13/8/26

MẠNG XÃ HỘI : TRAI THÌ “MÕM” - GÁI THÌ “ KHOE HÀNG”

 

Mạng xã hội bây giờ có một cảnh khá trớ trêu: đàn ông thì thích làm “giang hồ mõm”, đàn bà thì thi nhau khoe body để câu view. Một bên lấy sự hung hăng làm thương hiệu, một bên lấy cơ thể làm công cụ quảng cáo. Cuối cùng, mục tiêu chung vẫn là: càng nhiều người nhìn càng tốt, bán được hàng là thành công.


Khoe đẹp không có gì sai. Chăm sóc cơ thể càng không đáng chê. Nhưng khi gần như không còn gì để khoe ngoài da thịt, khi mỗi video phải cố hở thêm một chút, tạo dáng thêm một chút, uốn éo thêm một chút để đổi lấy vài nghìn lượt thích, thì đó không còn là vẻ đẹp. Đó là sự biến cơ thể thành món hàng câu kéo sự chú ý.


Đáng buồn là có những người phụ nữ có học thức, có công việc, có gia đình, nhưng lên mạng lại tự biến mình thành một “tấm biển quảng cáo biết đi”: ngực, mông, eo trước; sản phẩm phía sau; còn giá trị nội dung thì gần như bằng không. 


Nhiều những diễn viên, người mẫu, MC hay khoe “loa độ” nhìn chẳng khác gì những món hàng rẻ tiền ở Thái Lan. Chẳng lẽ phụ nữ hiện đại không còn gì đáng tự hào hơn vài centimet vòng eo, một bộ ngực hay một tấm ảnh hở hang.?


Cũng như đàn ông, bản lĩnh không nằm ở việc nói mình là đại ca. Phụ nữ có giá trị cũng không nằm ở việc thiên hạ đã nhìn thấy bao nhiêu phần cơ thể.  View có thể mua bằng sự phản cảm. Đơn hàng có thể kiếm bằng scandal. Nhưng lòng tự trọng thì không thể livestream để bán.


Một xã hội tử tế không cần những “giang hồ mõm” hay những “ngôi sao khoe thân”. Xã hội cần những con người có tri thức để nói, có tài năng để làm, có nhân cách để khiến người khác tôn trọng.


Bởi đến cuối cùng, thứ khiến một người phụ nữ được nể không phải là cô ấy khoe được bao nhiêu body, mà là khi bỏ lớp son, bỏ ánh đèn, bỏ filter và tắt camera… cô ấy còn lại gì.



Lê Trung Khoa - kẻ chống phá Nhà nước trên không gian mạng



Lê Trung Khoa sinh ngày 23/9/1971, tại Thanh Hóa, quốc tịch Việt Nam; đăng ký HKTT tại số 01 ngõ 81 đường Láng, Đống Đa, TpHà Nội. Từ đầu thập niên 1990, Lê Trung Khoa cùng gia đình sang định cư tại Cộng hòa Liên bang Đức. Tại đây, ban đầu Khoa có tham gia vào một số hoạt động kinh doanh liên quan tới hệ thống máy tính tiền, sau đó Khoa thôi kinh doanh mà chỉ tập trung vào truyền thông.


Lê Trung Khoa thành lập trang mạng “thoibao.de”, tự giới thiệu mình là “nhà báo” chuyên hoạt động trong lĩnh vực tin tức - truyền thông cho cộng đồng người Việt nói chung. Trang Facebook của Lê Trung Khoa l có lượng người theo dõi lớn. Khoa lợi dụng việc định cư ở nước ngoài để vận hành hoạt động truyền thông, qua các trang website và mạng xã hội; tuyên truyền, phát tán nhiều bài viết có nội dung chống phá tình hình chính trị - kinh tế - xã hội ở Việt Nam; xuyên tạc, bịa đặt nhằm phỉ báng chính quyền nhân dân; kích động chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các chính sách của ta…Các trang mạng của đối tượng này có lượng người theo dõi tương đối lớn có cả người Việt ở trong nước và ngoài nước. Thủ đoạn của Lê Trung Khoa là hoạt động có hệ thống, sử dụng truyền thông số, mạng xã hội tác động đến nhiều người, nhiều đối tượng; Khoa lại đang được các “tổ chức phản cách mạng” chống lưng nên rất khó bắt giữ, ngăn chặn.


Lê Trung Khoa và các đối tượng giúp sức có hành vi làm, tàng trữ, phát tán và tuyên truyền các thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền, gây hoang mang trong nhân dân, nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vi phạm Điều 117 Bộ luật Hình sự: “Người nào có một trong các hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước… thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm: a) làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; b) … gây hoang mang trong nhân dân; c) … gây chiến tranh tâm lý.”… 


Việc khởi tố Lê Trung Khoa là cần thiết và phù hợp theo quy định; đồng thời gửi đi thông điệp: tự do dân chủ - tự do ngôn luận vượt ra khỏi khuôn khổ pháp luật, có tổ chức, nhằm mục tiêu chống phá Nhà nước sẽ bị xử theo pháp luật Việt Nam!

#Hvpcpd

12/8/26

Nhận diện đúng “xã hội dân sự” để đấu tranh hành vi lợi dụng chống phá Việt Nam


Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, thuật ngữ “xã hội dân sự” (XHDS) được nhắc đến ngày càng nhiều. Tuy nhiên, cùng với những giá trị tích cực, một số tổ chức, cá nhân đã lợi dụng danh nghĩa XHDS để thực hiện các hoạt động vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì vậy, nhận diện đúng bản chất XHDS và các hành vi lợi dụng là yêu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trong tình hình mới.


Quan điểm rõ ràng của Đảng, Nhà nước ta về XHDS


XHDS là thuật ngữ được nhà triết học cổ đại Hy Lạp Aristotle (384 - 332 trước Công nguyên) sử dụng đầu tiên để chỉ một cộng đồng người, trong đó công dân tự do và bình đẳng, gắn bó với nhau bằng hình thái kinh tế - xã hội nhất định.


Đến nay, do quan điểm lịch sử, chính trị, tư tưởng và đời sống xã hội, đã có hàng trăm cách hiểu khác nhau về khái niệm XHDS. Song về cơ bản, XHDS là sự vận hành của các tổ chức nằm ngoài bộ máy nhà nước, bao gồm các mạng lưới, câu lạc bộ, hiệp hội... do công dân tự lập ra để thực hiện mục đích nào đó. Đặc trưng của XHDS là nằm ngoài bộ máy Nhà nước; hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, có sự tham gia của nhiều thành phần; tự chủ, độc lập về tài chính...


Không phải mọi tổ chức XHDS đều mang tính đối lập hoặc chống Nhà nước; đã có nhiều hội, quỹ, tổ chức xã hội ở Việt Nam hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, đóng góp tích cực cho cộng đồng trong các lĩnh vực thiện nguyện, an sinh xã hội, góp phần nâng cao đời sống, đảm bảo các quyền cơ bản của công dân…


Song do tính đa dạng về lợi ích, thành phần, XHDS dễ bị các tổ chức, cá nhân thao túng, chi phối thực hiện mưu đồ chính trị, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Trong đó, lợi dụng xu thế hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng, một số tổ chức, cá nhân đã lợi dụng XHDS để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc và sự ổn định của đất nước.


Tháng 9/2000, Chủ tịch nước đã ký vào “Tuyên bố thiên niên kỷ của Liên hợp quốc”. Theo đó, Việt Nam sẽ tạo thêm cơ hội cho khu vực tư nhân, các NGO và XHDS nói chung để họ góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu và chương trình của Liên hợp quốc được qui định tại Mục 8, Điều 31, Nghị quyết số 55/2 Tuyên bố của Liên hợp quốc thông qua ngày 08/9/2000.


Đảng và Nhà nước Việt Nam nhất quán quan điểm tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền lập hội và tham gia các hoạt động xã hội đã được quy định trong Hiến pháp và pháp luật; khuyến khích các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức xã hội khác phát huy vai trò trong các hoạt động nhân đạo, từ thiện, bảo vệ môi trường, phát triển khoa học, giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khỏe và các lĩnh vực khác vì lợi ích của cộng đồng và sự phát triển bền vững của đất nước.


Pháp luật Việt Nam xác định rõ, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng quyền lập hội, quyền tự do dân chủ, quyền tự do ngôn luận hoặc danh nghĩa XHDS, “dân chủ”, “nhân quyền”, “phản biện xã hội” để tuyên truyền thông tin sai sự thật, xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc xâm phạm độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích quốc gia - dân tộc.


