Đối tác chiến lược toàn diện, vì lợi ích của cả hai quốc gia.


1. Hai bên nhấn mạnh lợi ích chung, sự tôn trọng, cùng các mối liên hệ lịch sử là trọng tâm của quan hệ đối tác song phương ngày càng phát triển. Hai bên tái khẳng định cam kết làm sâu sắc hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai quốc gia và đóng góp vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng.


QUAN HỆ CHÍNH TRỊ


2. Hai bên hướng tới củng cố hợp tác chính trị và hiểu biết lẫn nhau thông qua việc tăng cường hơn nữa các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao song phương trên tất cả các kênh giữa các cơ quan Đan Mạch và Việt Nam, trong đó phía Việt Nam bao gồm Đảng Cộng sản, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và chính quyền địa phương.


3. Quốc hội hai nước, trong phạm vi thẩm quyền của mỗi bên, hướng tới đẩy mạnh:


(i) trao đổi đoàn và tiếp xúc song phương, đặc biệt giữa các Lãnh đạo, đại biểu, ủy ban, nhóm nghị sĩ hữu nghị của hai Quốc hội, bao gồm các nghị sĩ nữ và nghị sĩ trẻ; (ii) chia sẻ kinh nghiệm trong các hoạt động lập pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tác song phương; (iii) phối hợp trong việc giám sát và thúc đẩy thực hiện hiệu quả các thỏa thuận song phương; (iv) tiếp xúc, tham vấn, hợp tác và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn nghị viện đa phương cũng như về các vấn đề khu vực và toàn cầu mà hai bên cùng quan tâm.


4. Hai bên tái khẳng định tiếp tục duy trì cơ chế Tham vấn chính trị giữa hai Bộ Ngoại giao nhằm tăng cường tin cậy chiến lược và hiểu biết lẫn nhau thông qua trao đổi quan điểm về các vấn đề khu vực, quốc tế hai bên cùng quan tâm và thúc đẩy hợp tác song phương trong thương mại, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, quốc phòng - an ninh, giáo dục, chuyển đổi xanh, nông nghiệp, y tế, thống kê, văn hóa, giao lưu nhân dân và các lĩnh vực cùng quan tâm khác, khi có thể.


5. Hai bên nhất trí cần nghiên cứu và triển khai các biện pháp nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho việc giao lưu và đi lại của công dân hai nước, ưu tiên đàm phán và ký kết thỏa thuận miễn thị thực đối với người mang hộ chiếu ngoại giao chứa dữ liệu sinh trắc học.


6. Hai bên hoan nghênh việc thành lập Tổng Lãnh sự quán Đan Mạch tại Thành phố Hồ Chí Minh.


HỢP TÁC QUỐC TẾ, KHU VỰC VÀ ASEAN


7. Hai bên cam kết tăng cường hợp tác và chia sẻ quan điểm tại các tổ chức, cơ chế đa phương và các tổ chức, cơ chế liên quan thông qua tăng cường trao đổi thông tin và kinh nghiệm về các vấn đề toàn cầu và khu vực như luật pháp quốc tế, bảo vệ quyền con người, phát triển khu vực và toàn cầu, bình đẳng giới, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, không phổ biến vũ khí hạt nhân, tội phạm xuyên quốc gia, an toàn và an ninh hàng hải, an ninh năng lượng, an ninh mạng, an ninh lương thực và nguồn nước, an toàn công cộng, y tế công cộng và các lĩnh vực liên quan khác.


8. Hai bên tái khẳng định cam kết ủng hộ chủ nghĩa đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế, với Liên hợp quốc giữ vai trò trung tâm trong giải quyết các vấn đề toàn cầu và khu vực; thúc đẩy và đưa ra các giải pháp hòa bình cho các tranh chấp quốc tế, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.


9. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, an ninh, ổn định, an toàn và tự do hàng hải và hàng không, cũng như thương mại không bị cản trở trên các vùng biển và đại dương, bao gồm Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của UNCLOS 1982, văn kiện xác lập khuôn khổ pháp lý toàn diện mà mọi hoạt động trên biển và đại dương phải tuân theo. Hai bên ủng hộ giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực.


10. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002. Hai bên cũng hoan nghênh những tiến triển tiếp theo hướng tới sớm hoàn tất một Bộ Quy tắc ứng xử hiệu quả và thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982. Về vấn đề này, Đan Mạch bày tỏ sẵn sàng, khi có thể, hỗ trợ các nỗ lực của ASEAN trong thúc đẩy kết nối hàng hải, cũng như an toàn và an ninh hàng hải.


11. Đan Mạch ghi nhận vai trò và tăng cường quan hệ với ASEAN, coi ASEAN là một thị trường quan trọng đối với thương mại và đầu tư, đồng thời là một tổ chức ngày càng quan trọng ở cấp khu vực và toàn cầu. Đan Mạch bày tỏ ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và tái khẳng định cam kết hỗ trợ các nỗ lực của ASEAN trong việc hiện thực hóa Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045.


12. Hai bên: (i) nhất trí tiếp tục tăng cường quan hệ Đối tác đối thoại theo lĩnh vực ASEAN - Đan Mạch cũng như quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN - EU, bao gồm trong các lĩnh vực ưu tiên chung như chuyển đổi xanh, năng lượng, kinh tế số, công nghệ và đổi mới sáng tạo; (ii) hoan nghênh hợp tác chung trong tăng cường chia sẻ kinh nghiệm về tìm kiếm - cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo và ứng phó thiên tai trong ASEAN và các khuôn khổ đa phương phù hợp khác; (iii) ghi nhận tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác và đối thoại khu vực trong lĩnh vực hàng hải.


13. Hai bên ghi nhận tầm quan trọng của việc tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người mà hai bên là thành viên và vai trò của Đối thoại Nhân quyền thường niên Việt Nam - EU, và Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) thuộc Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc.


HỢP TÁC THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ


14. Hai bên tái khẳng định quyết tâm chung thúc đẩy thương mại, đầu tư song phương và tháo gỡ các rào cản nhằm tăng kim ngạch thương mại và vốn đầu tư tại Việt Nam và Đan Mạch; đồng thời cam kết bảo vệ và thúc đẩy hệ thống thương mại quốc tế mở, dựa trên luật lệ, với WTO giữ vai trò trung tâm, và thúc đẩy các chuỗi giá trị hiệu quả, tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, đồng thời bảo đảm cải thiện khả năng tiếp cận thị trường phù hợp với Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và quan hệ đối tác giữa Liên minh châu Âu và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).


15. Hai bên cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác về thương mại, đầu tư, tài chính thông qua nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực, kết nối chuỗi cung ứng, đặc biệt trong các lĩnh vực lấy tính bền vững làm định hướng, bao gồm nhưng không giới hạn ở năng lượng tái tạo, an ninh năng lượng, sử dụng năng lượng hiệu quả, sản xuất, chế biến và công nghiệp công nghệ cao, thực phẩm và nông nghiệp, các giải pháp sinh học và công nghệ sinh học, giao thông vận tải và logistics, vận tải biển xanh, kinh tế biển, công nghiệp và hàng không, số hóa, y tế và giáo dục.


16. Hai bên thúc đẩy và khuyến khích: (i) doanh nghiệp Việt Nam và Đan Mạch tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu tư mạnh mẽ hơn vào thị trường của nhau, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao và có giá trị gia tăng cao, đồng thời thông qua tăng cường mạng lưới nhà cung cấp của Việt Nam; (ii) các tổ chức ngành nghề của Việt Nam và Đan Mạch tham gia các chương trình, triển lãm xúc tiến thương mại được tổ chức tại thị trường của nhau nhằm tăng cường hợp tác, mở rộng, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, và nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng. Hai bên nhất trí hỗ trợ lẫn nhau tiếp cận thị trường EU và ASEAN phù hợp với các nghĩa vụ hiện hành, bao gồm cả đối với công nghệ, phương thức thực hành và sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường, nhằm hội nhập hiệu quả hơn vào các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.


17. Hai bên khẳng định cam kết chung tổ chức luân phiên các kỳ họp của Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và công nghệ tại Việt Nam và Đan Mạch, nhằm tạo thuận lợi và tăng cường hơn nữa hợp tác đầu tư và ODA, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy phát triển công nghệ và chia sẻ tri thức, hỗ trợ Việt Nam chuyển dịch sang các chuỗi giá trị có giá trị cao hơn, năng suất cao hơn và bền vững.


18. Hai bên hoan nghênh và nhất trí triển khai hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và thúc đẩy các thành viên EU còn lại phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA), qua đó tiếp tục hỗ trợ thương mại và đầu tư giữa hai nước.