Đối với Đảng viên, nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV đã ban hành Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26/7/2026 về những điều đảng viên không được làm, thay thế Quy định số 37-QĐ/TW tiếp tục hoàn thiện các chuẩn mực về trách nhiệm nêu gương, giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của đảng viên; góp phần nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời phòng ngừa từ sớm, từ xa các biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và các hành vi lợi dụng danh nghĩa xã hội dân sự để vi phạm pháp luật.


Nhận thức quan điểm của Đảng, Nhà nước là cơ sở để phát huy những giá trị tích cực của các tổ chức xã hội, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, chủ động phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi lợi dụng danh nghĩa xã hội dân sự xâm phạm lợi ích quốc gia và sự ổn định của đất nước.


Nhận diện các hành vi lợi dụng danh nghĩa XHDS để chống phá Việt Nam


Lợi dụng danh nghĩa XHDS để xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc là thủ đoạn mà các thế lực thù địch và phần tử chống đối thường sử dụng nhằm từng bước tác động vào nhận thức xã hội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Một số biểu hiện cần nhận diện và cảnh giác gồm:


- Thành lập, tham gia hoặc vận động thành lập các hội, nhóm, câu lạc bộ, diễn đàn hoạt động không đúng quy định của pháp luật; núp bóng các hoạt động xã hội, từ thiện, môi trường, giáo dục, nghiên cứu hoặc hỗ trợ pháp lý… để móc nối, tập hợp lực lượng, gia tăng ảnh hưởng phục vụ mưu đồ chính trị.


- Tiếp nhận và sử dụng nguồn tài trợ từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài thiếu công khai, minh bạch hoặc vi phạm quy định pháp luật; lợi dụng các chương trình hợp tác, đào tạo, hội thảo, khảo sát, tập huấn, hội nghị, diễn đàn… để thu thập thông tin, xây dựng mạng lưới, tuyển chọn, đào tạo lực lượng phục vụ các hoạt động chống phá lâu dài.


- Lợi dụng các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, đất đai, môi trường, khiếu kiện, các vụ việc phức tạp hoặc các vấn đề “nóng” xã hội để xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động tâm lý bất mãn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và gây mất an ninh, trật tự.


- Phát tán thông tin bóp méo, sai sự thật; lợi dụng không gian mạng và các nền tảng công nghệ, truyền thông …., phát tán các thông tin, tài liệu, “công trình nghiên cứu”, văn hóa phẩm… xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước, Quân đội, lực lượng Công an nhằm kích động, tạo sự hoài nghi và làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống chính trị.


- Móc nối với tổ chức, cá nhân phản động ở nước ngoài lập các báo cáo, kiến nghị hoặc xây dựng chiến dịch truyền thông sai lệch, tìm cách quốc tế hóa các vấn đề nội bộ nhằm gây sức ép đối với Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.


- Lợi dụng, thông qua các chương trình thiện nguyện, cứu trợ, bảo vệ môi trường hoặc hỗ trợ cộng đồng lồng ghép nội dung chính trị, tuyên truyền quan điểm trái với chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước.


- Lôi kéo cán bộ, đảng viên, trí thức, văn nghệ sĩ, người có uy tín và những người có ảnh hưởng trên không gian mạng tham gia hoặc tiếp tay lan truyền các quan điểm sai trái, cổ súy tư tưởng “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”, từng bước hình thành các tổ chức đối lập dưới danh nghĩa “xã hội dân sự độc lập”.


Những hành vi vừa kể trên thường được che đậy dưới những khẩu hiệu như “xã hội dân sự độc lập”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do”, “minh bạch”, “phản biện xã hội” hoặc các hoạt động mang tính nhân văn, từ thiện, thiện nguyện, khiến người dân khó nhận biết nếu thiếu thông tin và hiểu biết pháp luật. Vì vậy, việc phân biệt rõ giữa các tổ chức xã hội hoạt động đúng pháp luật với các tổ chức, cá nhân lợi dụng danh nghĩa XHDS để chống phá, đồng thời chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh có ý nghĩa hết sức quan trọng trong bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia.


Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, phòng ngừa và đấu tranh


Bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về hội, hiệp hội, quỹ xã hội và quỹ từ thiện,… nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật thông qua tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội.


Chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời, minh bạch để định hướng dư luận, không tạo khoảng trống thông tin cho các luận điệu xuyên tạc; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý hội, quỹ xã hội và các tổ chức phi chính phủ; xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về tổ chức, nhân sự, nguồn tài trợ và hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả giám sát, phát hiện dấu hiệu vi phạm.


Đẩy mạnh giáo dục chính trị, pháp luật và kỹ năng nhận diện thông tin sai lệch, nâng cao “sức đề kháng xã hội” cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, trước các thông tin sai trái trên không gian mạng. Khi mỗi cán bộ, đảng viên và người dân có bản lĩnh chính trị, hiểu biết pháp luật và kỹ năng số, mọi âm mưu lợi dụng danh nghĩa XHDS sẽ khó có điều kiện phát huy tác dụng.


Phát huy vai trò của báo chí chính thống, lực lượng chuyên trách và từng công dân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Mỗi cán bộ, đảng viên và công dân trở thành “người gác cổng thông tin” trên không gian mạng, tăng cường kỹ năng xác minh nguồn tin, nhận diện AI, Deepfake và các thủ đoạn thao túng thông tin trên không gian mạng; chủ động kiểm chứng thông tin trước khi chia sẻ, không tiếp tay cho thông tin sai sự thật và kịp thời phát hiện, phản ánh vi phạm đến cơ quan chức năng.


Tăng cường hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và pháp luật Việt Nam; kiên quyết ngăn chặn, đấu tranh mọi sự can thiệp từ bên ngoài vào nội bộ dưới bất kỳ hình thức nào.


Đồng thời tạo điều kiện để các tổ chức xã hội hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, tham gia tích cực vào công tác an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, khuyến học, cứu trợ thiên tai… qua đó lan tỏa các giá trị tích cực, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.


Mỗi người dân không chỉ là đối tượng được bảo vệ mà còn là chủ thể tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và an ninh quốc gia trên không gian mạng.


Nhận diện đúng bản chất của XHDS, phát huy những giá trị tích cực và kiên quyết đấu tranh với mọi hành vi lợi dụng danh nghĩa XHDS để chống phá đất nước là yêu cầu khách quan, đồng thời là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mỗi công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Trung tướng Ngô Quý Đức, nguyên Cục trưởng Cục Cứu hộ - Cứu nạn Bộ Quốc phòng 

Báo CAND 

#HSV 

#HSVCHONGDIENBIENHOABINH

Nguyễn Văn Đài - ngựa quen đường cũ

 



Nguyễn Văn Đài, sinh năm 1969, tại Hưng Yên. Đài từng đi xuất khẩu lao động tại Đức năm 1989, sau đó về Việt Nam học tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, với vai trò luật sư, nhưng Đài không tập trung vào chuyên môn nghề nghiệp mà lợi dụng danh nghĩa pháp lý để phát tán các tài liệu xuyên tạc về pháp luật, cổ xúy cho tư tưởng “dân chủ đa nguyên”, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta, từ đó kích động tâm lý chống đối trong một số nhóm xã hội… 


Năm 2007, Nguyễn Văn Đài bị kết án 04 năm tù và 04 năm quản chế về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”. Sau khi ra tù năm 2013, Đài vẫn “ngựa quen đường cũ” thành lập và tham gia nhiều tổ chức bất hợp pháp. Đáng chú ý, Đài là một trong những người khởi xướng thành lập “Hội Anh em dân chủ” - một tổ chức trá hình lấy chiêu bài “bảo vệ nhân quyền” để tập hợp lực lượng, liên kết với các tổ chức phản động bên ngoài, hướng đến mục tiêu thực hiện đa nguyên, thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam.


Nguyễn Văn Đài đã tổ chức nhiều buổi gặp gỡ, tuyên truyền, thậm chí huấn luyện về “bất tuân dân sự”, cổ vũ việc chống đối chính quyền, tiếp tay cho các hành vi vi phạm pháp luật. Nhiều tài liệu, bài viết của Đài mang nội dung hô hào tập hợp lực lượng, tạo dư luận xấu trên mạng xã hội và quốc tế. Khi còn ở trong nước, Đài đã nhiều lần liên hệ, trao đổi và nhận tài trợ từ các tổ chức, cá nhân chống phá ở nước ngoài. Đài cũng gửi các báo cáo sai sự thật về tình hình nhân quyền tại Việt Nam đến các tổ chức quốc tế nhằm tạo sức ép đối với Nhà nước. Ngoài ra, Nguyễn Văn Đài còn viết nhiều bài, tham gia trả lời phỏng vấn trên các kênh truyền thông ở nước ngoài với nội dung xuyên tạc chính sách, bôi nhọ lãnh đạo, phủ nhận thành quả của chế độ… Có thể nói, ngay từ khi còn ở Việt Nam, Nguyễn Văn Đài đã không chỉ vi phạm đạo đức nghề nghiệp mà còn lợi dụng quyền tự do dân chủ để tiến hành các hoạt động có chủ đích, nhằm chống phá Nhà nước CHXHCN Việt Nam một cách công khai, có tổ chức và mang tính lâu dài.