HỢP TÁC KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ


19. Hai bên ghi nhận giá trị của hợp tác nghiên cứu và thúc đẩy nghiên cứu chung trong các lĩnh vực cùng quan tâm trên cơ sở các khoản tài trợ của Trung tâm Học bổng Danida cho các dự án nghiên cứu chung, Cơ chế hỗ trợ các Mục tiêu phát triển bền vững của Đan Mạch và các cơ chế tài trợ nội bộ khác, với trọng tâm là: (i) tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa các cơ sở, tổ chức trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; hỗ trợ hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu khoa học - công nghệ, chia sẻ thông tin và kinh nghiệm của Đan Mạch về thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển vườn ươm công nghệ và hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chính phủ số, thành phố thông minh và các lĩnh vực cùng quan tâm khác; (ii) tạo thuận lợi cho trao đổi sinh viên và nhà nghiên cứu giữa các cơ sở theo các thỏa thuận hợp tác riêng của từng cơ sở và trong khuôn khổ các khoản tài trợ của Trung tâm Học bổng Danida, nhằm hỗ trợ xây dựng các kỹ năng cần thiết cho quá trình phát triển bền vững của Việt Nam.


HỢP TÁC QUỐC PHÒNG, AN NINH VÀ TƯ PHÁP


20. Hai bên ghi nhận hòa bình, ổn định và an ninh là những điều kiện thiết yếu cho tăng trưởng bền vững và chuyển đổi xanh; khẳng định quyết tâm đưa an ninh và quốc phòng trở thành một cấu phần hữu cơ của quan hệ đối tác này thông qua mở rộng đối thoại và hợp tác, trên tinh thần nâng cao khả năng chống chịu và hướng tới tương lai, đồng thời nhận thức rằng an ninh trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và châu Âu gắn bó không thể tách rời do tính chất phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế và bối cảnh địa chính trị rộng hơn.


21. Hai bên tập trung vào hợp tác quốc phòng và an ninh trong các lĩnh vực ưu tiên chung thông qua: (i) thiết lập cơ chế đối thoại song phương về an ninh hàng hải, với trọng tâm là nhận thức tình hình trên biển, tự do hàng hải và ứng phó với các mối đe dọa phi truyền thống đối với an ninh hàng hải, luật pháp và tiêu chuẩn quốc tế về hàng hải cũng như môi trường; (ii) ghi nhận tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác và đối thoại khu vực trong lĩnh vực hàng hải. Về vấn đề này, Đan Mạch bày tỏ sẵn sàng hỗ trợ các nỗ lực của ASEAN trong thúc đẩy kết nối hàng hải, an toàn và an ninh hàng hải.


22. Hai bên ghi nhận tầm quan trọng của Diễn đàn Cảnh sát biển ASEAN như một nền tảng thúc đẩy hợp tác và đối thoại khu vực về an ninh hàng hải. Hai bên sẽ ủng hộ tăng cường đối thoại trong khuôn khổ Diễn đàn Cảnh sát biển ASEAN nhằm củng cố quản trị hàng hải, bảo vệ các nguồn tài nguyên biển và góp phần duy trì ổn định trong không gian biển của Việt Nam.


23. Hai bên nhất trí nghiên cứu khả năng công nhận tùy viên quốc phòng thường trú hoặc không thường trú của nhau; qua đó tăng cường quan hệ quốc phòng, bao gồm tạo điều kiện trao đổi, khi có thể, về chính sách an ninh và quốc phòng và các thách thức an ninh khu vực tại châu Á và châu Âu trên các lĩnh vực liên quan.


24. Hai bên nhất trí nghiên cứu tiếp tục đối thoại về: (i) chính sách an ninh và quốc phòng, khi phù hợp, cũng như tăng cường hợp tác về các vấn đề quốc phòng và an ninh mà hai bên cùng quan tâm, có thể bao gồm nhưng không giới hạn ở các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, các mối đe dọa phi truyền thống và an ninh mạng; (ii) hợp tác, bao gồm cả hợp tác giữa EU và Việt Nam trong đấu tranh chống các loại tội phạm như mua bán người, đưa người di cư trái phép, tội phạm mạng, buôn bán ma túy xuyên biên giới, bóc lột tình dục, cũng như ứng phó với các mối đe dọa phi truyền thống thông qua nghiên cứu phát triển thêm các quy trình về di cư hợp pháp trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, cũng như các dịch vụ lãnh sự và cơ chế hợp tác pháp lý và lập pháp nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động phối hợp trong các lĩnh vực này; (iii) đẩy mạnh và củng cố hợp tác hiện có về tương trợ tư pháp, dẫn độ và chuyển giao người bị kết án phạt tù.


HỢP TÁC THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ TĂNG TRƯỞNG XANH


25. Hai bên nhất trí tiếp tục theo đuổi các mục tiêu đầy tham vọng của quan hệ Đối tác chiến lược Xanh song phương trong khuôn khổ Đối tác chiến lược toàn diện bằng cách tiếp tục tăng cường đối thoại chính sách và thúc đẩy các hoạt động, sáng kiến cụ thể về khí hậu, an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và tăng trưởng xanh tại các diễn đàn song phương và đa phương liên quan, bao gồm nhưng không giới hạn ở JETP, P4G, COP (Hội nghị các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu - UNFCCC), IMO và ASEM.


26. Hai bên cam kết tạo thuận lợi cho tăng trưởng xanh và bền vững mạnh mẽ hơn tại Việt Nam thông qua thúc đẩy hợp tác nhằm: (i) giảm phát thải carbon trong lĩnh vực năng lượng và tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo thông qua các Quy hoạch năng lượng quốc gia, Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia và quan hệ Đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP); và (ii) đẩy nhanh triển khai các dự án năng lượng tái tạo.


27. Hai bên khẳng định ủng hộ cải cách các ngân hàng phát triển đa phương nhằm cải thiện khả năng tiếp cận tài chính khí hậu của các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) để ứng phó với biến đổi khí hậu, bất bình đẳng kinh tế, các cuộc khủng hoảng môi trường và y tế. Việt Nam và Đan Mạch cam kết thúc đẩy các khoản đầu tư xanh mang lại lợi ích cho cả hai bên và có trách nhiệm với xã hội.


HỢP TÁC NĂNG LƯỢNG


28. Hai bên coi trọng hợp tác năng lượng chiến lược, bao gồm nhưng không giới hạn ở Chương trình Đối tác năng lượng Đan Mạch - Việt Nam (DEPP), đóng góp vào quá trình chuyển dịch năng lượng xanh công bằng tại Việt Nam thông qua tạo điều kiện phát triển năng lượng sạch và thực hiện các mục tiêu khí hậu dài hạn hướng tới một xã hội phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, tập trung vào quy hoạch hệ thống năng lượng, tích hợp năng lượng tái tạo, khử carbon và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong lĩnh vực công nghiệp.


29. Hai bên ủng hộ và sẵn sàng tạo thuận lợi, khi phù hợp, cho việc thiết lập các quan hệ đối tác công - tư về tăng trưởng xanh giữa các doanh nghiệp và tổ chức Đan Mạch và Việt Nam; thúc đẩy chia sẻ kinh nghiệm về phát triển thể chế và chuyển giao công nghệ sạch, đào tạo, nâng cao năng lực và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam, đặc biệt tập trung vào sử dụng năng lượng hiệu quả, năng lượng tái tạo, quy hoạch điện và năng lượng, công nghệ và giải pháp xanh và bảo vệ môi trường, trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với các bên liên quan như P4G.


HỢP TÁC GIAO THÔNG VẬN TẢI VÀ HÀNG HẢI


30. Hai bên nhất trí nghiên cứu khả năng hợp tác trong các lĩnh vực vận tải biển, hàng không, đường bộ và đường sắt; thúc đẩy kết nối giao thông và logistics; khuyến khích các hãng hàng không mở các đường bay thẳng giữa Việt Nam và Đan Mạch, cũng như các địa điểm thuận lợi khác ở Bắc Âu phù hợp với nhu cầu thị trường hiện tại và phù hợp với Hiệp định Toàn diện về Vận tải Hàng không ASEAN - EU (AE-CATA) cũng như các quy định hiện hành.


31. Hai bên nhất trí khuyến khích hợp tác hàng hải, đặc biệt trong các lĩnh vực thuộc phạm vi Quan hệ Đối tác chiến lược Xanh song phương, bao gồm: (i) chia sẻ kinh nghiệm, đào tạo và nâng cao năng lực; (ii) hàng hải xanh và vận tải đường thủy xanh; (iii) an toàn và an ninh hàng hải; (iv) quản lý và vận hành hệ thống cảng và logistics; (v) đóng tàu; (vi) giảm phát thải trong các hoạt động hàng hải; (vii) nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới cho vận tải biển, cũng như các lĩnh vực liên quan khác, khi phù hợp.


HỢP TÁC Y TẾ VÀ DƯỢC PHẨM


32. Hai bên tái khẳng định cam kết tiếp tục hợp tác chiến lược ngành trong lĩnh vực y tế nhằm củng cố hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Việt Nam trong phòng ngừa, phát hiện, điều trị và quản lý các bệnh không lây nhiễm, bao gồm tiểu đường và tăng huyết áp, thông qua xây dựng chính sách, lập kế hoạch, hướng dẫn và các mô hình thí điểm ở cấp tỉnh và địa phương; đồng thời nghiên cứu cơ hội hợp tác phòng ngừa và giảm thiểu tình trạng kháng thuốc kháng vi sinh vật (AMR), bao gồm hợp tác với các tổ chức chủ chốt như Trung tâm Quốc tế về Giải pháp Chống kháng thuốc (ICARS).