Năm 2018, Nguyễn Văn Đài tiếp tục bị khởi tố và đưa ra xét xử về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” và bị tuyên án 15 năm tù, 05 năm quản chế. Tháng 6/2018, thông qua các “tổ chức chống lưng”, Đài đã được xuất cảnh sang Đức theo diện “tị nạn chính trị. Ngựa quen đường cũ, tại Đức, Đài tiếp tục lợi dụng quyền tự do dân chủ, vận động, tổ chức, liên kết với các tổ chức ở nước ngoài, tuyên truyền, kích động nhằm chống phá Nhà nước ta. Mọi hoạt động của Nguyễn Văn Đài “không phải đấu tranh cho dân chủ mà hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, từ một luật sư tự xưng “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền” đến kẻ chủ mưu, cầm đầu tổ chức, mạng lưới hoạt động nhằm lật thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam. Đây là hành vi đặc biệt nguy hiểm, cần thiết phải đấu tranh, trừng trị đích đáng!


Mọi hành vi chia sẻ, phán tán bài viết chống phá của Nguyễn Văn Đài; tham gia tổ chức do Đài lập ra đều là hành vi vi phạm Pháp luật Việt Nam!

#Hvpcpd

11/8/26

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHÔNG VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC”

 

Vai trò lãnh đạo của Đảng được kiểm nghiệm bởi quá trình lịch sử lâu dài, đầy khó khăn, thách thức và sàng lọc nghiệt ngã mà ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, những người cộng sản luôn thể hiện tính tiền phong, gương mẫu, sẵn sàng gánh vác mọi gian khổ, kể cả chấp nhận hy sinh xương máu để thực hiện thành công sứ mệnh thiêng liêng, trách nhiệm cao cả, hết lòng vì nước, vì dân.


Luận điệu phi khoa học, phi lịch sử và thiếu thiện chí


Trong dòng chảy thông tin hiện nay, nhất là trên không gian mạng, có những luận điệu các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và phần tử bất mãn thường xuyên tung ra không nhằm tranh luận học thuật mà gieo rắc sự nghi ngờ, phủ nhận lịch sử, chia rẽ niềm tin và làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.


Một trong những luận điệu được các đối tượng rêu rao là: “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì lợi ích quốc gia, dân tộc”. Đây là sự xuyên tạc có chủ đích, nhằm tách Đảng khỏi dân tộc, đối lập Đảng với nhân dân, phủ nhận thành quả cách mạng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, từ đó phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 


Bản chất của luận điệu này là đánh tráo khái niệm giữa việc phê bình hạn chế, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, quản lý với việc phủ nhận bản chất, mục tiêu và vai trò lịch sử của Đảng. Trong bất kỳ quốc gia nào, quá trình phát triển cũng có khó khăn, hạn chế, thậm chí có sai phạm của một bộ phận cán bộ ở một thời điểm nào đó. Nhưng lấy hạn chế cục bộ để phủ định toàn bộ con đường phát triển của đất nước là thủ pháp phi khoa học, phi lịch sử và thiếu thiện chí.


"Đảng Cộng sản Việt Nam vì lợi ích, quốc gia dân tộc” là có cơ sở lịch sử, pháp lý và thực tiễn


“Lợi ích quốc gia, dân tộc” không phải là khái niệm trừu tượng. Đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; là quyền làm chủ của nhân dân; là hòa bình, ổn định để phát triển; là đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng lên; là vị thế đất nước ngày càng được củng cố trên trường quốc tế. Xét trên những tiêu chí ấy, sự ra đời, lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn chặt với vận mệnh quốc gia, dân tộc. 


Nhìn từ lịch sử, trong tiến trình cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay, không thể tách vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khỏi các mốc lớn của dân tộc: Giành độc lập, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế và xây dựng đất nước trong điều kiện hòa bình. Thực tiễn đó chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh dân tộc mất độc lập, nhân dân chịu ách áp bức của chủ nghĩa thực dân.


Sứ mệnh lịch sử của Đảng ngay từ đầu là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Sự thật nước Việt Nam đã là nước độc lập, dân tộc Việt Nam đã được hưởng quyền tự do và hạnh phúc. Nếu Đảng không vì lợi ích quốc gia, dân tộc thì làm sao có thể quy tụ được sức mạnh của hàng triệu người Việt Nam trong các cuộc đấu tranh trường kỳ? Nếu Đảng đứng ngoài lợi ích dân tộc, thì làm sao có thể lãnh đạo nhân dân đi qua những thử thách sinh tử của chiến tranh, đói nghèo, bao vây cấm vận, khủng hoảng kinh tế-xã hội để từng bước xây dựng một quốc gia độc lập, thống nhất, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế?


Địa vị lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là ý chí chủ quan của một cá nhân hay của một lực lượng chính trị nào mà đó là kết quả của quá trình thử thách khắc nghiệt của lịch sử, là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng được kiểm nghiệm bởi quá trình lịch sử lâu dài, đầy khó khăn và sàng lọc nghiệt ngã mà bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, những người cộng sản luôn thể hiện tính tiền phong, gương  mẫu, sẵn sàng gánh vác mọi gian khổ, kể cả chấp nhận hy sinh xương máu để thực hiện thành công sứ mệnh thiêng liêng, trách nhiệm cao cả, hết lòng vì nước, vì dân.


Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã tôi luyện Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ năng lực trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, uy tín để lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.


Về cơ sở pháp lý, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”; đồng thời nêu rõ “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình” và “Các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4). Điều này xác lập cơ sở pháp lý vững chắc về vai trò lãnh đạo của Đảng với vận mệnh của quốc gia, dân tộc Việt Nam.


Đảng lãnh đạo đất nước nhưng không đứng ngoài quốc gia, không đứng trên nhân dân mà quan hệ mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự ràng buộc của pháp luật. Cũng trong Hiến pháp, đường lối đối ngoại của Việt Nam được xác định là “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” (Điều 12). Như vậy, lợi ích quốc gia, dân tộc không chỉ là một tuyên ngôn chính trị mà đã trở thành nguyên tắc hiến định trong tổ chức và vận hành chính sách đối ngoại của Nhà nước Việt Nam.


Nhìn từ thực tiễn phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã giành được độc lập, tự do; hoàn thành mục tiêu cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa đất nước từng bước phát triển theo mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, thành tựu phát triển kinh tế-xã hội trong công cuộc đổi mới là minh chứng nổi bật cho việc Đảng đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Đổi mới không phải là sự thay đổi tùy hứng mà là quyết sách có ý nghĩa lịch sử, xuất phát từ yêu cầu sống còn của đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Nhờ đổi mới, Việt Nam từ một nền kinh tế nghèo nàn, bị bao vây, cấm vận, từng bước trở thành nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng với thế giới.


Vào thời điểm Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới đạt mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 200 USD/năm và xếp trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới. 40 năm sau, Việt Nam đạt thu nhập bình quân 5.026 USD/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều còn 1,3%. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần năm 2020; chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021. So với mốc đổi mới từ năm 1986, GDP Việt Nam tăng từ 4,5 tỷ USD lên trên 514 tỷ USD, tăng hơn 114 lần; GDP bình quân đầu người từ 74 USD lên 5.026 USD, tăng gần 68 lần. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện căn bản và toàn diện. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. 


Những con số đó có ý nghĩa chính trị-xã hội sâu sắc. Tăng trưởng kinh tế không chỉ là câu chuyện GDP mà là bảo đảm an ninh lương thực, việc làm, trường học, bệnh viện, đường sá, điện lưới, internet, nhà ở, sinh kế và cơ hội vươn lên của mỗi người dân. Một đường lối lãnh đạo không vì lợi ích quốc gia, dân tộc thì không thể tạo ra sự chuyển biến sâu rộng như vậy. Một thể chế không đặt con người ở vị trí trung tâm thì không thể đưa hàng triệu người thoát nghèo, mở rộng tiếp cận giáo dục, y tế, dịch vụ công và cơ hội hội nhập. 