HỢP TÁC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO, LAO ĐỘNG


33. Hai bên đẩy mạnh hơn hợp tác giáo dục và đào tạo phục vụ thị trường lao động, bao gồm hợp tác chiến lược ngành về giáo dục và đào tạo kỹ thuật, nghề nghiệp (TVET), bao gồm cung ứng lao động và an toàn lao động, nhằm đóng góp vào tăng trưởng bền vững, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường liên kết hợp tác giữa các cơ sở đào tạo và trường học của hai bên, và tăng số lượng học bổng dành cho Việt Nam.


HỢP TÁC NÔNG NGHIỆP VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN


34. Hai bên nhất trí tiếp tục thúc đẩy hợp tác, bao gồm tận dụng hợp tác chiến lược ngành đang triển khai trong lĩnh vực nông nghiệp và an toàn thực phẩm để đạt được các kết quả trong và ngoài phạm vi dự án. Hợp tác sẽ được triển khai trong các lĩnh vực nâng cao năng lực quản lý nhà nước, khuôn khổ pháp lý cho sản xuất thực phẩm bền vững, nâng cao an toàn thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, giảm thất thoát và lãng phí thực phẩm, ghi nhãn hữu cơ do Nhà nước kiểm soát, thúc đẩy nông nghiệp xanh và chia sẻ thông tin trong các lĩnh vực như nông nghiệp, sản xuất thực phẩm, bao gồm khai thác và nuôi trồng thủy sản.


HỢP TÁC VỀ THỐNG KÊ


35. Hai bên khuyến khích hợp tác chiến lược ngành đang được triển khai trong lĩnh vực thống kê nhằm hỗ trợ Việt Nam phát triển dữ liệu và thống kê chất lượng cao, đặc biệt là hợp tác giữa Cơ quan Thống kê Đan Mạch và Cơ quan Thống kê Quốc gia Việt Nam, tập trung vào cải thiện khả năng tiếp cận và sử dụng dữ liệu hành chính thông qua số hóa và tích hợp dữ liệu, tăng cường sản xuất, truyền thông và phổ biến số liệu thống kê, nghiên cứu việc sử dụng các nguồn dữ liệu mới và mới nổi cho thống kê chính thức và phát triển các tài khoản môi trường - kinh tế phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế nhằm hỗ trợ việc ra quyết định dựa trên bằng chứng và theo dõi các mục tiêu chuyển đổi xanh quốc gia.


GIAO LƯU NHÂN DÂN VÀ HỢP TÁC GIỮA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG


36. Hai bên ghi nhận chính quyền địa phương và các cơ quan cấp dưới trung ương là một kênh quan trọng để triển khai quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện và thúc đẩy quan hệ song phương sâu sắc hơn, thực chất hơn và có nền tảng rộng hơn.


37. Hai bên ghi nhận và cam kết thúc đẩy hơn nữa mối liên kết ngày càng chặt chẽ giữa nhân dân hai nước thông qua nhiều hoạt động kinh doanh, địa phương, hiệp hội, xã hội và nghề nghiệp nhằm thu hút đầu tư, thúc đẩy thương mại và chia sẻ kinh nghiệm.


38. Hai bên sẽ tiếp tục tăng cường trao đổi và hợp tác trong lĩnh vực văn hóa; khuyến khích hợp tác trực tiếp giữa các tổ chức văn hóa Đan Mạch và Việt Nam trên cơ sở lợi ích chuyên môn chung và cam kết lâu dài, đồng thời thúc đẩy quan hệ giao lưu nhân dân.


39. Hai bên sẽ thúc đẩy hợp tác giữa chính quyền địa phương và các cơ quan cấp dưới trung ương, bao gồm trao đổi đoàn, thiết lập quan hệ đối tác giữa các tỉnh, thành phố và chia sẻ thông lệ hiệu quả nhất trong quản trị địa phương, cải cách hành chính và cung cấp dịch vụ công.


40. Hai bên sẽ khuyến khích chính quyền địa phương xây dựng các chương trình, dự án hợp tác và sáng kiến thí điểm cụ thể trong các lĩnh vực phù hợp với các ưu tiên của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, bao gồm phát triển đô thị xanh và bền vững, chuyển đổi năng lượng, năng lượng tái tạo, giao thông xanh, kinh tế tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, nông nghiệp bền vững, y tế, giáo dục, văn hóa và du lịch.


41. Hai bên tái khẳng định nghĩa vụ theo luật pháp quốc tế về việc tiếp nhận lại công dân của mình trên tinh thần thiện chí và không trì hoãn bất hợp lý, đồng thời cam kết tích cực hợp tác về các phương thức thực tiễn nhằm kịp thời xác định danh tính, cấp giấy tờ đi lại và hồi hương cho những công dân này.


CÁC ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG


42. Trên cơ sở Tuyên bố chung này, hai bên sẽ xây dựng các kế hoạch hành động để triển khai chung, bảo đảm công tác thực hiện hiệu quả.


43. Tuyên bố chung này có hiệu lực kể từ ngày được hai bên thông qua.


Thông qua tại Copenhagen ngày 20 tháng 10 năm 2026, gồm hai văn bản bằng tiếng Anh và tiếng Việt, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau.


Nguyễn Hồng Điệp/TTXVN


Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen trao Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Đan Mạch. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN



20/10/26

Lật tẩy chiêu bài “tị nạn chính trị” của đối tượng khủng bố Nguyễn Văn Đài

 

Nguyễn Văn Đài là đối tượng có bề dày hoạt động chống Đảng, Nhà nước và đã nhiều lần bị bắt, xử lý.



Trong bối cảnh toàn cầu hóa và làn sóng dịch chuyển, di cư quốc tế gia tăng mạnh mẽ, khát vọng tìm kiếm một môi trường sống tốt đẹp hơn, nâng cao thu nhập cho bản thân và gia đình là một nhu cầu hoàn toàn tự nhiên, chính đáng. Song chính khát vọng ấy lại bị một số đối tượng, tổ chức khủng bố, phản động lưu vong và các đường dây môi giới bất hợp pháp lợi dụng để dựng nên chiếc bẫy mang tên “tị nạn chính trị”, trong đó nổi lên đối tượng khủng bố Nguyễn Văn Đài mà Bộ Công an vừa thông tin cảnh báo.


“Tị nạn chính trị” và chân dung đối tượng khủng bố Nguyễn Văn Đài


Trong nhiều năm qua, không ít người sau khi ra nước ngoài vì các lý do, động cơ khác nhau đã coi “tị nạn chính trị” là con đường ngắn nhất để đổi đời nơi xứ người. Không ít đối tượng phản động, khủng bố ở hải ngoại ẩn náu dưới vỏ bọc này để tiến hành các hoạt động kiếm sống và chống phá đất nước.


Sau nhiều thập kỷ hoạt động lừa đảo, môi giới, cưỡng ép nhiều người Việt Nam ở nước ngoài dưới chiêu bài “phong trào đấu tranh dân chủ”, “chuyển lửa về quê nhà” của số đối tượng thuộc tổ chức khủng bố, phản động lưu vong tại hải ngoại đã rơi vào tình trạng mâu thuẫn lợi ích, tranh giành ảnh hưởng và phân rã sâu sắc… Hoạt động của các hội nhóm phản động lưu vong ngày càng mất chỗ đứng, bị cô lập và bị chính cộng đồng người Việt ở nước ngoài lên án, quay lưng. Trong phong trào và tổ chức ngày càng thoái trào, bị tẩy chay nhiều nơi, để có thêm người và mở rộng tổ chức, chúng hướng đến nhóm người Việt Nam ra nước ngoài học tập và làm việc bằng chiêu bài “tị nạn chính trị”. Trong đó, Nguyễn Văn Đài nổi lên là một trong những đối tượng hoạt động tích cực nhất.


Nguyễn Văn Đài là một cái tên quen thuộc không chỉ đối với người Việt Nam ở trong nước mà cả cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đài nổi tiếng không phải là người tài giỏi, có đóng góp gì cho cộng đồng người Việt tại CHLB Đức hay quốc gia nào mà luôn “làm nóng” bởi những phát ngôn, hành động ngông cuồng, tự tô vẽ bản thân và cổ súy cho các hoạt động khủng bố, mồi chài những người Việt Nam ra nước ngoài tham gia vào các hoạt động khủng bố dưới cái mác “tị nạn chính trị”.


Ngày 7/10/2026, Bộ Công an thông báo, căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an xác định đối tượng Nguyễn Văn Đài (sinh ngày 6/5/1969, quốc tịch Việt Nam, nơi ở hiện nay: Cộng hoà Liên bang Đức, thành viên giữ chức “Uỷ viên Trung ương” của tổ chức khủng bố Việt Tân) đã và đang tiến hành hoạt động khủng bố.


Nguyễn Văn Đài là đối tượng có bề dày hoạt động chống Đảng, Nhà nước và đã nhiều lần bị bắt, xử lý. Năm 2007, Nguyễn Văn Đài bị TAND TP Hà Nội tuyên phạt 4 năm tù và 4 năm quản chế về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam” theo Điều 88 Bộ luật Hình sự năm 1999.


Đến năm 2018, Nguyễn Văn Đài bị TAND TP Hà Nội tuyên phạt 15 năm tù và 5 năm quản chế về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 109, Bộ luật Hình sự, sau đó được tạm đình chỉ thi hành án, xuất cảnh sang Đức.


Ngày 5/12/2025, Cơ quan An ninh điều tra, Bộ Công an đã ra quyết định truy nã Nguyễn Văn Đài về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật hình sự. Cùng với Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài bị TAND TP Hà Nội xét xử vắng mặt với bản án 17 năm tù tại phiên xét xử sơ thẩm tháng 12/2025.


Có thể thấy, phần lớn những người bị đối tượng khủng bố Nguyễn Văn Đài lôi kéo vào con đường “tị nạn chính trị” vốn không phải là những phần tử có lịch sử, hoạt động chống đối hay có tư tưởng cực đoan, thù địch với Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Mục tiêu ban đầu khi họ ra nước ngoài nhằm học tập, lao động cũng như hướng đến một cuộc sống tốt hơn và góp sức xây dựng quê nhà. Nhưng sau đó họ bị sa vào cạm bẫy này do sự thiếu hiểu biết về pháp luật di trú, kỹ năng trình độ chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của nước sở tại, đồng thời bị dụ dỗ trước những lời hứa hẹn và thủ đoạn thao túng tâm lý của những đối tượng như Nguyễn Văn Đài và các đối tượng khủng bố, phản động lưu vong.


Sự nguy hiểm trong phương thức, thủ đoạn của Nguyễn Văn Đài và tổ chức khủng bố, phản động lưu vong không chỉ ở việc dụ dỗ, lôi kéo người tham gia các hoạt động biểu tình, trả lời phỏng vấn các kênh thông tin nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam mà còn biến những người vốn ra nước ngoài với mục đích học tập, lao động thành những công cụ, chân rết móc nối vào trong nước phục vụ hoạt động khủng bố, chống phá.


Thậm chí, ngay cả khi một số người chấp nhận đi theo con đường bánh vẽ “tị nạn chính trị” thay vì được giúp đỡ như hứa hẹn thì họ lại bị chính những đối tượng trên ép đóng những khoản chi phí đắt đỏ, không tên, không rõ mục đích để rồi thứ mà bản thân nhận lại là “nợ chồng nợ” và ngày càng phụ thuộc vào các đối tượng trên, tiền mất, danh dự không còn, người thân quay lưng, đường về mờ mịt. Một khi đã sa vào vũng lầy thì họ bị các đối tượng trên tiếp tục khống chế về tâm lý cũng như đánh mất khả năng tự quyết của chính bản thân mình, biến mình thành đối tượng phạm tội, khủng bố lúc nào không hay.


Nâng cao nhận thức và sự cảnh giác


Trong thế giới phẳng ngày nay, việc mỗi người đi, đến hay định cư ở một quốc gia nào đó hoàn toàn là quyền cá nhân, quan trọng là có đáp ứng được các yêu cầu của nước sở tại khi đến định cư hay không. Với nhiều người Việt Nam, việc đi ra nước ngoài học tập, làm việc và định cư, đến các nước phát triển là một sự lựa chọn bởi đất nước ta đang ngày càng mở rộng quan hệ hợp tác, phát triển kinh tế, hội nhập sâu rộng.


Nhưng ở một khía cạnh khác, vẫn còn những người thiếu năng lực, trình độ, không đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện lao động, làm việc, định cư tại nước ngoài, nhất là các nước phát triển nhưng vẫn luôn mang trong mình giấc mộng đổi đời, phù hoa. Cũng có người có chút năng lực nhưng ảo tưởng mình là tài năng, là hiếm có, cho rằng ở trong nước “nhân tài không được trọng dụng” nên tự lựa chọn đi theo bánh vẽ “tị nạn chính trị”.


Thực tế cho thấy, không ít đối tượng sau khi rời khỏi Việt Nam đã tham gia vào các hoạt động của Nguyễn Văn Đài và tổ chức khủng bố, phản động lưu vong, sau một thời gian thực hiện đã vỡ mộng với “giấc mơ miền đất hứa”, sống chật vật trong các trại tị nạn ở nước thứ ba…


Con đường “tị nạn chính trị” mà đối tượng Nguyễn Văn Đài và các tổ chức khủng bố, phản động lưu vong vẽ ra thực chất chỉ là một ảo vọng mơ hồ nơi xứ người. Tương lai chưa thấy nhưng điều đang chờ đợi họ là một vòng tròn bất ổn, phạm pháp, không có nơi ở hay công việc ổn định, luôn đứng trước nguy cơ bị xử lý về mặt pháp luật và trục xuất khỏi quốc gia sở tại. Ngay cả chính những đối tượng tự coi là “có kinh nghiệm” còn không chắc được cuộc sống ổn định nơi xứ người và bị chính cộng đồng người Việt ở nước sở tại quay lưng thì lấy điều gì để đảm bảo tương lai qua những lời hứa viển vông về một tương lai “tị nạn chính trị”.


Trước âm mưu, thủ đoạn của các tổ chức khủng bố, phản động lưu vong ở nước ngoài, mỗi người khi làm thủ tục đi lao động, học tập ở nước ngoài cần tìm hiểu kỹ về cá nhân, tổ chức môi giới, nâng cao cảnh giác không tin theo những lời hứa hẹn, dụ dỗ về bánh vẽ “tị nạn chính trị”, không tham gia, đóng tiền cho các hội nhóm trá hình đội lốt “tổ chức xã hội dân sự” mà thực chất là vỏ bọc ngụy trang của tổ chức khủng bố, phản động. Khi tham gia hội luận, hội thảo ở nước ngoài, cần xem xét rõ bản chất của các đơn vị, cá nhân tổ chức sự kiện để tránh bị lợi dụng.


Đối với các gia đình trong nước có người thân đi lao động, học tập tại nước ngoài cũng cần kịp thời thông tin cho người thân hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn của các tổ chức phản động, khủng bố, phòng ngừa bị lôi kéo, kích động. Mọi hành vi tham gia tổ chức phản động, khủng bố là vi phạm pháp luật hình sự Việt Nam và sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.


Các hoạt động của đối tượng Nguyễn Văn Đài và các phần tử khủng bố, phản động lưu vong đã và đang gây ra những tác động xấu đến hình ảnh đất nước đối với quốc tế và sự ổn định của Việt Nam. Việc nhận diện rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng này và những thành phần tương tự là hết sức cần thiết để bảo vệ lợi ích quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình và phát triển bền vững.


Tuệ Thiên - Bình Nguyên 


Báo CAND 


Ảnh: Bộ Công an thông báo về đối tượng khủng bố Nguyễn Văn Đài.

#HSV 

#HSVChongDienBienHoabinh

Phản bác luận điệu xuyên tạc Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EFTA

 


Ngay sau khi Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch Tự do Châu Âu (EFTA) được ký tại Hà Nội ngày 18/10/2026, một số tài khoản trên không gian mạng đã vội đăng tải quan điểm cho rằng Việt Nam hao tổn thời gian, công sức suốt 14 năm chỉ để ký với một khối bốn nước, thay vì Liên minh châu Âu (EU) rộng lớn và rằng một thị trường khoảng 15 triệu dân thì chẳng mang lại giá trị gì. Cách nói ấy dễ thu hút vì chỉ dựa vào những con số dễ đếm là số nước và số dân. Nhưng khi đặt cạnh số liệu thương mại, nội dung hiệp định và lợi ích thực tế của doanh nghiệp, luận điệu ấy lộ rõ sự phiến diện, thậm chí xuyên tạc bản chất của một thỏa thuận kinh tế có lợi cho Việt Nam.


Lấy số nước và số dân làm thước đo giá trị của một thị trường là cách đo thiếu căn cứ. Giá trị của thị trường nằm ở sức mua, nhu cầu nhập khẩu, độ ổn định và khả năng bổ trợ cho nền sản xuất của đối tác. EFTA gồm Iceland, Liechtenstein, Na Uy và Thụy Sĩ, tuy chỉ có khoảng 15 triệu dân nhưng nhập khẩu hàng hóa khoảng 630 tỷ USD mỗi năm; đều là những nền kinh tế có thu nhập bình quân đầu người thuộc nhóm cao nhất thế giới, với người tiêu dùng khắt khe về chất lượng, tiêu chuẩn và tính bền vững. Một thị trường nhỏ về dân số nhưng lớn về sức mua và yêu cầu cao về chất lượng không thể bị coi là vô giá trị.