Tất nhiên, thực tiễn Việt Nam vẫn còn những hạn chế, bất cập cần tiếp tục hoàn thiện. Đây là quy luật tất yếu của mọi sự phát triển, bởi không có trạng thái phát triển nào hoàn hảo tuyệt đối. Trong bối cảnh phát triển mới, để bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn, phát triển nhanh và bền vững hơn, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiệu quả hơn, phòng chống tham nhũng quyết liệt hơn, hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, chăm lo đời sống nhân dân thiết thực hơn. Đó cũng là con đường để củng cố niềm tin của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ Đảng với dân tộc, Nhà nước với nhân dân.


Nhìn tổng thể, luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì lợi ích quốc gia, dân tộc” là sự xuyên tạc cả về lịch sử, pháp lý và thực tiễn. Đấu tranh phản bác luận điệu sai trái này không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm công dân của mỗi người Việt Nam yêu nước. Lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam hôm nay được thể hiện ở bản lĩnh nhận diện phải-trái, đúng-sai, là thái độ tỉnh táo trước thông tin xuyên tạc, là hành động xây dựng đất nước bằng trách nhiệm lao động, học tập, cống hiến và bảo vệ sự thật. Sự thật ấy là: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ yêu cầu của lịch sử dân tộc, tồn tại trong lòng nhân dân, lãnh đạo vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc.


Tiến sĩ ĐẶNG VIẾT ĐẠT, Phó tổng biên tập Tạp chí Thông tin khoa học chính trị, Học viện Chính trị khu vực IV

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM KHÔNG VÌ LỢI ÍCH QUỐC GIA, DÂN TỘC”


SỰ THẬT ÍT NGƯỜI BIẾT VỀ NHÓM 72 - NƠI HỘI TỤ NHIỀU NHÀ VĂN, TRÍ THỨC CÓ TƯ TƯỞNG CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC

 



Đầu tiên, trước khi giải thích rõ về nhóm này, tôi muốn nhấn mạnh quan điểm của tôi nhận định rằng: Nhóm 72 không đồng nghĩa với phản động. Họ cũng có nhiều người yêu nước, chỉ là nhận định về chính trị, quan điểm của họ đã đi nhầm đường. Sau đó có những người đã thay đổi theo thời cuộc, nhưng đa số vẫn chấp mê bất ngộ và gây ra những vấn nạn, tiếp tay cho các thế lực phản động, đặc biệt là những lùm xùm quanh vấn đề của hội nhà văn gần đây.  Cụ thể như thế nào thì xin mời mọi người đọc bài phân tích dưới đây. 


Trong đợt lấy ý kiến sửa đổi Hiến pháp 1992 vào đầu năm 2013. Ngày 19/1, 72 nhân sĩ, trí thức ký tên đầu tiên vào “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992”. Ngày 4/2/2013, đoàn 15 người do Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, dẫn đầu đã trực tiếp trao kiến nghị cùng một dự thảo Hiến pháp thay thế cho Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp. 


Về thực chất, họ đề nghị bỏ Điều 4 của Hiến pháp 1992, tức điều xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Vì vậy, đề xuất này sẽ loại bỏ địa vị lãnh đạo độc quyền được Hiến pháp quy định cho ĐCSVN và mở khả năng cho cạnh tranh chính trị/đa đảng.  


Nhóm 72 cũng đề nghị bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây không phải là “bỏ quyền quản lý quân đội của Đảng” theo nghĩa quản lý hành chính, mà là loại bỏ nguyên tắc hiến định về sự lãnh đạo/trung thành của lực lượng vũ trang đối với ĐCSVN. 


Vậy tại sao họ lại đòi hỏi như vậy thì hãy xét về bối cảnh thời điểm đó. 


Đầu những năm 2010, sức hấp dẫn của mô hình dân chủ đa đảng đang rất lớn. Đông Âu sau khi rời bỏ hệ thống xã hội chủ nghĩa đã có Ba Lan, Czech hay các nước Baltic hội nhập thành công vào Liên minh châu Âu. Indonesia sau cải cách chính trị năm 1998 vẫn giữ được tăng trưởng. Philippines bước vào giai đoạn kinh tế phát triển tương đối nhanh. Malaysia có nhiều đảng phái cạnh tranh nhưng vẫn duy trì vị thế của một nền kinh tế khá phát triển trong khu vực. Đặc biệt, làn sóng “Mùa xuân Ả Rập” năm 2011 lúc đó còn được không ít người nhìn như biểu tượng của dân chủ hóa.


Vì vậy ở năm 2013, những người thuộc nhóm 72 tin rằng chỉ cần thay đổi thể chế theo hướng đa đảng, tăng cạnh tranh chính trị thì đất nước sẽ phát triển nhanh hơn, quyền lực sẽ được kiểm soát tốt hơn và xã hội sẽ tiến gần hơn tới những quốc gia phát triển.


Nhưng lịch sử sau đó cho thấy mọi chuyện phức tạp hơn rất nhiều.


Mùa xuân Ả Rập, từng tạo ra nhiều kỳ vọng, đã dẫn Libya, Syria và Yemen vào những cuộc khủng hoảng kéo dài. Ai Cập sau cuộc cách mạng năm 2011 chưa đầy hai năm đã lại chứng kiến quân đội can thiệp vào chính trị. Ngay tại Đông Nam Á, Thái Lan – một quốc gia có hệ thống nhiều đảng và bầu cử cạnh tranh – xảy ra đảo chính quân sự năm 2014, chỉ một năm sau Kiến nghị 72. Những năm tiếp theo, chính trường Thái Lan tiếp tục trải qua hàng loạt cuộc khủng hoảng, thay đổi chính phủ và xung đột giữa các trung tâm quyền lực.


Indonesia và Philippines không rơi vào tình trạng đó, nhưng cũng không chứng minh được rằng đa đảng đương nhiên tạo ra một nền quản trị vượt trội. Indonesia vẫn phải đối diện với ảnh hưởng của các nhóm lợi ích và giới tinh hoa chính trị. Philippines tiếp tục tồn tại tình trạng các gia tộc chính trị có ảnh hưởng rất lớn. Nói cách khác, lá phiếu cạnh tranh không tự động xóa bỏ tham nhũng, lợi ích nhóm hay bất bình đẳng quyền lực.


Trong khi đó, con đường mà Việt Nam lựa chọn sau năm 2013 lại cho một kết quả đáng chú ý.


Việt Nam không thay đổi chế độ chính trị theo đề xuất của nhóm 72, nhưng cũng không đóng cửa hay trì trệ. Trái lại, đất nước tiếp tục hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, tham gia hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trở thành một trung tâm sản xuất quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu và thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài. Thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, tỷ lệ nghèo giảm mạnh và quy mô nền kinh tế Việt Nam liên tục được mở rộng.


Quan trọng hơn, trong một giai đoạn thế giới trải qua hàng loạt cú sốc – cạnh tranh Mỹ-Trung, đại dịch COVID-19, chiến tranh thương mại, xung đột địa chính trị và sự dịch chuyển chuỗi cung ứng – Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định chính trị và khả năng hoạch định chính sách dài hạn. Chính sự ổn định đó đã trở thành một trong những yếu tố giúp Việt Nam hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế.


Điều này đặt ra một câu hỏi lớn đối với tư duy của năm 2013: nếu việc duy trì một hệ thống chính trị một đảng tất yếu dẫn đến trì trệ, tại sao Việt Nam trong hơn một thập niên sau đó lại tiếp tục tăng trưởng nhanh, hội nhập sâu và nâng cao vị thế quốc tế?


Câu trả lời có lẽ nằm ở một sự thật mà lịch sử ngày càng cho thấy rõ: số lượng đảng chính trị không phải yếu tố duy nhất, thậm chí chưa chắc là yếu tố quyết định sự phát triển của một quốc gia.


Singapore là minh chứng điển hình. Quốc gia này có bầu cử nhưng một lực lượng chính trị thống trị trong nhiều thập niên, đồng thời vẫn xây dựng được một trong những nền kinh tế và bộ máy quản trị hiệu quả nhất thế giới. Ngược lại, không ít quốc gia có đầy đủ hệ thống đa đảng vẫn chìm trong tham nhũng, xung đột chính trị và phát triển trì trệ.


Điều quyết định hơn là năng lực của Nhà nước, chất lượng đội ngũ lãnh đạo, khả năng kiểm soát quyền lực, pháp quyền, giáo dục, chính sách kinh tế, khả năng chống tham nhũng và năng lực bảo vệ lợi ích quốc gia.


Điều đó không có nghĩa mọi vấn đề mà nhóm 72 từng đặt ra đều vô nghĩa. Những câu hỏi về kiểm soát quyền lực, tham nhũng, trách nhiệm giải trình hay chất lượng thể chế vẫn là những vấn đề Việt Nam phải tiếp tục giải quyết. Không một hệ thống chính trị nào có thể coi mình là hoàn thiện và không cần cải cách.