Thực tế thương mại đã trả lời rõ hơn mọi so sánh về quy mô. Năm 2025, kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và bốn nước EFTA đạt khoảng 4,8 tỷ euro, chưa tính thương mại vàng của Thụy Sĩ. Trong đó Việt Nam xuất siêu khoảng 2,5 tỷ euro, gấp năm lần mức 0,5 tỷ euro của một thập kỷ trước. Máy móc thiết bị điện, giày dép, hàng may mặc và máy móc cơ khí là những nhóm hàng EFTA nhập từ Việt Nam nhiều nhất và các nhóm này đều tăng trưởng bình quân trên 10% mỗi năm trong mười năm qua. Điều đáng chú ý là mức tăng ấy đạt được khi hai bên chưa có hiệp định thương mại tự do song phương. Một thị trường bị cho là chẳng đem lại giá trị gì khó có thể tạo ra kết quả như vậy.


Giá trị của EFTA còn nằm ở vốn đầu tư và công nghệ. Đến ngày 30/9/2026, Thụy Sĩ có 247 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký khoảng 2,5 tỷ USD, xếp thứ 20 trong 154 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Na Uy cũng có hơn 60 dự án với vốn đăng ký hơn 201 triệu USD tính đến cuối năm 2025. Thế mạnh của khối này ở cơ khí chính xác, tự động hóa, thiết bị y tế, năng lượng sạch và nuôi trồng thủy sản trùng với những lĩnh vực Việt Nam đang cần để nâng cấp công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nghề và chuyển đổi xanh. Hai nền kinh tế vì thế bổ trợ cho nhau: một bên có công nghệ, tiêu chuẩn và năng lực quản trị, bên kia có năng lực sản xuất, nguồn nhân lực và vị trí kết nối với ASEAN.


Nội dung hiệp định cũng cho thấy đây không phải thỏa thuận cắt giảm thuế đơn thuần. Hiệp định bao trùm hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ và phát triển bền vững. Khi hiệp định có hiệu lực, các nước EFTA cam kết duy trì việc xóa bỏ toàn bộ thuế nhập khẩu đối với hàng công nghiệp và thủy sản có xuất xứ từ Việt Nam. Về phần mình, Việt Nam mở cửa theo lộ trình, tối đa 11 năm với phần lớn hàng công nghiệp và thủy sản của EFTA, tối đa 16 năm với phô mai, cà phê, sô cô la, để doanh nghiệp trong nước có thời gian thích ứng. Với nông sản, ưu đãi dựa trên lợi ích và mức độ nhạy cảm riêng của mỗi bên, nên đây không phải tấm vé miễn thuế cho mọi mặt hàng. Quy tắc xuất xứ cho phép cộng gộp nguyên liệu từ một số nước ASEAN hoặc từ EU đối với hàng phi nông sản, giúp doanh nghiệp Việt linh hoạt hơn trong chuỗi cung ứng.


Càng không có cơ sở để dựng EFTA đối lập với EU như thể chọn bên này là bỏ bên kia. Việt Nam đã có Hiệp định EVFTA với EU và hiệp định VEFTA với EFTA là bước mở thêm các thị trường châu Âu nằm ngoài EU, chứ không thay thế hay làm suy yếu những gì đã có. Đại sứ Thụy Sĩ tại Việt Nam cũng nhận xét rằng cả hai phía đều có mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng, song cho đến nay chưa có hiệp định song phương nào giữa họ. Quy tắc cộng gộp xuất xứ với nguyên liệu từ EU là minh chứng rõ rằng hai khuôn khổ này bổ sung cho nhau, không loại trừ nhau. Với một nền kinh tế mở cần đa dạng hóa thị trường, đây là thêm một lựa chọn, không phải một sự đánh đổi.


Còn về con số “14 năm” bị đem ra để chê bai, cần nhìn đúng diễn biến. Đàm phán khởi động ngày 02/7/2012 tại Hà Nội, trải qua 16 vòng đến năm 2018 thì chậm lại do thiếu tiến triển, rồi được nối lại ngày 08/9/2025 và chỉ qua năm vòng đã kết thúc ngày 02/7/2026, tức là chưa đầy mười tháng. Một hiệp định toàn diện, đàm phán cùng lúc với bốn đối tác trên rất nhiều lĩnh vực, chỉ hoàn tất khi các bên cùng sẵn sàng. Thời gian đàm phán dài hay ngắn không quyết định giá trị của hiệp định, điều quyết định là nội dung đạt được và cách tận dụng sau khi có hiệu lực.


Dĩ nhiên, hiệp định mới ký, các bên còn phải hoàn tất phê chuẩn và mục tiêu đặt ra là hiệp định có hiệu lực từ đầu năm 2027. Lợi ích chỉ thành hiện thực khi doanh nghiệp nắm vững quy tắc xuất xứ, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường và cơ quan quản lý thực thi đầy đủ các cam kết. Như Bộ trưởng Bộ Công Thương nhấn mạnh, giá trị của hiệp định không đo bằng số dòng thuế được cắt giảm mà bằng số dự án được triển khai. Phản biện thẳng thắn về cách tận dụng cơ hội là điều cần thiết, nhưng dùng số nước và số dân để phủ nhận giá trị của hiệp định thì không còn là phản biện mà là xuyên tạc. Bốn nước, khoảng 15 triệu dân, nhưng cùng với 4,8 tỷ euro kim ngạch, hàng tỷ USD vốn đầu tư, công nghệ nguồn và những cánh cửa thị trường mới, EFTA xứng đáng là một đối tác quan trọng của Việt Nam.



18/10/26

VẠCH TRẦN SỰ XẢO NGÔN VÀ DỐT NÁT CỦA KẺ XUYÊN TẠC LỊCH SỬ

 



Bài đăng của tài khoản Phan Châu Thành giễu cợt Thầy thuốc Nhân dân, Bác sĩ Trần Văn Bản về cụm từ "đinh 5 tấc" găm trên hài cốt liệt sĩ Mậu Thân 1968 là một sự xuyên tạc tráo trở. Kẻ này đã cố tình cắt ghép hình ảnh, dùng tư duy cơ học máy móc để chế giễu một nhân chứng lịch sử. Tuy nhiên, chính hành vi chộp giật đó đã lập tức phơi bày sự dốt nát và ác ý của họ qua hai điểm logic cốt lõi sau:

Trước hết, kẻ xuyên tạc bộc lộ sự dốt nát thảm hại về kiến thức chuyên môn y khoa và văn hóa.

Nghe cụm từ "đinh 5 tấc", họ vội vã quy đổi máy móc theo hệ mét hiện đại: 1 tấc = 10 cm, để suy ra cây đinh dài nửa mét (50 cm) rồi cười cợt là hoang đường. Họ hoàn toàn mù tịt về kiến thức nhân trắc học và hệ ngôn ngữ của người làm ngành y.

Đối với một bác sĩ quân y kỳ cựu như cụ Trần Văn Bản, khi nhìn nhận và mô tả vết thương trên cơ thể người, ông sẽ sử dụng phản xạ hệ chiếu sinh học — cụ thể là đơn vị "thốn" (tấc y học). Một tấc sinh học được tính bằng chiều dài đốt ngón tay giữa của chính người đó, dao động từ 1,8 cm đến 2 cm. Phép tính nhân chuyên môn vô cùng đơn giản: 5 tấc y học chính là khoảng 9 cm đến 10 cm. Kẻ xuyên tạc không có một chút kiến thức y khoa, nên đã lấy cây thước mét của thợ mộc để đo đạc một thuật ngữ sinh học chuyên môn.

Hai là, sự xảo ngôn bộc lộ ở động cơ ác ý nhằm bôi nhọ nhân chứng và phủ nhận tội ác chiến tranh.

Kẻ xuyên tạc cố tình phớt lờ bối cảnh vị bác sĩ già ngoài 80 tuổi đang phát biểu trong niềm nghẹn ngào, u uất trước hương hồn đồng đội tại Công viên Lê Thị Riêng. Dù là dưới góc nhìn thuật ngữ y học (đinh dài 9-10 cm) hay ngay cả trong trường hợp giả định một cụ già lỡ lời nói nhầm giữa "phân" và "tấc", thì đó cũng là lỗi diễn đạt hoàn toàn dễ thông cảm. Nhưng kẻ xuyên tạc bất chấp sự thật, họ lập tức chộp lấy con số 50 cm tự suy diễn làm công cụ để hạ bệ uy tín của một người thầy thuốc. Mục đích tối thượng của sự xảo ngôn này là hướng dư luận đến sự hoài nghi, hòng phủ nhận những tội ác tra tấn tàn bạo mà kẻ thù đã gieo rắc lên thân thể các chiến sĩ.

Tóm lại, dù kẻ xuyên tạc có cố tình bẻ cong câu chữ, sự thật lịch sử vẫn là bằng chứng đanh thép bác bỏ mọi xảo ngôn của y. Những cây đinh sắt dài 9 cm – tương đương đúng 5 tấc sinh học – hiện vẫn đang được lưu giữ trang nghiêm tại các bảo tàng di tích lịch sử, là minh chứng cho sự hy sinh của các liệt sĩ. Việc lấy cây thước đo cơ học để bắt bẻ một thuật ngữ y khoa không những không hạ thấp được giá trị lời nói của người bác sĩ, mà trái lại, đã tự đóng dấu vết nhơ về sự dốt nát và suy đồi nhân cách của kẻ xuyên tạc trước lịch sử.