Nhưng cải cách thể chế hoàn toàn không đồng nghĩa với việc nhất thiết phải chuyển sang đa nguyên, đa đảng.


Nhìn lại từ năm 2026, điểm yếu lớn nhất trong tư duy của nhóm 72 không nhất thiết nằm ở mong muốn đất nước tốt đẹp hơn, mà nằm ở việc đặt quá nhiều kỳ vọng vào một mô hình chính trị cụ thể. Lịch sử 13 năm qua cho thấy đa đảng không phải chiếc chìa khóa vạn năng cho phát triển, cũng không phải phương thuốc tự động chữa được tham nhũng hay kiểm soát quyền lực.


Việt Nam đã không lựa chọn con đường ấy năm 2013. Và thực tế sau hơn một thập niên cho thấy đất nước không những không rơi vào trì trệ như những dự báo bi quan, mà còn tiếp tục phát triển, hội nhập và củng cố vị thế quốc tế. 


Và lịch sử cũng chứng minh, lựa chọn thể chế nào còn phải phụ thuộc vào vị trí địa lý. Không một cường quốc nào chấp nhận thể chế đối nghịch ở ngay sát sườn lại còn nắm giữ vị trí quan trọng. Hãy nhìn vào thái độ của Nga với Ukraina, Của Mỹ với Cuba là có thể hiểu. Việt Nam nằm ở ngay cửa ngõ Đông Nam Á và ảnh hưởng đến lối ra Ấn Độ Dương. Trung Quốc đã bị án ngữ lối ra Thái Bình Dương bởi Đài Loan thì làm sao có thể chấp nhận Việt Nam theo thể chế tư bản. 


Không phải tự nhiên mà chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã từng đi khắp 5 châu 4 biển lại lựa chọn Xã hội chủ nghĩa làm con đường phát triển của dân tộc. Để giành lại độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Vậy cho nên các thành viên của nhóm 72 thân mến, không giúp được thì đừng chống phá. Còn nhiều cách khác để yêu nước. 

Nguyễn Hải Long

10/8/26

Lại chụp mũ, vu cáo “đàn áp” tôn giáo, dân tộc




Tuần qua, TAND tỉnh Đắk Lắk mở phiên xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Y Nuen Ayun (SN 1967, trú xã Ea Phê, tỉnh Đắk Lắk) 7 năm, 6 tháng tù về tội “Phá hoại chính sách đoàn kết” do tham gia, điều hành tổ chức phản động núp bóng tôn giáo, xâm phạm an ninh quốc gia. Ngay sau đó, các thế lực chống phá giở chiêu trò cũ khi bóp méo bản chất vụ án, vu cáo Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, “bóp nghẹt quyền tự do” đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên…


Theo cáo trạng, từ năm 2019, dưới sự chỉ đạo của A Ga (SN 1977, đang cư trú tại Hoa Kỳ), Y Nuen Ayun tham gia thành lập và điều hành “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” nhằm tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Quá trình tham gia tổ chức, Y Nuen được giao điều hành hoạt động của “Hội thánh Tin lành đấng Christ Tây Nguyên” trong nước; tuyên truyền, phát triển tín đồ; tổ chức các buổi “thông công” trực tuyến qua Google Meet hoặc trực tiếp tại các điểm nhóm để duy trì hoạt động; đồng thời nhiều lần gửi báo cáo, tài liệu có nội dung sai sự thật cho A Ga.


Cáo trạng xác định, Y Nuen còn nhận tiền từ A Ga để phục vụ hoạt động của tổ chức với mục đích thành lập một tổ chức tôn giáo riêng, không chịu sự quản lý của Nhà nước, ý đồ tiến tới thành lập “nhà nước riêng” của người dân tộc thiểu số tại khu vực Tây Nguyên. Mặc dù nhận thức rõ việc tham gia tổ chức chưa được Nhà nước công nhận là vi phạm pháp luật, đồng thời đã nhiều lần được chính quyền địa phương và cơ quan chức năng mời làm việc, tuyên truyền, nhắc nhở, cam kết không tái phạm nhưng Y Nuen vẫn tiếp tục hoạt động trong thời gian dài, gây ảnh hưởng đến khối đại đoàn kết dân tộc.


Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Sau khi xem xét hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo cùng các chứng cứ liên quan, HĐXX tuyên phạt Y Nuen Ayun 7 năm 6 tháng tù về tội “Phá hoại chính sách đoàn kết”.


Nội dung vụ án được toà thông tin rõ trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tuy nhiên bằng chiêu trò quen thuộc, các tổ chức thù địch, phản động lại tìm cách nhào nặn, bóp méo bản chất. Trang Việt Tân rêu rao “vị mục sư bị kết án với cáo buộc núp bóng tôn giáo, tham gia tổ chức phản động để phá hoại chính sách đoàn kết”, từ đó xuyên tạc: “Những năm qua, các tín đồ tôn giáo Tin Lành, Công giáo ở Tây Nguyên bị chính quyền sách nhiễu, quấy phá. Nhóm người thường bị nhắm đến là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, họ là người yếu thế, ít tiếp xúc công nghệ nên bị đối xử bất công”…


Cùng luận điệu, trang Thoibao.de và một số trang mạng xã hội của các đối tượng chống phá ở hải ngoại tiếp tục “tẩy trắng” bản chất vụ án, cho rằng việc bị cáo Y Nuen Ayun bị kết án là “chỉ dấu của sự đàn áp tôn giáo”, “phân biệt kỳ thị vấn đề dân tộc”, “đẩy người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên vào thế kìm kẹp”… Trong khi đó, bản chất, hành vi phạm tội được nêu rõ trong cáo trạng thì các đối tượng cố tình phớt lờ, thậm chí đảo ngược hòng tạo ra cái nhìn sai trái về vụ án.


Trước đó, ngày 6/3, TAND tỉnh Gia Lai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo Rơ Châm Grông (SN 1961, dân tộc Jarai, trú tại Làng Krăi, thị trấn Phú Hòa, huyện Chư Păh) về tội “Phá hoại chính sách đoàn kết”. Theo cáo trạng, Rơ Châm Grông bị Rơ Châm Kút (hiện đang sinh sống tại Mỹ) lôi kéo tham gia vào tổ chức phản động “Tin lành Đê Ga” với tên mới là “Sang Pơpu Ana Cữ”. Được giao nhiệm vụ làm chấp sự trưởng khu vực Chư Păh, Rơ Châm Grông đã tích cực tổ chức các cuộc họp tại huyện Chư Păh và Ia Grai từ năm 2020, nhằm xây dựng tổ chức, phân công nhiệm vụ và tuyên truyền tư tưởng phản động. Trong quá trình hoạt động, bị cáo nhiều lần nhận tiền, vật chất từ bên ngoài để phục vụ cho các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, làm mất ổn định an ninh chính trị tại địa phương.


Hội đồng xét xử xác định, hành vi của Rơ Châm Grông là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến chính sách đại đoàn kết dân tộc nên tuyên phạt bị cáo 7 năm tù giam. Đối với Rơ Châm Kút – người chủ mưu, chỉ đạo và hỗ trợ tài chính cho tổ chức này – cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Gia Lai tiếp tục thu thập tài liệu, chứng cứ để xử lý theo quy định pháp luật. Ngoài ra, một số cá nhân khác có liên quan trong vụ án, do mức độ tham gia còn hạn chế, đã được bàn giao cho chính quyền địa phương để tiếp tục theo dõi, giáo dục và kiểm điểm trước cộng đồng.


Tháng 5/2025, TAND tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “Phá hoại chính sách đoàn kết” xảy ra tại huyện Krông Năng. Bị cáo trong vụ án này là Y Pŏ Mlô (tên thường gọi Ama Thơi, SN 1961, trú huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk). Theo cáo trạng, Y Pŏ Mlô từng nhận chỉ đạo của FULRO lưu vong để hoạt động chống phá ở địa phương. Tuy đã được các cấp chính quyền thường xuyên giáo dục, nhắc nhở, nhiều lần nhưng Y Pŏ Mlô không thay đổi nhận thức.


Từ năm 2023 đến tháng 8/2024, đối tượng tiếp tục liên lạc, nhận chỉ đạo của các đối tượng FULRO lưu vong để tuyên truyền, lôi kéo người khác nhằm thành lập “Nhà nước Đêga” ở Tây Nguyên. Trong thời gian này, Y Pŏ Mlô đã trực tiếp gặp gỡ, tuyên truyền xuyên tạc, kích động, gây chia rẽ giữa người dân với chính quyền và lực lượng vũ trang.


Tại phiên tòa, bị cáo Y Pŏ Mlô đã thừa nhận toàn bộ các hành vi vi phạm pháp luật, bày tỏ sự ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử tuyên phạt Y Pŏ Mlô 7 năm, 6 tháng tù về tội “Phá hoại chính sách đoàn kết”.


Qua các vụ án trên cho thấy, một số người tại khu vực Tây Nguyên đã bị các tổ chức thù địch, phản động lợi dụng lôi kéo, nhận làm “chân rết” trong nội địa để thực hiện các hoạt động móc nối, xây dựng cơ sở, tuyên truyền phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tụ tập, thực hiện các hành vi gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Đáng chú ý, khi cơ quan chức năng tuyên truyền, giải thích thì những đối tượng này vẫn bất chấp, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, việc cơ quan tiến hành tố tụng xử lý theo pháp luật hình sự là cần thiết, vừa trừng trị đối tượng phạm tội, vừa góp phần răn đe, phòng ngừa chung.


Âm mưu xuyên suốt của các thế lực thù địch, phản động ở khu vực Tây Nguyên là tuyên truyền, lôi kéo, kích động đồng bào các dân tộc đòi ly khai, tự trị, thành lập cái gọi là “Nhà nước Đêga”, “Nhà nước Đêga Cao nguyên” ở Đông Dương, tách Tây Nguyên ra khỏi đại gia đình các dân tộc và chủ quyền lãnh thổ Việt Nam; biến địa bàn Tây Nguyên thành khu vực mất ổn định, vùng “tự trị”, tiến tới thành lập “nhà nước độc lập”. Xây dựng cơ sở, hình thành nhiều điểm nóng xung đột, tạo cớ để can thiệp, hòng làm mất ổn định chính trị, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.


Thủ đoạn của các đối tượng là vu cáo, xuyên tạc, bóp méo tình hình dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, kích động đồng bào chống đối chính quyền. Lợi dụng chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta để tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp luật, nhất là đạo “Tin lành Đêga” nhằm tôn giáo hóa các vùng dân tộc. Lợi dụng hoạt động từ thiện, nhân đạo, đầu tư phát triển kinh tế xâm nhập vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xây dựng lực lượng, hỗ trợ, chỉ đạo các hoạt động chống phá, gây mất ổn định. Tuyên truyền, xuyên tạc những vấn đề lịch sử để lại để chia rẽ đồng bào các dân tộc thiểu số với người Kinh; vu cáo, xuyên tạc việc điều tra, xử lý của cơ quan chức năng trong các vụ án, vụ việc thành vấn đề tôn giáo, dân tộc, bóp méo bản chất vụ việc, kích động chống phá từ bên trong và tạo cớ kêu gọi can thiệp từ bên ngoài.


Lợi dụng các phương tiện truyền thông như TikTok, Facebook, Instagram, Twitter, Wechat, YouTube…, các tổ chức và cá nhân phản động đã lập ra nhiều diễn đàn để chống phá chính quyền, phá hoại cuộc sống bình yên của đồng bào các dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, chúng còn đăng tải các tài liệu chống phá dưới dạng “đơn thư”, “tâm thư”, “kiến nghị” – thực chất là chuyển tải quan điểm của các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị nhằm gây mâu thuẫn, hận thù dân tộc, kích động đồng bào các dân tộc thiểu số khiếu kiện đông người, gây mất ổn định chính trị, xã hội, từ đó kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp vào Tây Nguyên.


Thông qua các phương tiện truyền thông xã hội, chúng tăng cường móc nối với các tổ chức phản động ở trong và ngoài nước, cung cấp thông tin cho số cầm đầu FULRO và các hội, nhóm phản động để viết bài vu khống, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, bôi nhọ cán bộ, phá hoại công cuộc đổi mới. Lợi dụng các vụ việc phức tạp liên quan đến người dân tộc thiểu số để tuyên truyền, vu khống Đảng, Nhà nước không chăm lo đến cuộc sống của người dân nhằm lôi kéo đồng bào biểu tình, khiếu kiện kéo dài vượt cấp; thổi phồng những khuyết điểm, yếu kém trong quản lý, điều hành của hệ thống chính trị ở cơ sở nhằm làm suy giảm niềm tin, gây sự hoài nghi trong đồng bào, kích động các hoạt động khiếu kiện, chống đối chính quyền. Cùng với đó, chúng tìm cách quy chụp và quốc tế hóa các vụ việc phạm pháp thành vấn đề dân tộc, tôn giáo để kêu gọi sự can thiệp từ bên ngoài, tiến hành các vụ bạo loạn và khủng bố.


Hiện nay, tình hình kinh tế – xã hội và quốc phòng, an ninh ở Tây Nguyên đã và đang được củng cố, tăng cường. Tuy nhiên, vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, trong đó có vấn đề di cư tự do tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững, tư tưởng ly khai tự trị và ngộ nhận về “Nhà nước Đêga” vẫn tồn tại trong một bộ phận đồng bào các dân tộc thiểu số, bị các phần tử xấu lợi dụng kích động chống phá. Do đó, để phòng, chống hiệu quả âm mưu và những thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên địa bàn Tây Nguyên, cần tuyên truyền, giáo dục, vận động để mọi tầng lớp nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo hiểu rõ và nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới. Giúp nhân dân thấy rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo.


Kịp thời điều tra, xử lý những đối tượng chống phá cầm đầu, cốt cán; tạo điều kiện hoạt động cho những cơ sở tín ngưỡng phù hợp với nguyện vọng truyền thống, bản sắc của đồng bào và đúng với quy định xây dựng đời sống văn hóa, chống hủ tục ở cơ sở, địa bàn; đảm bảo cơ sở pháp lý vững chắc để đấu tranh với luận điệu xuyên tạc, vu cáo của các thế lực thù địch. Thực hiện nghiêm Quy chế dân chủ cơ sở, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; không để những tồn tại, tiêu cực dai dẳng, tích tụ gây dư luận bất bình để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc, kích động, phá hoại.


Nguyễn Thành 

Báo CAND 

#HSV 

#HSVCHONGDIENBIENHOABINH

9/8/26

BẮT TẠM GIAM ĐỐI TƯỢNG "LỢI DỤNG CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ XÂM PHẠM LỢI ÍCH CỦA NHÀ NƯỚC, QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN"

 👉 



Ngày 6/8/2026, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Thị Bích Phượng (SN 1987, trú tại số 37 Chu Mạnh Trinh, Tổ 6, phường Hội Phú, tỉnh Gia Lai) để điều tra về tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”, quy định tại Điều 331 Bộ luật Hình sự.


Trước đó, từ nguồn tin tố giác tội phạm, Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao phối hợp với Phòng An ninh điều tra Công an tỉnh Gia Lai tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ có liên quan. Qua điều tra xác định, Nguyễn Thị Bích Phượng đã tạo lập, quản lý và sử dụng 5 tài khoản mạng xã hội gồm TikTok “Phượng Nguyễn”, “Ba La Mật”, “Như Lai (Maitreya-Di Lac)”, “Phượng Nguyễn Korean” và Facebook “Phượng Nguyễn”. Trên các tài khoản này, Phượng đăng tải nhiều bài viết, video có nội dung sai sự thật, tiêu cực, công kích chính quyền, lực lượng Công an, một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và lãnh đạo tỉnh Gia Lai; sử dụng nhiều ngôn từ miệt thị, quy chụp, kích động.


Đáng chú ý, trong các bài viết, video được đăng tải, Phượng sử dụng hình ảnh, hoạt động của tổ chức, cá nhân, cơ quan chức năng gắn với một số vụ án, vụ việc phức tạp để suy diễn, quy kết trách nhiệm, thu hút sự chú ý và tạo dư luận tiêu cực.


Theo cơ quan điều tra, các nội dung trên sau khi được đăng tải đã thu hút sự quan tâm, chia sẻ trên mạng xã hội; một số đối tượng lợi dụng, sử dụng để xuyên tạc thông tin, gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gây bức xúc trong dư luận và tác động nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn.


Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Thị Bích Phượng, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã thu giữ nhiều tài liệu, tang vật có liên quan đến vụ án. Đồng thời tiến hành triệu tập 11 người có liên quan để phục vụ công tác điều tra, mở rộng vụ án.