17/10/26

Cần tỉnh táo trước những “quan điểm khác” chủ trương của Đảng về trọng dụng nhân tài

 Cần tỉnh táo trước những “quan điểm khác” chủ trương của Đảng về trọng dụng nhân tài



Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, việc xây dựng cơ chế phát hiện, thu hút, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài là yêu cầu khách quan. Tuy nhiên, trước những chủ trương mới của Đảng về thu hút, trọng dụng nhân tài, trong dư luận và trên không gian mạng có những hoài nghi, quan ngại, cả những suy diễn lệch lạc, những luận điệu bôi nhọ, chống phá chế độ đòi hỏi cần cách nhìn tỉnh táo, đảm bảo tính toàn diện, khách quan.


Trong phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gợi mở những vấn đề trọng tâm để Trung ương tập trung thảo luận, xem xét và quyết định, trong đó có vấn đề đổi mới công tác cán bộ, trọng dụng nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định, Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững” phải xuất phát từ những nhiệm vụ chiến lược và năng lực đất nước đang thiếu. Cần đào tạo, thu hút, kết nối nhân tài ra sao để làm chủ công nghệ, nâng năng suất và sức tự chủ? Trọng dụng là khâu then chốt, tạo nguồn là công việc căn bản, lâu dài.


Chiều 8/10/2026, phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định, Trung ương đã quyết định đổi mới công tác cán bộ và chính sách thu hút, sử dụng nhân tài, chuẩn bị đội ngũ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Trên cơ sở tổng kết Nghị quyết số 26, Trung ương thông qua Nghị quyết mới về cán bộ và công tác cán bộ; đồng thời thông qua Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”.


Nghị quyết xác định 3 đột phá: đánh giá, lựa chọn, sử dụng và sàng lọc cán bộ; tạo nguồn, phát triển đội ngũ và trọng dụng nhân tài; hoàn thiện thể chế và phương thức quản trị cán bộ.


Liên quan Đề án này, tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIV (diễn ra từ ngày 5 đến 8/10/2026), Trung ương thống nhất xác định nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia, có vai trò quan trọng trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và sức mạnh tổng hợp của đất nước. Mục tiêu đặt ra là xây dựng hệ thống quản trị nhân tài quốc gia hiện đại, thống nhất, hiệu quả, có sức cạnh tranh quốc tế, hình thành đội ngũ nhân tài chất lượng cao đủ khả năng giải quyết những bài toán lớn và thực hiện các nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Đây là định hướng quan trọng nhằm cụ thể hóa yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong giai đoạn mới.


Tuy nhiên, trước những chủ trương về đổi mới công tác cán bộ, thu hút và trọng dụng nhân tài, việc xuất hiện các ý kiến băn khoăn, quan ngại, những tranh luận về tính khả thi, cơ chế thực hiện, tiêu chí tuyển chọn và chính sách đãi ngộ là điều cần được nhìn nhận khách quan. Bên cạnh những ý kiến phản biện có cơ sở, khi xuất hiện thông tin sai lệch, suy diễn hoặc quy kết thiếu căn cứ về mục tiêu và nội dung chính sách, những thông tin đó cần được kiểm chứng, phân tích và làm rõ trên cơ sở văn bản chính thức. Không thể lấy những hạn chế trong thực tiễn, những vụ việc tiêu cực để mặc nhiên phủ nhận toàn bộ chủ trương; đồng thời cũng không thể lấy mục tiêu đúng đắn làm lý do né tránh những vấn đề cần khắc phục trong quá trình thực hiện.


Một số quan điểm cho rằng, chủ trương thu hút và trọng dụng nhân tài chỉ mang tính hình thức, được nêu ra nhiều nhưng khó đi vào thực tiễn. Lập luận này thường xuất phát từ những băn khoăn về tình trạng sử dụng nhân lực chưa phù hợp, cơ chế tuyển dụng còn bất cập hoặc người có năng lực chưa được tạo điều kiện phát huy sở trường. Tuy nhiên, từ những hạn chế cụ thể để đi đến kết luận rằng toàn bộ chủ trương không có giá trị thực tiễn là cách đánh giá chưa toàn diện.


Cần phân biệt rõ mục tiêu chính sách, chất lượng thiết kế cơ chế và hiệu quả tổ chức thực hiện. Một chính sách chỉ thực sự phát huy tác dụng khi được cụ thể hóa thành quy định rõ ràng, có nguồn lực bảo đảm, có cơ chế giám sát và được đánh giá bằng kết quả thực chất. Vì vậy, thay vì phủ nhận chủ trương, điều cần thiết là xác định đúng những điểm nghẽn, làm rõ trách nhiệm và đề xuất giải pháp khắc phục.


Cũng có ý kiến cho rằng, việc dành cơ chế đặc thù cho nhân tài sẽ tạo ra đặc quyền, đặc lợi, làm mất công bằng trong tuyển dụng và sử dụng nhân lực. Đây là vấn đề cần được xem xét trên cơ sở phân biệt giữa đãi ngộ tương xứng với năng lực, đóng góp và việc trao lợi ích thiếu căn cứ. Trọng dụng nhân tài không đồng nghĩa với việc trao quyền hoặc ưu đãi vô điều kiện cho một nhóm người.


Ngược lại, chính sách này chỉ có thể đạt hiệu quả khi đi đôi với tiêu chí tuyển chọn khách quan, quy trình công khai, đánh giá bằng kết quả công việc và trách nhiệm giải trình. Người có bằng cấp cao, học hàm, học vị hoặc thành tích nổi bật cần được xem xét trên cơ sở năng lực thực tế và yêu cầu nhiệm vụ chứ không thể mặc nhiên được coi là phù hợp với mọi vị trí. Một cơ chế trọng dụng nhân tài đúng nghĩa phải bảo đảm vừa khuyến khích người có năng lực cống hiến, vừa ngăn ngừa lợi dụng chính sách để trục lợi cá nhân.


Một số ý kiến khác cho rằng, Việt Nam chỉ cần tập trung đào tạo nhân lực trong nước, không cần chú trọng thu hút chuyên gia từ nước ngoài hoặc ngược lại cho rằng, muốn phát triển nhanh thì phải dựa chủ yếu vào nhân lực được đào tạo ở nước ngoài. Cả hai cách tiếp cận nếu tuyệt đối hóa một nguồn lực đều chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu phát triển. Thực tiễn cho thấy, xây dựng đội ngũ nhân tài cần kết hợp nhiều giải pháp: phát hiện và bồi dưỡng người có năng lực trong nước; tạo điều kiện để chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp; đồng thời tiếp thu tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quản trị tiên tiến của thế giới. Điều quan trọng không phải là nhân tài được đào tạo ở đâu, mà là năng lực của họ có phù hợp với nhiệm vụ, có tạo ra giá trị thực chất và có được phát huy trong một môi trường làm việc thích hợp hay không.


Đáng chú ý, việc thu hút người tài không thể chỉ dừng lại ở chính sách tiền lương, tiền thưởng hoặc những lời kêu gọi cống hiến. Người có năng lực cần được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, được giao nhiệm vụ phù hợp, có cơ hội tiếp cận nguồn lực, được bảo đảm điều kiện nghiên cứu và sáng tạo, đồng thời được đánh giá công bằng theo kết quả thực hiện nhiệm vụ. Nếu cơ chế quản lý còn nặng tính hành chính, thủ tục phức tạp, đánh giá thành tích hình thức hoặc chưa bảo vệ đầy đủ những người dám đổi mới vì lợi ích chung thì khả năng thu hút và giữ chân nhân tài sẽ bị hạn chế. Bởi vậy, trọng dụng nhân tài phải gắn liền với đổi mới thể chế, cải thiện môi trường làm việc, nâng cao chất lượng quản trị và xây dựng văn hóa tôn trọng tri thức, khuyến khích sáng tạo.


Một vấn đề khác cần được nhìn nhận thẳng thắn là mối quan hệ giữa chính sách trọng dụng nhân tài và công tác cán bộ. Không thể đồng nhất người có chuyên môn giỏi với người đương nhiên phù hợp để đảm nhiệm vị trí lãnh đạo, quản lý; cũng không thể xem việc bổ nhiệm vào chức vụ cao là thước đo duy nhất của sự trọng dụng. Trong nhiều lĩnh vực, nhân tài có thể phát huy giá trị lớn nhất thông qua nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, giảng dạy, khám chữa bệnh, đổi mới sản xuất hoặc giải quyết những vấn đề chuyên môn phức tạp. Vì vậy, cần xây dựng các cơ chế sử dụng nhân lực linh hoạt, phù hợp với đặc thù ngành nghề, coi trọng sản phẩm và hiệu quả công việc, tạo điều kiện để người có năng lực đóng góp mà không bị giới hạn bởi tư duy coi chức vụ là con đường duy nhất để khẳng định giá trị.