Thượng tá Phạm Hồng Vinh – Phó Thủ tưởng Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh khuyến cáo, người dân khi tham gia mạng xã hội cần chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật; chủ động kiểm chứng nguồn tin trước khi đăng tải, bình luận hoặc chia sẻ. Người sử dụng mạng xã hội không đăng tải, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, thông tin chưa được kiểm chứng hoặc nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời không sử dụng mạng xã hội để thực hiện các hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, lợi ích của Nhà nước và an ninh, trật tự. Trường hợp phát hiện thông tin có dấu hiệu vi phạm pháp luật, người dân cần thận trọng, không tiếp tục chia sẻ, phát tán và có thể thông báo cho cơ quan chức năng để được tiếp nhận, xử lý theo quy định. Các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, tùy tính chất, mức độ, hậu quả và các tình tiết liên quan, sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

7/8/26

TỰ SOI, TỰ SỬA – THƯỚC ĐO BẢN LĨNH VÀ TRÁCH NHIỆM NGƯỜI ĐẢNG VIÊN

 Sau nhiều nhiệm kỳ thực hiện, Quy định về 19 điều đảng viên không được làm đã chứng minh được giá trị trong thực tiễn. Vì vậy, lần sửa đổi này không thay đổi kết cấu, vẫn giữ nguyên 19 điều và ba nhóm nội dung, nhưng bổ sung nhiều hành vi mới để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, đồng bộ với các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.


Điểm nổi bật của Quy định lần này là đã đưa không gian số và tr.í t.uệ nh.ân t.ạo trở thành một nội dung quản lý của kỷ luật Đảng. Lần đầu tiên, quy định đảng viên không được sử dụng hạ tầng Internet, mạng xã hội, nền tảng số, tr.í t.uệ nh.ân t.ạo để tạo lập, phát tán thông tin sai sự thật. Đồng thời, Quy định cũng bổ sung hành vi trực tiếp hoặc cổ súy cho việc sáng tác, sản xuất, phát hành các sản phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chống phá chế độ.


Sự bổ sung phù hợp với thực tế, mặt trận tư tưởng ngày nay không còn chỉ tồn tại trên phương tiện thông tin truyền thống mà đã chuyển mạnh lên môi trường số. Khi công nghệ ngày càng phát triển, trách nhiệm của người đảng viên trên không gian mạng cũng phải được nâng lên tương xứng. Không để đảng viên tùy tiện chia sẻ thông tin sai lệch, tiếp tay cho tin giả hay cổ súy những nội dung chống phá trên môi trường số.


Chủ động chia sẻ các thông tin chính thống, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các gương người tốt, việc tốt. Chủ động tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xuyên tạc trên không gian mạng.


Trong bối cảnh ch.uyển đ.ổi s.ố quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, xây dựng hình ảnh người đảng viên trên môi trường số đang được coi là một nội dung của công tác xây dựng Đảng. Thời đại số đặt phẩm chất đảng viên trước những thách thức mới: đó là việc "giữ mình" trước những cám dỗ của lượt thích, lượt chia sẻ và sức ép của dư luận mạng. Đồng thời, còn phải trở thành "người gác cổng" thông tin, góp phần hình thành một không gian mạng lành mạnh, văn minh và đáng tin cậy. Phẩm chất đảng viên không chỉ mẫu mực ngoài đời thực mà còn là trách nhiệm trên môi trường số, không chỉ tránh điều sai mà còn chủ động lan tỏa điều đúng, bảo vệ sự thật và góp phần xây dựng niềm tin xã hội trong kỷ nguyên số.


Một bổ sung khác trong Quy định 19 điều của đảng viên rất sát với thực tiễn quản trị hiện nay là việc nghiêm cấm các hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn trong giải quyết thủ tục hành chính; né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm; nói không đi đôi với làm; làm việc cầm chừng, chậm trễ trong tham mưu và thực hiện nhiệm vụ.


Không ít cán bộ, đảng viên thời gian qua đã có các biểu hiện chậm trễ, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, coi như đó đã làm tốt việc “giữ mình”. Nhưng phẩm chất công vụ không phải chỉ là việc không làm sai, không tham ô, tham nhũng mà phẩm chất còn biểu hiện ở việc chủ động, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Vì thế, lần này, trong 19 điều Quy định đã đưa những biểu hiện trì trệ vào nhóm những điều đảng viên không được làm.


Quy định 19 điều đối với đảng viên không phải là sự cực đoan chỉ siết chặt kỷ luật, mà Quy định vẫn nhất quán tinh thần khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ cán bộ năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Nhưng Quy định đã bổ sung việc cấm lợi dụng cơ chế thí điểm, chính sách đặc thù hay chủ trương bảo vệ cán bộ đổi mới để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.


Đây là sự phân định rất rõ giữa sáng tạo vì lợi ích chung và lợi dụng sáng tạo để hợp thức hóa sai phạm. Khuyến khích đổi mới không có nghĩa là buông lỏng kỷ luật, ngược lại, càng trao quyền thì càng phải kiểm soát quyền lực.


Nhiều điểm mới trong Quy định như đảng viên không được thờ ơ, vô cảm trước cái sai, không được lợi dụng chính sách dân tộc để trục lợi hay các hành vi như giải trình không trung thực nguồn gốc tài sản, trốn thuế, lừa đảo, tẩu tán tài sản, hợp thức hóa sai phạm hay không chấp hành kết luận của cơ quan có thẩm quyền... cũng được bổ sung.


Những quy định này cho thấy chuẩn mực của người đảng viên ngày càng toàn diện hơn, đặc biệt là đề cao trách nhiệm xã hội và tính nêu gương trong mọi hành vi. Khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ cũng cao hơn trước. Quy định mới về 19 điều đảng viên không được làm là thước đo bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên. Khi mỗi người biết tự soi mình trước những chuẩn mực ấy, kỷ luật của Đảng sẽ trở thành sức mạnh nội sinh để xây dựng một Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng kỳ vọng của nhân dân trong giai đoạn phát triển mới của đất nước./.

 Đại Đoàn Kết


4/8/26

'Tình hình càng phức tạp càng phải bình tĩnh, chủ động, tuyệt đối không co lại'


👉Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý tình hình thế giới càng phức tạp thì càng phải bình tĩnh, chủ động, tuyệt đối không co lại; tự tin nhưng không chủ quan, mạnh dạn nhưng không phiêu lưu; mềm dẻo mà giữ vững nguyên tắc.

Sáng 1/8 vừa qua, phát biểu tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết, hội nghị lần này có ý nghĩa rất đặc biệt, vượt ra khỏi khuôn khổ của một hội nghị của ngành.

Nhìn nhận từ hội nghị Ngoại giao lần thứ 32 đến nay, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho biết, thế giới biến động nhanh, phức tạp; nếu không nhanh chóng và kịp thời, sẽ mất thời cơ. Trong hoàn cảnh đó, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế vẫn được triển khai một cách chủ động, đồng bộ và đạt được nhiều kết quả.

👉Vui mừng với những kết quả đã đạt được nhưng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng không được bằng lòng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước phân tích tình hình thế giới đang chuyển dịch nhanh, hết sức phức tạp. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt. Kinh tế, thương mại, công nghệ, dữ liệu, năng lượng và chuỗi cung ứng ngày càng gắn chặt với chính trị, an ninh. Xung đột còn kéo dài, luật pháp quốc tế và các thể chế đang chịu nhiều sức ép.

👉Khoa học và công nghệ đang làm thay đổi phương thức sản xuất và quản trị. Trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, hạ tầng số, năng lượng mới vừa mở ra cơ hội nhưng cũng tạo ra những rủi ro mới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng, quốc gia nào làm chủ công nghệ và nhân lực chất lượng cao sẽ có lợi thế; quốc gia nào chậm chuyển đổi có thể bị tụt hậu.

👉Tuy nhiên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhìn nhận, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là nguyện vọng chung. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, ASEAN giữ vai trò quan trọng, nhiều nước muốn mở rộng quan hệ với Việt Nam.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, thành tựu 40 năm đổi mới và uy tín quốc tế đã tạo cho nước ta những điều kiện mới. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng lớn mạnh, tiềm năng đóng góp ngày càng cao.

"Vấn đề là phải nhận ra được cơ hội sớm và biến cơ hội thành kết quả. Chúng ta không thể ngồi chờ thuận lợi đến, cũng như không thể chỉ ngồi xử lý khi tình huống đã xảy ra. Tình hình càng phức tạp thì càng phải bình tĩnh, chủ động, tuyệt đối không co lại; tự tin nhưng không chủ quan, mạnh dạn nhưng không phiêu lưu; mềm dẻo mà giữ vững nguyên tắc; mở rộng hợp tác đồng thời củng cố tự chủ chiến lược, nội lực và khả năng chống chịu...", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ.