Từ thực tiễn đó, việc đánh giá chủ trương thu hút và trọng dụng nhân tài phải dựa trên những tiêu chí cụ thể, có thể kiểm chứng. Các cơ quan có thẩm quyền cần công khai tiêu chuẩn tuyển chọn, quy trình đánh giá, chế độ đãi ngộ, trách nhiệm của người được tuyển dụng và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Cần có cơ chế kiểm tra, giám sát nhằm ngăn ngừa tình trạng tuyển chọn dựa trên quan hệ cá nhân, thiên vị hoặc lợi ích nhóm, đồng thời xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng chính sách. Đối với những trường hợp người có năng lực chưa được sử dụng đúng mức, cần làm rõ nguyên nhân từ cơ chế, tổ chức thực hiện hay điều kiện khách quan để có biện pháp khắc phục phù hợp. Đây là cách tiếp cận vừa bảo đảm tính nghiêm túc trong thực hiện chủ trương, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia.


Đường lối phát triển đất nước được xác định tại Đại hội XIV của Đảng cũng nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Những định hướng này gắn với yêu cầu giải phóng các nguồn lực, nâng cao năng suất lao động, xây dựng nền kinh tế có năng lực cạnh tranh và tăng cường sức mạnh tự chủ của quốc gia.


Trên không gian mạng, các thông tin liên quan đến chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài cần được tiếp nhận với tinh thần tỉnh táo, khách quan. Khi gặp những nhận định cho rằng chính sách chỉ nhằm phục vụ lợi ích của một nhóm người hoặc khẳng định việc triển khai chắc chắn không đem lại kết quả, người đọc cần kiểm tra nguồn tin, đối chiếu nội dung văn bản và xem xét các bằng chứng được đưa ra. Những cáo buộc cụ thể phải được xác minh trên cơ sở tài liệu và sự kiện; không nên mặc nhiên coi mọi ý kiến trái chiều là sai trái, cũng không nên tiếp nhận các kết luận chưa có căn cứ như sự thật đã được chứng minh. Phản biện có trách nhiệm phải dựa trên dữ liệu, lập luận rõ ràng và tinh thần xây dựng; phản bác thông tin sai lệch cũng phải tuân thủ chính những yêu cầu đó. Với những luận điệu vin cớ những tồn tại, những vụ việc tiêu cực trong công tác cán bộ để quy kết, chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ chế độ thì cần phải đấu tranh, loại trừ.


Cùng với đó, cần chú trọng giải quyết những nguyên nhân thực tế làm phát sinh sự hoài nghi, bi quan. Khi cơ chế tuyển chọn minh bạch hơn, người có năng lực được đánh giá công bằng hơn, chế độ đãi ngộ gắn với đóng góp rõ ràng hơn và những hạn chế trong thực hiện được kịp thời khắc phục, niềm tin vào chính sách sẽ được củng cố bằng kết quả thực tế. Công tác tuyên truyền, giải thích vì vậy cần gắn với đối thoại, công khai thông tin và trách nhiệm giải trình; không chỉ khẳng định mục tiêu mà còn làm rõ cách thức triển khai, kết quả đạt được và những vấn đề đang tiếp tục được giải quyết.


Đối với các cơ quan, đơn vị, việc thực hiện chủ trương thu hút và trọng dụng nhân tài phải bắt đầu từ đổi mới nhận thức và phương pháp quản lý. Người đứng đầu cần quan tâm phát hiện người có năng lực, giao nhiệm vụ đúng sở trường, tạo điều kiện để cán bộ, chuyên gia phát huy sáng kiến và đánh giá công việc trên cơ sở kết quả cụ thể. Các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp cần tăng cường liên kết, tạo môi trường để tri thức được chuyển hóa thành sản phẩm, công nghệ và giá trị kinh tế - xã hội. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên và người lao động, cần chủ động học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát huy tinh thần trách nhiệm và đóng góp bằng kết quả công việc thực chất.


Nhìn tổng thể, thu hút và trọng dụng nhân tài không phải là nhiệm vụ có thể hoàn thành chỉ bằng một văn bản hoặc một đợt tuyển dụng mà là quá trình lâu dài đòi hỏi sự phối hợp giữa thể chế, nguồn lực, môi trường làm việc và chất lượng tổ chức thực hiện. Việc nhận diện, phản bác những thông tin sai lệch về chủ trương này cần gắn với yêu cầu tôn trọng sự thật, bảo đảm tính khách quan và chủ động hoàn thiện chính sách, khắc phục những tồn tại, hạn chế. Những ý kiến góp ý có căn cứ cần được tiếp thu; những hạn chế trong thực tế cần được rà soát và xử lý; những nhận định suy diễn, thiếu bằng chứng cần được làm rõ bằng thông tin chính xác và lập luận khoa học.


TS. Thượng tá Trần Thị Thuý Hà, Học viện Cảnh sát nhân dân

Báo CAND 

#HSV 

#HSVChongDienBienHoaBinh 

#HSVTrongDungNhanTai

15/10/26

Trọng dụng tốt nhân tài để có những “hiền tài” cống hiến cho đất nước

 

Nhấn mạnh trọng dụng nhân tài là khâu có ý nghĩa quyết định đối với việc phát huy trí tuệ con người Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn khẳng định, khi được trọng dụng tốt, nhân tài sẽ trở thành những “hiền tài”, đem tài năng của mình phục vụ cho xã hội, phục vụ cho đất nước, góp phần đưa đất nước phát triển.


Đánh giá cán bộ phải căn cứ vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ


Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV vừa qua, Trung ương đã quyết nghị thông qua một số văn kiện, trong đó có: Nghị quyết về tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp và đổi mới căn bản, toàn diện công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Kết luận về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững.


Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, khẳng định đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước đã có những đóng góp quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước.


Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy công tác cán bộ còn những vấn đề hạn chế, bất cập cần phải đánh giá một cách đầy đủ và rút ra bài học kinh nghiệm. Điều này đã được Trung ương nhận diện, bàn kỹ lưỡng và đưa ra 3 khâu đột phá trong Nghị quyết mới.


“Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Nếu không đột phá vào công tác cán bộ, không đột phá vào cái “gốc” này thì thành quả cách mạng sẽ bị hạn chế, niềm tin của nhân dân đối với Đảng có thể suy giảm”, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nhấn mạnh.


Bên cạnh yêu cầu chủ quan nói trên, ông cho rằng yêu cầu khách quan của sự phát triển đất nước cũng buộc công tác cán bộ phải thay đổi.


Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới với khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Muốn hiện thực hóa mục tiêu này, cùng với việc tận dụng tốt các cơ hội thì tạo đột phá trong công tác cán bộ, từ khâu đánh giá, lựa chọn, sàng lọc cán bộ đến thu hút, sử dụng và trọng dụng nhân tài, có ý nghĩa hết sức quan trọng.


Nghị quyết mới về công tác cán bộ nêu rõ, phải căn cứ yêu cầu nhiệm vụ để tạo nguồn, đào tạo, bố trí cán bộ; dùng kết quả đánh giá để lựa chọn, sàng lọc, bảo đảm kế thừa qua các nhiệm kỳ. Phẩm chất, bản lĩnh, thực tài, uy tín phải thể hiện qua kết quả công việc; đánh giá kết quả phải xét độ khó của nhiệm vụ, điều kiện thực hiện và giá trị lâu dài.


Theo Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, việc Nghị quyết nhấn mạnh quan điểm lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ làm thước đo phẩm chất, đạo đức và năng lực của cán bộ là rất đúng đắn, đồng thời có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Ông cho rằng, không thể chỉ dựa vào những nhận xét chung chung, hồ sơ thành tích hay sự khéo léo trong quan hệ công tác để đánh giá một cán bộ. Có những người giỏi tạo dựng hình ảnh, giỏi làm hài lòng cấp trên nên được đề bạt nhanh chóng, nhưng khi đảm nhận những vị trí quan trọng lại không đáp ứng được yêu cầu, thậm chí ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức.


Ngược lại, có những cán bộ thực sự năng động, sáng tạo, biết vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn địa phương, đơn vị, tạo ra những kết quả phát triển rõ rệt. Tuy nhiên, những thành tích và sáng kiến đó đôi khi chưa được đánh giá đúng mức, chưa được nhân rộng, người có năng lực cũng chưa được bố trí vào những vị trí tương xứng.


“Đánh giá cán bộ phải nhìn vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ, biểu hiện qua việc làm, qua niềm tin của nhân dân đối với cán bộ. Cán bộ có công trình đổi mới sáng tạo mang tính địa phương thì rõ ràng là người có tài, nếu mang tính quốc gia thì đó là tài năng, là nhân tài của đất nước, phải được trọng dụng. Cho nên tôi rất ủng hộ chủ trương của Trung ương cũng như kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị Trung ương 4 vừa qua”, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nói.


Song song những đổi mới về công tác đánh giá cán bộ, điểm đáng chú ý nữa trong Nghị quyết mới của Trung ương là quy định người đánh giá, giới thiệu và bố trí cán bộ phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nhận định đây là một yêu cầu rất quan trọng. Từ trước đến nay, việc lựa chọn và giới thiệu người đảm nhận những vị trí nhất định luôn đi kèm với trách nhiệm của người lựa chọn. Tuy nhiên, cơ chế xác định và xử lý trách nhiệm đối với người giới thiệu, lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ chưa phải lúc nào cũng rõ ràng, đầy đủ.


“Khi một người được giao trách nhiệm giới thiệu, lựa chọn cán bộ vào vị trí lãnh đạo, quản lý, họ phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Nếu người được lựa chọn sau đó bộc lộ những hạn chế nghiêm trọng về phẩm chất, năng lực hoặc vi phạm kỷ luật, pháp luật, cần xem xét quá trình tuyển chọn, đánh giá và bổ nhiệm để xác định trách nhiệm của những người liên quan”, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn nhấn mạnh.


Bên cạnh đó, theo Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, cần đổi mới thực chất công tác đánh giá và bỏ phiếu tín nhiệm đối với cán bộ. Việc đánh giá không nên dừng lại ở những nhận xét mang tính hình thức, mà phải chỉ rõ ai thực sự có năng lực nổi bật, ai hoàn thành nhiệm vụ ở mức trung bình, ai không đáp ứng yêu cầu.


Đối với cán bộ năng động, sáng tạo, có kết quả công việc tốt, cần ghi nhận tín nhiệm cao và tạo điều kiện phát triển. Với những người chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở mức trung bình trong thời gian dài, không có chuyển biến, hoặc tín nhiệm thấp, cần xem xét bố trí lại để mở đường cho những người có trách nhiệm, có đạo đức, có năng lực thay thế.


Trọng dụng nhân tài phải gắn liền với chế độ đãi ngộ tương xứng


Cũng tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIV, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thống nhất nhận định nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia, giữ vai trò quan trọng dẫn dắt phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển lực lượng sản xuất mới, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực tự chủ chiến lược và sức mạnh tổng hợp của đất nước.


Trên cơ sở đó, Trung ương đã thông qua Đề án “Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”. Chiến lược đặt trọng dụng ở vị trí then chốt, gắn thu hút với đào tạo, phát triển và cống hiến; yêu cầu căn cứ nhiệm vụ chiến lược để tìm người, giao việc, trao quyền, bảo đảm nguồn lực; giữ người bằng môi trường làm việc, cơ hội sáng tạo, ghi nhận xứng đáng.


Theo Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, có 3 điểm nghẽn lớn trong phát hiện, thu hút và sử dụng nhân tài hiện nay. Điểm nghẽn thứ nhất đã được tháo gỡ, đó là chủ trương của Đảng. Thời gian qua, vấn đề thu hút, trọng dụng nhân tài được đề cập đến nhiều nhưng chưa có những chủ trương quyết liệt. Việc Trung ương thông qua chiến lược lần này sẽ tạo cơ sở để thúc đẩy quá trình đó một cách đồng bộ, nhất quán hơn.


Điểm nghẽn thứ hai là thái độ đối xử với người tài. Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn cho rằng, đây là điểm nghẽn rất lớn, thậm chí có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả trọng dụng nhân tài. Người có năng lực thực sự thường có chính kiến, có khả năng phát hiện vấn đề và đề xuất những cách làm mới. Họ cần được tôn trọng, được tin tưởng và được tạo điều kiện để phát huy năng lực. Vì vậy, người lãnh đạo phải có tầm nhìn, có khả năng nhận diện tài năng và sẵn sàng giao nhiệm vụ tương xứng cho những người có năng lực.


Nếu người đứng đầu không đánh giá đúng nhân tài, không tạo điều kiện cho họ làm việc, thậm chí có tâm lý e ngại người giỏi hơn mình, thì dù có chính sách tốt đến đâu cũng khó phát huy hiệu quả. Khi không được tôn trọng và không có cơ hội cống hiến, người tài có thể rời khỏi khu vực công, chuyển sang môi trường khác hoặc ra nước ngoài làm việc. Đất nước không chỉ mất đi nguồn nhân lực chất lượng cao mà còn bỏ lỡ cơ hội phát triển từ chính những tài năng mình đã đào tạo, thu hút được.


Điểm nghẽn thứ ba được Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn chỉ ra là chính sách đãi ngộ chưa tương xứng với tài năng và giá trị đóng góp. Theo ông, đã trọng dụng nhân tài phải gắn liền với đãi ngộ phù hợp, phải có chính sách đãi ngộ riêng biệt với thứ bậc như trong bộ máy chính quyền của hệ thống chính trị nước ta hiện nay.


Một chuyên gia giỏi không nhất thiết phải được bổ nhiệm làm lãnh đạo mới có thể nhận mức đãi ngộ cao hơn. Nếu muốn họ tập trung nghiên cứu, sáng tạo và tạo ra những công trình có giá trị lớn cho đất nước, cần có cơ chế riêng để ghi nhận năng lực và tạo điều kiện làm việc tương xứng.


“Chính sách đãi ngộ phải thay đổi hoàn toàn. Nếu không gỡ điểm nghẽn này sẽ không thể có thực sự trọng dụng tài năng trong bối cảnh hiện nay, và không thể thu hút được những tài năng người Việt ở nước ngoài về nước cống hiến”, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn nhấn mạnh.


Ông cho rằng, thông qua việc giải quyết tốt ba điểm nghẽn nêu trên ở tất cả đội ngũ lãnh đạo các cấp, nhân tài sẽ ngày càng được phát hiện nhiều hơn. Trọng dụng tốt thì nhân tài của đất nước sẽ có cống hiến tốt hơn, thực sự góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, hiện thực hóa 2 mục tiêu trăm năm: trăm năm thành lập Đảng và trăm năm thành lập nước.


Nói về cơ chế đãi ngộ nhân tài, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn nêu rõ, giá trị đóng góp của người tài là rất lớn, thậm chí có thể làm thay đổi cả một ngành, một lĩnh vực và mở ra hướng phát triển mới cho đất nước. Vì vậy, trọng dụng nhân tài không chỉ là ghi nhận năng lực của một cá nhân, mà còn là tạo điều kiện để năng lực ấy được chuyển hóa thành giá trị thực tiễn.


Đặc biệt, không nên đồng nhất tài năng với bằng cấp hay chức vụ. Một kỹ sư có năng lực sáng tạo nổi bật, trực tiếp nghiên cứu và tạo ra những sản phẩm có giá trị lớn, cần được công nhận ngay là “công trình sư” - người sáng chế ra những công trình có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Nếu làm được điều này, người tài mới được phát hiện, và khi được phát hiện và trọng dụng, họ mới phát huy hết tài năng để đóng góp cho đất nước.


Để việc trọng dụng nhân tài được thực chất, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn đề xuất Nhà nước nghiên cứu xây dựng hệ thống chức danh mới và cơ chế tiền lương riêng cho các chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt trong các lĩnh vực quan trọng. Chẳng hạn như các chức danh “công trình sư”, “kiến trúc sư trưởng”, “tổng công trình sư” trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, hoặc các chức danh tương đương trong lĩnh vực khoa học xã hội, với tiêu chí xác định rõ ràng về năng lực, phạm vi trách nhiệm và giá trị đóng góp.


Hiện nay, việc đãi ngộ trong nhiều trường hợp vẫn gắn chặt với thứ bậc chức vụ trong bộ máy hành chính của hệ thống chính trị. Muốn được hưởng chế độ cao hơn, người có chuyên môn giỏi đôi khi phải đảm nhận vị trí quản lý. Nhưng khi chuyển sang công tác quản lý, họ có thể không còn đủ thời gian và điều kiện để tập trung nghiên cứu, sáng tạo, phát huy năng lực chuyên môn.


Vì vậy, Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn cho rằng cần có những chức danh chuyên môn được thiết kế phù hợp dành cho các nhà khoa học trong từng lĩnh vực, đi kèm chế độ tiền lương, thưởng, phụ cấp, điều kiện làm việc và cơ chế ghi nhận thành tích tương xứng, tách riêng với thứ bậc tiền lương của hệ thống chính trị như hiện nay. Khi đã có thứ bậc tiền lương riêng cho các nhà khoa học, đó cũng là thể chế hóa chủ trương trọng dụng nhân tài của Đảng, tạo điều kiện để người tài góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.


Theo Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, trọng dụng nhân tài là khâu có ý nghĩa quyết định đối với việc phát huy trí tuệ con người Việt Nam. Việt Nam không thiếu nhân tài, nhưng để biến họ từ nhân tài thành hiền tài mới là điều khó. “Hiền tài là những người đem tài năng của mình phục vụ cho xã hội, phục vụ cho đất nước, góp phần đưa đất nước phát triển. Trọng dụng tốt chính là biến nhân tài thành những hiền tài, và một đất nước có nhiều hiền tài thì đất nước đó sẽ phát triển nhanh, thu hẹp được khoảng cách phát triển, tiến tới sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới”, nguyên Cục trưởng Cục Tuyên huấn khẳng định.


#HSV

#HSVCHINHTRI 

#TrongDungNhanTai

#HoiNghiTrungUong4

#HNTW4

#TongBiThu

#ChuTichNuoc

#ToLam