👉Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, thế giới thay đổi nhanh, tư duy chậm đổi mới thì hành động sẽ chậm.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước gợi mở nghiên cứu phải tập trung vào những vấn đề tác động trực tiếp, lâu dài đến an ninh và phát triển của Việt Nam như điều chỉnh chiến lược của các nước lớn; chuyển dịch các trung tâm kinh tế, công nghệ và quyền lực; biến động về thương mại, tài chính, năng lượng, nguồn nước.

Trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, kinh tế số, chuyển đổi xanh, an ninh mạng và an ninh dữ liệu phải được nghiên cứu sớm, có chiều sâu. Công tác nghiên cứu cần đặc biệt chú trọng nhận diện cơ hội và đề xuất hành động cụ thể.

Đổi mới tư duy đòi hỏi bản lĩnh trong kiến nghị, đề xuất. Cán bộ tham mưu phải dám nêu vấn đề, bảo vệ kiến nghị đúng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình.

👉Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, thế và lực mới đòi hỏi tâm thế tự tin, chủ động, có trách nhiệm, nhưng luôn chân thành, khiêm tốn và tôn trọng đối tác.

👉Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, làm sâu sắc và nâng cao hiệu quả các mối quan hệ đối ngoại. Các khuôn khổ quan hệ đã thiết lập, nâng cấp phải được cụ thể hóa bằng chương trình hành động và dự án có kết quả đo đếm được.

"Nâng cấp quan hệ là mở ra một chặng đường mới, không phải là hoàn thành công việc. Sau mỗi chuyến thăm cấp cao phải có kế hoạch triển khai; mỗi thỏa thuận phải rõ cơ quan chủ trì, trách nhiệm, tiến độ và cách kiểm tra", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước phân tích.

👉Trong mọi mối quan hệ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý cần coi trọng lòng tin, sự chân thành và lợi ích lâu dài; xử lý thỏa đáng khác biệt, không để một vấn đề riêng lẻ ảnh hưởng toàn bộ quan hệ. Hiệu quả của quan hệ không nằm ở tần suất tiếp xúc hay tên gọi khuôn khổ. Thước đo chính là môi trường hòa bình được củng cố, lợi ích đất nước được bảo vệ, thị trường được mở rộng, dự án được hình thành, công nghệ và nhân lực được nâng lên, nhân dân được hưởng lợi.

👉Mọi hoạt động đối ngoại phục vụ đất nước, nhân dân

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị, mỗi cơ quan đại diện phải hiểu nhu cầu của đất nước, thế mạnh địa bàn, tìm đúng đối tác và theo sát công việc. Các bộ, ngành, địa phương phải chuẩn bị dự án, cơ chế, mặt bằng, nhân lực và điều kiện tiếp nhận.

"Cơ hội bên ngoài chỉ trở thành nguồn lực khi bên trong sẵn sàng", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.

👉Ngoại giao khoa học, công nghệ phải trở thành nhiệm vụ thường xuyên. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước định hướng xây dựng mạng lưới đối tác công nghệ, kết nối viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và chuyên gia; theo dõi xu hướng, tiêu chuẩn, chính sách mới; đưa tri thức và công nghệ phù hợp về nước.

Ngoại giao không chỉ tìm vốn mà còn phải tìm tri thức, người tài và cách làm hay. Cùng với đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu nâng cao chất lượng công tác người Việt Nam ở nước ngoài, ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại, lãnh sự và bảo hộ công dân.

👉Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, dịch vụ lãnh sự phải thuận tiện, minh bạch; bảo hộ công dân phải nhanh, đúng, có trách nhiệm. Mọi hoạt động đối ngoại đều phải phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.

👉Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ rõ, nâng tầm đối ngoại đa phương và triển khai hội nhập quốc tế toàn diện, đồng bộ, hiệu quả. Hội nhập sâu nhưng không phụ thuộc; mở cửa nhưng giữ vững tự chủ; tiếp thu tinh hoa thế giới để làm giàu bản sắc và sức mạnh Việt Nam.

Đặc biệt, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

"Nghị quyết hay, cơ chế tốt mà cán bộ không nắm chắc, thiếu trách nhiệm, ngại phối hợp thì công việc vẫn trì trệ", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ đạo.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ đạo cần làm tốt từ khâu tuyển chọn, đào tạo, đánh giá đến bố trí, sử dụng; lấy phẩm chất, năng lực và kết quả công việc làm thước đo; sớm hình thành đội ngũ chuyên gia giỏi về những địa bàn trọng yếu và lĩnh vực mới.

#994B


3/8/26

Tuyên phạt bị cáo Đoàn Bảo Châu 7 năm tù vì tuyên truyền chống Nhà nước

 



Hội đồng xét xử khẳng định,  hành vi của Đoàn Bảo Châu đã xâm phạm an ninh quốc gia, gây mất an ninh trật tự, bức xúc trong nhân dân nên tuyên phạt bị cáo Châu 7 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ngoài hình phạt tù, bị cáo Châu còn bị áp dụng 5 năm quản chế sau khi mãn hạn tù.


Ngày 3/8, TAND TP Hà Nội mở phiên tòa hình sự sơ thẩm xét xử vắng mặt bị cáo Đoàn Bảo Châu (SN 1968, trú phường Giảng Võ, Hà Nội) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.


Trước đó, ngày 2/5/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hà Nội tiếp nhận hồ sơ, tài liệu về nguồn tin tội phạm do Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao chuyển đến.


Sau khi xác minh, ngày 24/4/2025, Cơ quan An ninh điều tra đã khởi tố vụ án. Ngày 30/6/2025, Cơ quan An ninh điều tra đã khởi tố bị can, ra lệnh khám xét và lệnh bắt tạm giam đối với Đoàn Bảo Châu. Nhưng do Châu bỏ trốn nên Cơ quan An ninh điều tra ra quyết định truy nã.


Quá trình điều tra xác định, Đoàn Bảo Châu tham gia phát trực tiếp trên kênh YouTube “BBC Tiếng Việt” và tài khoản Facebook “Chau Doan” với nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân và gây chiến tranh tâm lý, có dấu hiệu phạm tội.


Theo cáo trạng của Viện KSND TP Hà Nội, khoảng năm 2007, Đoàn Bảo Châu tạo lập, quản lý và sử dụng tài khoản Facebook “Chau Doan”. Trong thời gian từ năm 2016 - 2021, Châu đã phát trực tiếp 5 video trên tài khoản Facebook này.


Ngoài ra, có một video phỏng vấn Đoàn Bảo Châu được đăng trên kênh YouTube “BBC Tiếng Việt” với tiêu đề “Lũ lụt ở miền Trung Việt Nam, xã hội dân sự vào cuộc”, được ghi hình ngày 20/10/2016.


Theo kết luận giám định của Viện Khoa học hình sự (Bộ Công an), không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong 6 video trên; giọng nói và hình ảnh của người xuất hiện trong cả 6 video cũng là của Đoàn Bảo Châu.


Kết luận giám định của Sở Thông tin và Truyền thông TP Hà Nội xác định, các video trên có nội dung “Tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân” và “Xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân”.


Theo cáo trạng, tại cơ quan điều tra, Đoàn Bảo Châu thừa nhận giọng nói và hình ảnh trong 6 video là của mình. Tuy nhiên, Châu không thừa nhận mục đích phát trực tiếp và trả lời phỏng vấn các video trên nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Sau khi Đoàn Bảo Châu bỏ trốn, Cơ quan An ninh điều tra cho biết đã áp dụng các biện pháp xác minh, vận động và truy bắt nhưng chưa có kết quả.


Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã niêm yết các văn bản tố tụng đối với Châu tại UBND phường Giảng Võ, gửi thư kêu gọi đầu thú thông qua vợ Châu, đồng thời đăng thông tin truy nã trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định.


Viện KSND TP Hà Nội xác định, Đoàn Bảo Châu là người tạo lập, quản lý và sử dụng tài khoản Facebook “Chau Doan”.


Trong quá trình sử dụng tài khoản này, Châu đã phát trực tiếp các video có nội dung bị cáo buộc tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân trên mạng xã hội Facebook nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Bị cáo Đoàn Bảo Châu không có mặt tại nơi cư trú, không có mặt theo thư kêu gọi, cơ quan điều tra không xác định được nơi ở của bị cáo. Các cơ quan tố tụng đã thực hiện đầy đủ việc tống đạt, niêm yết, thông tin công khai và nhiều lần kêu gọi Đoàn Bảo Châu đầu thú để hưởng khoan hồng nhưng bị cáo không đầu thú.


Nguyễn Hưng


Báo CAND


Bị cáo Đoàn Bảo Châu bị xét xử vắng mặt và bị tuyên phạt 7 năm tù.